TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 121: Đêm Không Ai Nói
Ngày 14/06/2026. Khánh tỉnh dậy khi cái lạnh của chiếc khánh đồng đè nặng lên mu bàn tay trái. Hắn đã ngủ một mạch mười hai tiếng đồng hồ. Cổ họng khô…
Nội dung chương
Ngày 14/06/2026.
Khánh tỉnh dậy khi cái lạnh của chiếc khánh đồng đè nặng lên mu bàn tay trái.
Hắn đã ngủ một mạch mười hai tiếng đồng hồ. Cổ họng khô khốc như vừa nuốt phải một nắm tro hương, còn bả vai thì đau nhức do nằm sai tư thế trên chiếc phản gỗ đặt sau quầy chính. Khánh ngồi dậy, đưa tay lên day hai bên thái dương để xua đi cơn nhức đầu âm ỉ.
Hôm nay là ngày 14 tháng Sáu năm 2026.
Cơn mưa rào trút xuống từ đêm trước đã tạnh hẳn, chỉ còn lại tiếng nước nhỏ giọt lách tách từ mái ngói rêu phong xuống khoảng sân đá trước tiệm Vong Ký. Không khí trong tiệm ẩm ướt, nồng mùi giấy bồi cũ kỹ lâu ngày không phơi nắng, lẫn lộn với mùi rau húng héo ai đó bỏ quên trên thớt gỗ ở gian bếp phía sau.
Khánh cúi xuống nhìn mặt quầy. Phong thư bằng giấy bồi vàng của Mụ Năm vẫn nằm im lìm dưới chiếc khánh đồng xỉn màu. Ở mép dưới của phong bì, một vết ngón tay bám đất khô màu xám xịt nổi bật trên nền giấy vàng úa. Vết đất ấy nhỏ, chỉ bằng đầu ngón tay của một đứa trẻ mười tuổi.
Khánh nhìn vết đất, rồi nhìn về phía bức màn che dẫn vào kho niêm. Hắn cất giọng gọi, âm thanh khàn đặc vì thiếu nước.
- Bồi. Vào đây tui biểu.
Bức màn che khẽ động. Thằng bé Bồi bước ra, đầu tóc bù xù dựng ngược, đôi mắt có quầng thâm đậm như người mất ngủ lâu ngày. Nó đứng cách quầy gỗ hai bước chân, hai tay nắm chặt lấy gấu chiếc áo học sinh hơi ẩm, cúi đầu không dám nhìn thẳng vào Khánh.
Khánh chỉ ngón tay vào vết đất khô trên phong bì.
- Đất ni là đất sét xám dưới gốc chuối nhà Mụ Năm. Mi giấu thư của mụ từ bữa mô?
Bồi nuốt nước bọt, giọng nó nhỏ rí nhưng rõ ràng từng chữ.
- Dạ, tối mùng hai tháng Sáu. Mụ Năm qua tiệm lúc eng đang ở gian kho. Mụ nhét phong thư ni vào áo con. Mụ dặn kỹ lắm, bảo đến hết ngày mười ba tháng Sáu mà mụ chưa trở lại tiệm thì mới được đưa cho eng Khánh. Con sợ đưa sớm rồi người ta biết, người ta tới cướp mất thư nên con giấu kỹ trong lớp lót cặp. Con không có mở ra xem, cũng không dám đưa cho chú Tư.
Khánh im lặng nhìn thằng bé. Cơn giận nhen nhóm trong lòng hắn từ lúc tỉnh dậy bỗng chốc tan biến, chỉ còn lại một cảm giác bất lực len lỏi vào từng thớ thịt. Hắn vốn định mắng nó một trận vì tội giấu giếm đầu mối quan trọng, nhưng nhìn đôi vai gầy đang run lên của Bồi, hắn lại thôi. Thằng bé chỉ đang làm đúng theo lời người chết dặn. Nó đã bảo vệ bức thư này bằng tất cả sự cẩn trọng của một đứa trẻ có âm giác, giữa lúc tiệm Vong Ký đang rối ren sau cái chết của Mụ Năm.
Khánh thở dài, kéo chiếc ghế tre gần đó lại.
- Ngồi xuống đi. Qua góc bếp rót bát nước chè mà uống. Tui không trách mi. Mi giữ lời hứa rứa là tốt hơn tui nghĩ nhiều rồi.
Bồi ngước mắt nhìn Khánh, vẻ ngạc nhiên hiện rõ trên khuôn mặt lấm lem. Nó không nghĩ eng Khánh lại dễ dàng bỏ qua như vậy. Thằng bé khẽ gật đầu, lủi thủi đi về phía gian bếp sau.
