TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 110: Chuối Đổ Trước Bình Minh

Ngày 03/06/2026. Đêm mùng ba tháng Sáu năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu, mưa dông đã tạnh từ sau nửa đêm. Hơi nước vẫn bốc từ đất Vỹ Dạ, mang mùi…

Nội dung chương

Ngày 03/06/2026.

Đêm mùng ba tháng Sáu năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu, mưa dông đã tạnh từ sau nửa đêm. Hơi nước vẫn bốc từ đất Vỹ Dạ, mang mùi bùn sông và lá dừa mục. Xe jeep công an nổ máy, lùi khỏi miệng kiệt, đèn vàng quét một lần qua cổng sắt rồi khuất hẳn.

Mụ Năm đứng tựa cánh cổng rỉ, nghe tiếng động cơ nhỏ dần cho đến khi chỉ còn ếch nhái kêu dưới vũng. Mụ siết chặt túi vải đựng thuốc tim và mấy tờ giấy đất trong lòng áo. Trên thềm, hai tổ tuần tra vừa dặn kỹ: khóa trái cửa trong, nghe động lạ thì gọi số Phan Khanh để lại. Mụ gật. Mụ không cãi.

Mụ bước vào trước, kiểm cửa chính. Then gỗ vẫn nguyên. Then phụ mụ gài thêm từ trong. Cửa bếp hơi lệch then, như ai vừa khép vội. Mụ không vội thắp đèn. Mụ lấy que diêm, châm ngọn đèn dầu nhỏ để trên kệ chén, ánh sáng chỉ đủ thấy nền gạch còn vệt ướt loang.

Theo thói quen cũ hơn năm mươi năm, mụ đi vòng ra góc vườn phía sau trước khi nằm. Cây chuối lá đỏ đứng sừng sững cạnh bờ tường. Thân to bằng vòng tay người lớn. Lá bản rộng màu đỏ thẫm che một khoảng tối. Buồng chuối chín bói nặng trĩu. Ba cọc tre chống thân, buộc dây mây theo kiểu mụ tự tay làm sau mỗi trận mưa lớn.

Mụ dừng chân trên mép đất nhão. Dưới ánh trăng khuyết sót lại sau dông, cọc giữa đã bị dựng lại lệch một gang. Nút dây mây quay ngược hướng tay quen của mụ. Mụ vẫn thắt nút thuận chiều kim đồng hồ, đầu dây giấu vào trong. Đêm nay đầu dây ngoe ra ngoài, nút vặn ngược.

Mụ sờ nút. Dây còn ẩm. Đất quanh gốc có vết lún bàn chân, gót hướng vào nhà, không có dấu quay ra.

Mụ không kêu. Mụ về bếp, tay run nhưng động tác dứt khoát. Mụ kéo thùng gạo sát chân tủ, lật đáy kép, nhét cuốn sổ đường dây tà vật vào khe gỗ đã lót nilon. Sổ mỏng, bìa giấy dầu, mép còn khoanh đỏ ngày mùng bốn. Mụ đậy thùng, rải lại lớp gạo đều, phủ cót tre lên như không ai đụng.

Trên bàn thờ táo quân, mụ cố ý xếp một túi giấy đựng sớ cúng cũ và vài trang chép nháp vô hại, buộc chỉ mờ cho giống sổ. Ai lục vội sẽ lấy nhầm.

Mụ đốt một nén nhang cắm vào bát hương bếp. Khói thẳng. Không gió mà nước trong chum cạnh bếp tự rung thành vòng tròn nhỏ li ti, lan ra rồi gợn lại đúng nhịp.

Mụ lấy tro nhang nguội, rắc ngang ngạch cửa bếp. Tro vừa chạm nền đã hiện dấu chân ướt: vào từ vườn, cắt ngang bếp, dừng sau cánh cửa. Không có dấu ra.

Mụ khẽ nói vào khoảng tối, giọng thấp như nói với người quen lâu ngày không gặp.

- Mi vào được thì ra cũng phải để dấu. Hay mi tưởng nhà ni không còn luật nước?

Im lặng chỉ kéo được một hơi. Nước trong chum dâng cao hơn miệng chum một đốt ngón tay rồi đổ ngược thành sợi dây trong suốt, quấn nhẹ quanh chân bàn. Từ góc tối sau vại dưa, một bóng người tách ra.

