TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 120: Bức Thư Đọc Dở
Ngày 13/06/2026. Tiếng mưa dông tháng Sáu gõ lộp bộp trên mái ngói tiệm Vong Ký, kéo theo hơi nước ẩm lạnh tràn qua bậu cửa sổ gỗ lim đã mục ruỗng. Đêm…
Nội dung chương
Ngày 13/06/2026.
Tiếng mưa dông tháng Sáu gõ lộp bộp trên mái ngói tiệm Vong Ký, kéo theo hơi nước ẩm lạnh tràn qua bậu cửa sổ gỗ lim đã mục ruỗng. Đêm ngày mười ba tháng Sáu năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu, cả thành phố Huế như chìm trong một lòng chảo nước khổng lồ. Ánh đèn dầu leo lét trên quầy chính chốc chốc lại chao đảo mỗi khi có luồng gió mạnh lùa qua khe cửa.
Bồi rụt rè đẩy phong thư bằng giấy bồi vàng đã sờn rách về phía Khánh. Trên lớp giấy vàng úa, những vệt nước mưa loang lổ làm nhòe đi nét mực tàu thô ráp của Mụ Năm. Mùi trầu không héo lẫn với mùi bùn đất ẩm ướt bốc lên từ phong bì, khiến không gian trong tiệm Vong Ký càng thêm nặng nề.
Khánh đón lấy phong thư, ngón tay hắn khẽ chạm vào lớp giấy nhám. Hơi lạnh từ phong thư truyền qua da thịt, buốt đến tận tim. Hắn nhìn thằng bé mười tuổi, mặt mũi lấm lem bùn đất từ Chợ Đông Ba về, hai ống quần học sinh còn dính đầy những vệt nước cống đen ngòm.
- Mụ Năm nhét vô áo con bữa tối mồng hai tháng Sáu, rồi con giấu kỹ trong lớp lót cặp.
Bồi lí nhí, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước ngực.
- Mụ dặn kỹ lắm, bảo phải giữ kín cho tới hết ngày mười ba tháng Sáu; nếu mụ không trở lại tiệm thì mới được đưa cho eng Khánh. Con sợ đưa sớm, Tay Tô biết đường sẽ đổi chỗ giấu bình phong, nên con im lặng tới chừ. Con không có ý giấu eng chuyện chi khác hết.
Khánh không mắng. Hắn kéo một chiếc ghế đẩu lại gần quầy, đặt hai tay lên vai Bồi để trấn an thằng bé. Hắn lấy vạt áo lau đi vệt bùn khô trên má nó, giọng mệt mỏi nhưng không có ý trách phạt.
- Ngồi xuống đi Bồi. Con làm rứa là đúng. Không có con giữ lá thư ni, có khi Tay Tô đã mang bình phong đi mất tăm rồi. Không có chi phải sợ hết.
Ông Tư chống gậy đứng bên cạnh bàn thờ khách trú, mắt nhìn chăm chăm vào phong thư giấy bồi vàng đã nhàu nát. Tiếng mưa dông ngoài kia vẫn đập liên hồi vào những tấm tôn cũ, nước sông Hương vỗ oàm oạp dưới sàn nhà rường. Ông Tư thở dài, giọng khàn đặc.
- Thằng nhỏ làm đúng lời người chết dặn. Giữ kín đầu mối rứa mới bảo vệ được tiệm, không phải nó muốn giấu để lấy lợi chi đâu. Mụ Năm trước khi đi đã tính hết đường rồi.
Phan Khanh bước lại gần quầy gỗ, đón lấy phong thư từ tay Khánh để kiểm tra. Anh dùng chiếc đèn pin nhỏ rọi kỹ phần sáp đỏ niêm phong ở mặt sau bao thư. Dấu sáp đã nứt nẻ nhưng hình con dấu triện cổ vẫn còn nguyên vẹn, chưa hề bị cạy mở.
- Dấu niêm phong còn nguyên. Đây là chứng cứ vật lý quan trọng liên quan đến vụ án mạng của bà Năm. Tôi cần lưu lại hình ảnh trước khi anh mở nó.