Tiếng gậy gỗ gõ xuống nền nhà rường đều đặn vang lên. Ông Tư từ gian thờ phía trong chậm rãi bước ra. Chân trái của ông dạo này yếu đi trông thấy, mỗi bước đi đều phải dồn lực vào chiếc gậy tre già. Ông dừng lại bên quầy, đưa bàn tay gầy guộc, nổi đầy đồi mồi cầm lấy phong thư. Ông xoay mặt sáp đỏ nứt trên miệng bì dưới ánh đèn dầu leo lét.
- Dấu sáp ni là ký hiệu cũ của người từng làm việc với Thiên Phủ. Mụ Năm dùng dấu ni để niêm phong, nghĩa là mụ đã biết trước mình sẽ gặp chuyện chẳng lành. Mụ chuẩn bị đường lui cho bức thư, chứ không phải tự tìm cái chết.
Khánh nhíu mày.
- Ý ông là mụ biết có kẻ muốn giết mụ?
- Người của Thiên Phủ cũ luôn có tai mắt khắp nơi. Mụ Năm lại giữ nhiều bí mật về các tà vật trên sông Hương. Việc mụ bị nhắm tới chỉ là vấn đề thời gian. Kẻ ra tay chắc chắn muốn bịt đầu mối về mạng vận chuyển tà vật.
Khánh nhận lấy phong thư từ tay Ông Tư. Hắn dùng một con dao nhỏ rạch nhẹ dọc theo mép sáp đỏ, tránh làm hỏng phần giấy bồi bên trong. Hắn rút ra ba tờ giấy gấp gọn.
Trang đầu tiên được viết bằng mực tàu đen, nét chữ cứng cáp nhưng có phần vội vã. Khánh lướt mắt đọc, giọng hắn trầm xuống khi dịch lại những dòng chữ của người đã khuất.
- Mụ Năm ghi mụ đã lần theo mạng vận chuyển tà vật từ Vỹ Dạ lên đến Bến Đập Đá. Mụ xác định bình phong Cửu Long vẫn chưa bị đưa xuống Âm Hương. Khối đá vật lý của bình phong đang bị giấu ở một kho bãi gần bến sông.
Khánh dừng lại một nhịp để lấy hơi, rồi đọc tiếp.
- Thư viết kẻ giữ bình phong cần một nơi có nước giao giữa sông và đất để ghìm giữ Quan Đôi. Vong quan Nguyễn Văn Đôi II không chịu nhận chủ mới, ông ấy liên tục chống cự làm chín hình rồng trên đá rỉ máu không ngừng. Chúng phải dùng nước âm để làm dịu oan khí của ông ấy trước khi tìm cách ghi tên vào Vong Ký đen.
Khánh lật sang trang thứ hai. Nét chữ ở trang này bắt đầu nguệch ngoạc và khó đọc hơn. Nhưng khi mắt hắn chạm đến dòng chữ đầu tiên của trang thứ ba, toàn thân hắn bỗng cứng đờ.
- Còn chuyện của mi, mụ biết mi đã bước quá nửa ra khỏi bờ người. Mạch của mi có lúc ngắt mà mi không chết, bóng của mi mang mùi nước âm, và máu của mi...
Khánh đột ngột dừng lại. Hắn không đọc thành tiếng nữa. Những dòng chữ tiếp theo viết về vết bớt đỏ hình cá trên ngực hắn, về những giấc mơ ngập ngụa trong làn nước lạnh buốt của sông Hương mà hắn luôn cố tình gạt ra khỏi đầu mỗi khi tỉnh giấc.
Hắn cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại, hơi thở trở nên khó nhọc. Một nỗi sợ hãi vô hình, lạnh lẽo như nước sông mùa đông luồn vào dọc sống lưng hắn. Hắn không muốn nhìn thấy những dòng chữ đó. Hắn không muốn thừa nhận những gì Mụ Năm đã quan sát được trên cơ thể mình.
Khánh nhanh chóng gấp tờ giấy thứ ba lại, miết chặt nếp gấp rồi nhét ngược vào phong bì. Hắn đứng dậy, giọng nói cố tỏ ra bình thản nhưng không giấu được sự vội vã.
- Tui vào kho niêm kiểm tra lại mấy bó nhang trắng với đồ cúng. Trang cuối ni toàn chuyện linh tinh, không có chi quan trọng.