Tô.

Hắn cao hơn mụ một cái đầu, da tái xám như người ngâm nước lâu. Cổ tay trái quấn vải trắng cũ. Mắt hắn không đỏ, không trắng dã; chỉ đục như nước ao tù. Khi hắn bước, nền gạch ướt theo mà không kêu.

- Sổ. Đưa tau.

Mụ không lùi. Mụ cầm cây nhang còn cháy, đưa ngang ngực.

- Tô. Canh Thoải đoạn Bến Đập Đá. Mi bỏ quyền gọi từ năm chín mươi. Giờ mi làm chó săn cho thằng mở cửa hả?

Hắn cười khàn, tiếng cười sặc nước.

- O Bảy dạy mi nhớ tên tau cũng kỹ. Sổ đường dây. Và nói tau nghe, mụ già ni đưa thằng Khánh những chi rồi.

- Đưa chi thì đưa. Chuyện của người sống. Mi không còn là Canh Thoải để hỏi.

Tô bước tới. Mụ chỉ tay sang tủ thờ.

- Muốn tìm thì tìm. Đừng đứng chắn cửa như chủ nhà.

Hắn liếc theo hướng mụ chỉ. Đúng lúc đó, mụ dùng khuỷu tay hất chiếc chén đồng trên kệ. Chén rơi, vỡ loảng xoảng trên gạch. Tiếng đồng vang ra sân, vọng sang hàng xóm một nhịp.

Tô giận dữ. Hắn khẽ ngoắc hai ngón. Nước từ chum văng thành sợi roi, quấn chặt hai cổ tay mụ, siết ngược ra sau. Mụ bị kéo ngã quỵ bên miệng bếp. Đầu va thành lu, hoa mắt.

- La thêm lần nữa tau bẻ cổ trước khi xe tuần quay lại.

Mụ há miệng định gọi tên hắn lần nữa thì sợi nước siết chặt hơn, nước tràn vào khóe miệng, vị tanh bùn. Mụ cắn đầu ngón tay trỏ đến rách da, lấy máu điểm lên sợi nước quấn tay, đọc đúng tên thật hắn từng dùng khi còn tuần đoạn:

- Nguyễn Văn Tô. Theo luật nước Thoải, kẻ phản lời giữ bến không được giết người trên đất cạn mà không trả giá.

Sợi nước rung. Trên cổ tay Tô, dấu móc nước cũ cháy lên một vệt xám, bốc mùi thịt khét. Hắn rít lên, mặt méo. Luật vẫn còn dính vào hắn dù hắn đã bán mình.

- Mi... còn níu được tí luật cũng không cứu được mi.

Hắn dùng tay kia lục tủ thờ, quăng bát nhang, xé túi giấy. Mấy tờ sớ bay. Không thấy sổ. Hắn đập cửa tủ dưới, lật hũ đường, hũ muối. Muối trắng văng ra mép chum, gặp nước của hắn liền sủi bọt.

Mụ lợi dụng lúc hắn cúi, dùng gót chân đá đổ ghế đẩu. Ghế kêu. Hắn quay lại, tát mụ một cái bằng mu bàn tay ướt. Má mụ tê bì. Mụ vẫn nhìn hắn, máu đầu ngón tay bôi lên vạt áo làm dấu.

- Âm Vũ sai mi bịt đầu mối vì mụ giúp thằng bé. Đúng không?

- Giúp nó là tự tìm chết. Sổ đâu?

- Không có. Mụ đốt rồi.

Hắn biết mụ nói dối. Mắt hắn quét qua thùng gạo một cái nhưng không dừng; hắn tưởng mụ già không đủ sức làm đáy kép. Hắn siết sợi nước quanh cổ mụ, nâng mụ khỏi mặt đất nửa gang.

Mụ không xin. Mụ đưa hai tay đã bị trói nước cào thẳng vào cổ hắn. Móng tay già rách da, nạo được máu và một mảng da mỏng. Hắn gầm lên, ném mụ sầm xuống bậc thềm đá sau bếp.

Xương mụ kêu một tiếng. Hơi thở đứt. Hắn vẫn không có sổ. Hắn quyết định bịt miệng trước khi xe tuần tra vòng lại theo đúng nhịp một giờ.