Phan Khanh nói rồi dùng điện thoại chụp lại từng góc của phong thư, giữ đúng quy trình bảo quản chứng cứ. Sau khi anh gật đầu, Khánh mới dùng một con dao nhỏ khẽ rạch đường sáp đỏ. Hắn rút từ bên trong ra ba tờ giấy bồi mỏng, xếp nếp cẩn thận. Tờ giấy đầu tiên sực mùi chè xanh cũ kỹ, thứ mùi quen thuộc mỗi lần Khánh ghé qua ngôi nhà rường ở Vỹ Dạ của Mụ Năm.
Khánh trải tờ thứ nhất lên mặt quầy. Đó là một bản đồ vẽ tay nguệch ngoạc nhưng cực kỳ chi tiết về chín điểm giao nhận quanh Huế. Mỗi điểm được đánh dấu bằng một ký hiệu cổ, bên cạnh ghi chú bằng những cái tên quen thuộc: Chợ Đông Ba, bến đò Vỹ Dạ, kho đá cựu hoàng, cống ngầm Bạch Đằng.
Quang đeo kính vào, cúi sát xuống mặt giấy, ngón tay anh dò theo những đường mực tàu đen.
- Chợ Đông Ba, bến đò Vỹ Dạ, kho đá cựu hoàng... Sáu điểm này trùng khớp với lộ trình của các tà vật trước đây. Âm Vũ không tự mình đi khuân đá, hắn có một mạng lưới người sống hỗ trợ vận chuyển.
Quang ngẩng đầu lên nhìn Khánh, giọng anh trầm xuống.
- Mụ Năm ghi mạng này xoay quanh mười hai vật mang dấu oan lớn dọc sông Hương. Nhưng bà ấy chưa kịp ghi đủ tên của cả mười hai vật. Bình phong Cửu Long được đánh dấu là món thứ sáu. Đây là lần đầu tiên phe Âm Vũ cướp được một tà vật ngay trong lúc mày đang tiến hành thu nhận.
Khánh im lặng nhìn ký hiệu hình chín con rồng bị khoanh một vòng mực đỏ chói. Hắn lật sang tờ thứ hai. Nét chữ của Mụ Năm ở tờ này viết vội hơn, nhiều nét sổ bị lệch như thể bà viết trong lúc tay đang run rẩy.
- Chín phiến bình phong sẽ được ghép tạm tại Bến Đập Đá đêm mười lăm tháng Sáu.
Khánh đọc thành tiếng, giọng hắn khàn đi vì lạnh.
- Chúng định rút dấu của Quan Đôi vào một vật chứa khác. Nếu quá giờ, hồn Quan Đôi sẽ bị xé làm chín mảnh theo chín phiến đá.
Tờ giấy thứ hai còn ghi rõ một lời cảnh báo lạnh gáy. Tay Tô sẽ không đòi máu hay mạng sống của Khánh để đổi lấy bình phong. Hắn cần một thứ khác: một ký ức có tên gọi và tình cảm đủ sức thay thế vật neo trong thời gian ngắn. Ký ức được chọn phải là ký ức về người mẹ nuôi của Khánh, thứ giữ chặt danh tính hiện tại của hắn trên cõi đời này.
Khánh cảm thấy lồng ngực mình thắt lại. Hắn lật sang tờ thứ ba. Tờ giấy này mỏng hơn hai tờ trước, nét chữ viết bằng mực tàu đỏ sẫm như máu khô.
- Nếu con đọc được thư ni, nghĩa là con đã bước quá nửa ra khỏi bờ người.
Khánh đọc đến đó thì khựng lại. Ngón tay hắn run lên, làm tờ giấy bồi khẽ xào xạc. Ánh mắt hắn chạm vào những dòng tiếp theo, nơi Mụ Năm viết về vết bớt đỏ hình cá trên ngực hắn. Về những giấc mơ ngập trong nước âm của sông Hương mà hắn luôn cố quên đi, và về một cái tên lạ hoắc từng gọi hắn dưới đáy nước sâu.
Hắn không muốn đọc tiếp. Hắn không thể đọc tiếp.
Khánh đột ngột gấp tờ thứ ba lại, miết chặt mép giấy như thể muốn xóa sạch những dòng chữ đỏ kia khỏi tầm mắt.
- Khánh, mày phải đọc hết.
Quang nhíu mày, tay anh đặt lên vai Khánh.
- Đây có thể là manh mối về chính cơ thể mày. Mụ Năm đã thấy những dấu hiệu đó, bà ấy muốn cảnh báo mày trước khi quá muộn. Mày không thể cứ trốn tránh mãi được.