Quang từ cửa tiệm bước vào, trên vai vẫn còn bám vài giọt nước mưa. Anh đã nghe thấy đoạn đối thoại từ ngoài sân. Quang bước tới chặn trước mặt Khánh, ánh mắt nghiêm nghị của một người nghiên cứu lịch sử nhìn thẳng vào hắn.
- Khánh, đưa tờ giấy đó cho tau.
- Không có chi để xem hết. Toàn lời lảm nhảm của người già trước khi chết thôi.
Mụ Năm không lảm nhảm. Bà ấy đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy những thông tin ni. Mày đang trốn tránh cái gì? Vết bớt trên ngực mày đang lan rộng đúng không? Mày nghĩ mày giấu được tau với chú Tư à?
Khánh gạt tay Quang ra, giọng hắn gắt lên, lộ rõ vẻ bực dọc.
- Tau nói không là không. Việc chừ là đi cứu Quan Đôi, tìm lại bình phong Cửu Long. Chuyện của tau có ra răng cũng không gấp bằng chuyện một vong hồn quan triều đình bị giam giữ dưới bến sông. Tau tự biết mình là ai, không cần ai chỉ dạy.
Khánh đi thẳng vào kho niêm, bỏ lại Quang đứng lặng người bên quầy gỗ.
Ông Tư không can thiệp vào cuộc tranh cãi của hai người trẻ. Ông chỉ lặng lẽ nhìn theo bóng Khánh khuất sau bức màn che, bàn tay cầm gậy tre siết chặt đến mức các khớp xương nhô lên trắng bệch. Đôi mắt già nua của ông trùng xuống, chứa đựng một nỗi u uất sâu thẳm không lời nào tả xiết.
Quang thở dài, anh cúi xuống nhặt tờ giấy thứ nhất và thứ hai đang để trên bàn. Anh vuốt phẳng mép giấy bồi vàng, đưa lên gần ngọn đèn dầu đang cháy.
- Khánh, ra đây nhìn cái ni.
Khánh từ trong kho niêm bước ra, vẻ mặt vẫn còn hầm hầm nhưng chân vẫn bước về phía quầy.
Quang chỉ vào mép ngoài của tờ giấy thứ nhất. Dưới ánh sáng xuyên qua lớp giấy bồi vàng úa, chín vết kim châm nhỏ li ti hiện lên rõ ràng. Chúng không phải là những lỗ mục tự nhiên do thời gian hay gián nhấm. Các lỗ kim được châm rất đều, khoảng cách giữa các lỗ có một quy luật nhất định.
- Đây không phải là lỗ rách ngẫu nhiên.
Quang nói, giọng trầm ngâm.
- Nếu nối chín điểm ni lại với nhau theo thứ tự từ trên xuống dưới, nó sẽ tạo thành một đường cong uốn lượn dọc theo mép sông.
Quang lấy một cây bút chì, nhẹ nhàng nối các lỗ kim trên tờ giấy bồi. Khi nét chì cuối cùng hoàn thành, một sơ đồ hiện ra rõ mồn một. Đó là sơ đồ của các bậc đá phía nam Bến Đập Đá, nơi dòng nước sông Hương chảy xiết và tạo thành những xoáy nước ngầm nguy hiểm.
Cô Bảy từ ngoài ngõ đi vào tiệm, trên tay o cầm một chiếc tô đất nung chứa nước sông Hương vừa múc từ bến Tòa Khâm. O đặt tô nước lên bàn, nhìn sơ đồ chín lỗ kim rồi nhìn sang phong bì có dấu sáp đỏ nứt.
- Để o thử cái ni.
Cô Bảy nhúng đầu ngón tay vào tô nước sông, khẽ đọc một câu chú nhỏ bằng giọng Huế cổ xưa. O nhỏ một giọt nước sông Hương lên đường nứt của dấu sáp đỏ trên miệng phong bì.
Giọt nước vừa chạm vào sáp liền loang ra, sủi lên những bong bóng nhỏ màu hồng nhạt. Lớp sáp đỏ từ từ rã ra dưới tác động của nước sông và Hương Thuật. Khi lớp sáp tan đi hoàn toàn, một dòng chữ nhỏ màu đen hiện lên dưới đáy phong bì, nơi sáp từng bám chặt:
- Ba đêm trước Đoan Ngọ. Cô Bảy nhìn dòng chữ, nét mặt o trở nên nghiêm trọng.