Sợi nước siết. Mụ thấy tối dần. Trong khoảng sáng cuối, mụ không nhìn hắn. Mụ nhìn ra gốc chuối lá đỏ. Không phải chỗ giấu sổ. Là chỗ mụ chôn đứa con không kịp đặt tên mùa lụt năm bảy ba. Mụ sợ hắn lục vườn, sợ rễ bị lật. Mụ dùng hết sức còn lại bò về phía đó, tay bám đất, kéo thân già lê trên gạch ướt.

Tô hiểu nhầm.

- Đúng chỗ rồi.

Hắn bước ra vườn, giật phăng cọc tre giữa. Dây mây đứt. Thân chuối nặng buồng quả nghiêng ngay. Hắn đá gốc một cái, tưởng sẽ thấy hố giấu đồ. Đất nhão bật lên mùi chua. Không có sổ. Chỉ có rễ.

Ngoài đường vẳng tiếng động cơ xe máy tuần tra, đèn pin quét miệng kiệt. Tô đứng phắt dậy. Hắn không kịp đào. Hắn chạy vào bếp, giật túi giấy giả trên bàn thờ, nhét vào áo, rồi lao ra cửa ngách phía sau vườn dừa.

Dòng nước đen dưới chân hắn rút nhanh ra mương, chảy về hướng Bến Đập Đá, để lại mùi bùn nồng và vài vệt chân loang trên nền.

Mụ Năm nằm trên bậc thềm đá. Hơi thở ra không đều. Máu trong miệng tanh. Mụ còn nghe tiếng xe ngoài đường gần hơn. Mụ muốn kêu. Chỉ phát ra một tiếng khàn. Tay mụ vẫn nắm đất vườn, như muốn giữ lại một tấc hơi ấm.

Hình ảnh cuối không phải Tô. Là buổi chiều thằng Khánh vá mái chuồng gà sau nhà, tay bỏng nhang, mụ vừa băng vừa lỡ miệng gọi nó là con. Mụ chưa kịp đưa phong thư tận tay. Mụ đã nhét cho Bồi. Như vậy cũng được. Sổ còn trong thùng gạo. Thằng bé còn đường mà lần.

Hơi thở mụ tắt trước khi đèn pin tuần tra rọi vào cổng.

Cây chuối lá đỏ mất cọc, thân nứt một tiếng khô giữa đêm không gió. Buồng quả kéo nặng. Cây đổ rầm xuống, đè ngang khoảng thềm nơi thi thể mụ nằm, lá đỏ phủ lên nửa người như một tấm khăn lạnh.

Rễ bật khỏi đất nhão sau mưa. Một bọc vải mục màu nâu sẫm bị kéo lên theo. Vải rách. Những mảnh xương rất nhỏ lòi ra, nhỏ đến mức chỉ đủ một bàn tay bưng. Từ trong bọc, chiếc vòng bạc trẻ con đã xỉn đen lăn ra, kêu leng keng một tiếng ngắn trên đá.

Vòng lăn theo độ dốc thềm, lăn qua vệt máu loãng, rồi dừng đúng giữa vũng nước mang dấu chân Tô dưới hiên. Mặt bạc ngửa lên, hứng giọt nước cuối từ đầu lá chuối rơi xuống, tan vào dấu chân ướt chưa kịp khô.

Trong bếp, nén nhang mụ thắp nghiêng rồi tắt ngúm. Tro trên ngạch cửa vẫn giữ nguyên dấu chân một chiều. Thùng gạo đứng im. Cuốn sổ nằm dưới đáy kép, trang khoanh chín con rồng úp mặt vào gỗ, chưa ai mở.

Xa hơn một nhịp đường, tiếng xe tuần tra dừng ngoài cổng. Đèn pin quét vào. Người công an trẻ hô lên khi thấy thân chuối đổ và bàn chân mụ lộ ngoài mép lá.

Không ai kịp thấy vòng bạc đang nằm trong vũng nước của kẻ vừa rời đi. Chỉ có gió sông thổi qua hàng dừa, mang mùi bùn Đập Đá quay lại khu vườn một lần, rồi tan.

Chương khác

Xem thêm