Khánh gạt tay Quang ra, giọng hắn gắt gỏng, cố giấu đi sự hoảng loạn đang dâng lên trong lòng.
- Đọc cái chi nữa? Việc chừ là cứu Quan Đôi, lấy lại bình phong. Chuyện của tui có ra răng cũng không gấp bằng chuyện một vong hồn quan triều đình bị xé làm chín mảnh dưới sông. Tui tự biết mình là ai, không cần một lá thư của người chết chỉ dạy.
Hắn nhét tờ thứ ba vào ngăn quầy gỗ, khóa lại bằng chiếc chìa khóa đồng rỉ sét. Tiếng khóa cạch một tiếng khô khốc vang lên giữa tiếng mưa dông.
Ông Tư đứng bên cạnh không hề giật lấy lá thư hay lên tiếng giải thích thay. Ông chỉ lặng lẽ nhìn ngăn kéo vừa bị khóa, bàn tay gầy guộc siết chặt đầu gậy gỗ đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Đôi mắt già nua của ông đục ngầu, chứa đựng một nỗi u uất kéo dài suốt nhiều thập kỷ.
- Khi mô mi muốn đọc tiếp, tau sẽ ngồi cạnh mi.
Ông Tư nói, giọng trầm xuống như tiếng đất đá lở dưới lòng sông.
- Chừ mi quyết rứa thì cứ làm rứa đi. Nhưng nhớ lấy, nước sông Hương không bao giờ chảy ngược. Mi đã chọn bước đi thì không có đường quay lại đâu.
Bồi tò mò cầm phiến vảy rồng đá thanh nhỏ thu được từ Chợ Đông Ba lên. Thằng bé áp sát phiến đá lạnh ngắt vào tai, đôi mắt âm giác của nó trợn to, hai vai run bắn lên dưới lớp áo học sinh ẩm ướt.
- Eng Khánh...
Bồi nói, giọng run rẩy như sắp khóc.
- Con nghe tiếng Quan Đôi nói trong phiến đá ni. Hắn bảo mỗi ký ức bị lấy đi sẽ để lại một khoảng trống thật sự trong đầu eng. Eng sẽ quên sạch sành sanh những chuyện hồi nhỏ, quên cả mặt người đã nuôi eng lớn. Hắn bảo đừng có đổi... Hắn thà tan biến còn hơn để eng quên mất mẹ mình.
Khánh nhìn thằng bé, rồi nhìn xuống lòng bàn tay trái của mình. Hắn lấy cây bút mực đen trên quầy, chậm rãi ghi giờ hẹn lên da thịt: "23h - 15/06". Vết mực đen nổi bật trên làn da tái nhợt của hắn dưới ánh đèn dầu.
- Tui tự có cách của tui.
Khánh nói, giọng hắn lạnh tanh nhưng kiên quyết.
- Quan Đôi đã giữ nghĩa với tiệm, tiệm không thể bỏ mặc hắn.
Nước mưa từ mái ngói dột xuống, rỉ qua kẽ nứt của trần nhà rường, nhỏ từng giọt xuống mặt quầy gỗ. Nước thấm qua mép ngăn kéo chưa khóa kín hoàn toàn, tràn vào tờ thứ ba đang nằm bên trong. Dưới ánh đèn dầu leo lét, dòng chữ cuối cùng của Mụ Năm viết bằng mực tàu đỏ bắt đầu hiện xuyên qua lớp giấy gấp ngược lên. Nổi rõ mồn một trước mắt Khánh:
- Đừng để chúng lấy mất người đã dạy con gọi mình là Khánh. Khánh khóa chặt ngăn quầy lần nữa, tiếng kim loại va vào nhau nghe nhức nhối. Ngoài sân sau, cơn mưa dông trút xuống xối xả, nước mưa chảy tràn trên nền sân đá cũ, chia thành chín nhánh nhỏ ngoằn ngoèo như chín con rắn đất.
Chỉ còn tiếng gió rít qua khe cửa gỗ và tiếng nước chảy xiết. Đột nhiên, chín nhánh nước mưa trên sân đồng loạt đổi hướng. Chúng không chảy ra cống thoát nước bình thường nữa, mà cùng cuộn lại thành một dòng lớn, chảy xiết về phía hạ lưu sông Hương, hướng thẳng về Bến Đập Đá.