- Đây là hạn chót của tụi hắn. Ba đêm trước Đoan Ngọ là thời điểm âm khí trên sông Hương bắt đầu biến động mạnh nhất trước khi bước vào ngày tết Đoan Ngọ. Kẻ giữ bình phong phải hoàn thành việc chuyển dấu âm của Quan Đôi trước thời gian ni. Nếu không, oan khí của chín con rồng sẽ tự phát tác, phá vỡ khối đá vật lý. Đây không phải là ngày Mụ Năm hẹn chết, mà là ngày mụ cảnh báo chúng ta phải hành động.
Khánh nhìn dòng chữ đen trên phong bì, lòng bàn tay hắn khẽ siết lại.
Đêm ngày 14 tháng Sáu năm 2026 trôi qua trong sự im lặng bao trùm lấy tiệm Vong Ký. Không ai nói với ai lời nào.
Ông Tư ngồi suốt đêm bên quầy gỗ chính. Ông không thắp thêm nhang trên bàn thờ, cũng không dùng Hương Thuật để dò tìm. Ông chỉ ngồi đó, im lặng như một bức tượng đá dưới mái nhà rường cổ kính. Bóng ông đổ dài trên vách tường theo nhịp lắc lư của ngọn lửa đèn dầu sắp cạn.
Khánh ngồi tựa lưng vào cột nhà gỗ, mắt nhìn đăm đăm ra khoảng sân sau tối om. Hắn biết mình đang đứng trước một ranh giới nguy hiểm. Những lời Mụ Năm viết trong trang thư thứ ba vẫn ám ảnh hắn. *Quá nửa khỏi bờ người.* Hắn tự hỏi cơ thể mình thực chất là cái gì, và tại sao dòng nước sông Hương lại có những phản ứng kỳ lạ với hắn đến thế. Nhưng hắn chọn cách im lặng, cất giấu nỗi sợ hãi đó vào góc tối nhất trong lòng.
Gần sáng, khi trời còn chưa hửng nắng và sương mù ngoài sông Hương vẫn còn bao phủ các ngõ kiệt của Huế, Ông Tư khẽ động đậy. Ông đưa bàn tay gầy gò đặt lên tờ giấy bồi có sơ đồ chín lỗ kim đang để trên bàn.
Ngón tay ông trượt chậm rãi từ lỗ kim thứ nhất, qua các lỗ tiếp theo, rồi dừng lại ở lỗ kim cuối cùng nằm sát mép giấy dưới. Đó là lỗ kim to nhất, được châm sâu nhất.
- Đây.
Ông Tư khẽ nói, giọng ông khàn đục như tiếng đất đá lở dưới lòng sông.
- Bậc đá thứ chín. Chỗ ni là nơi nước giao giữa sông và đất mạnh nhất ở bến Đập Đá. Kẻ giữ bình phong đang ở đó.
Khánh đứng dậy, bước đến bên quầy. Hắn kéo tờ giấy sơ đồ lại gần, áp sát phần giấy có lỗ kim thứ chín xuống mặt bàn gỗ quầy chính, đúng vị trí ngón tay Ông Tư vừa chỉ.
Mặt bàn gỗ của tiệm Vong Ký vốn là loại gỗ kiền kiền cổ, khô ráo và cứng cáp. Vậy mà ngay khi tờ giấy vừa áp xuống, từ trong thớ gỗ khô cằn dưới lỗ kim thứ chín, một giọt nước màu đen đặc rịn ra. Giọt nước không loang nhanh như nước mưa bình thường, nó đứng yên một nhịp trên mặt bàn gỗ, đặc quánh và lạnh buốt. Rồi từ từ, giọt nước thấm ngược vào thớ gỗ, tạo thành hình một nửa bàn chân trần in ngược hướng về phía sông.
Khánh chưa kịp cất tiếng gọi Ông Tư thì từ phía sau bức màn che của kho niêm, một tiếng động mạnh vang lên.
Bồi từ trên phản gỗ trong kho bật dậy. Thằng bé chạy ào ra ngoài quầy, đôi mắt âm giác của nó mở to, nhìn trân trân vào giọt nước đen đang thấm trên mặt bàn gỗ. Hai vai nó run bắn lên, môi mấp máy không ra hơi.
- Eng Khánh... Quan Đôi... Quan Đôi đang gọi.
Khánh nắm lấy vai thằng bé.
- Ông ấy gọi chi? Nói mau!
Bồi nuốt nước bọt, giọng nó khàn đặc như có nước sông tràn vào cổ họng. Nó lặp lại đúng ba chữ bằng giọng của một người đàn ông trung niên đang kiệt sức dưới đáy nước sâu:
- Đến cứu tau.