TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 127: Người Rời Tiệm, Ấn Nổi Nước

Khánh nhét hai bộ quần áo cộc vào cái ba lô vải sờn gấu, tay dừng lại ở mép lá thư của Mụ Năm. Tờ giấy bản gấp tư đã ngả màu vàng đục, mép giấy hơi sun…

Nội dung chương

Khánh nhét hai bộ quần áo cộc vào cái ba lô vải sờn gấu, tay dừng lại ở mép lá thư của Mụ Năm. Tờ giấy bản gấp tư đã ngả màu vàng đục, mép giấy hơi sun lại do hơi ẩm của đất vườn Vỹ Dạ. Hắn vuốt phẳng nếp gấp, nhét sâu vào ngăn kéo khóa trong cùng, bên cạnh tấm bùa Giáp Hương vẽ bằng chu sa đã khô.

Trên quầy gỗ, cuốn Vong Ký trắng vẫn nằm im lìm dưới chiếc khánh đồng cũ. Khánh nhìn cuốn sổ một lúc lâu, ngón tay khẽ miết lên lớp vải bọc màu trắng ngà nhưng không nhấc lên. Quy tắc của tiệm rất rõ, khi chưa được phép của người đi trước, hắn không thể tùy tiện mang cuốn sổ này ra khỏi cửa.

- Eng Khánh định đi thiệt hả eng?

Bồi đứng nép bên cánh cửa rường, hai bàn tay nhỏ bấu chặt vào bậu gỗ lên nước đen bóng. Thằng nhỏ mới sáng ra đã chạy từ dưới bếp lên, mặt mũi chưa kịp rửa sạch, vệt than củi còn lem nhem bên má. Mắt nó tròn xoe, nhìn cái ba lô lép kẹp trên vai Khánh với vẻ lo lắng hiện rõ.

Khánh kéo khóa ba lô, quay lại xoa đầu nó một cái:

- Eng đi vài bữa chứ có đi luôn mô mà mặt mày như đưa đám rứa. Sang nhà eng Quang bên Kinh Thành ở tạm cho thoáng cái đầu. Dạo ni trong tiệm ngột ngạt quá, eng ngủ không vô.

- Nhưng mà... dưới sông dạo ni lạ lắm. Con nghe tiếng nước chảy cứ rột roẹt dưới chân cầu bến Bao Vinh. Hay eng cho con đi theo với. Con nấu cơm cho eng ăn, con không đòi ăn thịt đâu.

Khánh lắc đầu, giọng nhỏ nhưng dứt khoát:

- Mi ở lại đây phụ o Bảy dọn dẹp. Có khách âm tới kiếm hay có ai mang tà vật lạ đến chuộc thì cứ ghi lại vào tờ giấy lót dưới bát hương khách trú. Eng đi nhưng điện thoại vẫn mở, có việc gì cứ réo.

Tiếng gậy gỗ gõ cộc cộc xuống nền gạch hoa làm cả hai quay đầu lại. Ông Tư bước ra từ gian buồng tối phía sau. Chân trái của ông dạo ni yếu hẳn, mỗi bước đi đều phải tì nửa trọng lượng cơ thể vào cây gậy tre già. Gương mặt ông xám ngoét như người mất máu lâu ngày, hai quầng mắt trũng sâu dưới đôi chân mày bạc. Ông không nhìn Khánh, chỉ đi tới bên ban thờ, rút từ trong ống tre ra một nén nhang màu đen xỉn, không có tăm nhang đỏ như loại thường.

- Nhang niêm tau ủ dưới tro bếp đủ bốn mươi chín ngày. Cầm lấy.

Ông Tư đặt nén nhang lên mặt quầy, đẩy về phía Khánh. Giọng ông khàn đặc, nghe như tiếng hai mảnh ngói khô cọ vào nhau.

Khánh không cầm ngay. Hắn nhìn nén nhang đen, rồi ngước mắt đối diện với người đàn ông đã nuôi nấng mình suốt hai mươi ba năm qua:

- Chú Tư, tui hỏi thiệt một câu. Tên Tích là ai?

Khoảng sân nhỏ trước tiệm bỗng im phăng phắc. Tiếng nước sông Hương vỗ oàm oạp vào chân cọc tre dưới bến nghe rõ mồn một. Ông Tư đứng lặng, bàn tay giữ đầu gậy tre khẽ run lên một nhịp rất nhẹ. Ông nhìn ra khoảng sân nơi cây khế đang mùa rụng lá, giọng nói chùng xuống:

- Tau đã nói rồi. Cái tên đó nặng lắm. Thân xác mi chừ chưa gánh nổi cái tên đó đâu. Vết bớt trên vai mi còn đỏ lựng lên mỗi đêm, hỏi làm chi cho nước nó nghe thấy rồi nó đòi.

- Chú cứ bắt tui chờ. Hết lần ni đến lần khác, chú đều bảo chưa đúng lúc. Mụ Năm chết rồi, bình phong cũng mất rồi. Chú tính để đến lúc tui nằm xuống dưới lòng sông kia thì mới là đúng lúc hả chú?

Khánh không gằn giọng, nhưng từng chữ nói ra đều lạnh ngắt. Hắn mệt mỏi với những lời lấp liếm của người già. Hắn muốn một sự thật rõ ràng, dù sự thật đó có thể đâm nát cái danh tính Nguyễn Vĩnh Khánh mà hắn đang mang.

Ông Tư thở dài, bả vai sụm xuống như vừa gánh thêm một bao muối ướt nước sông:

- Mi đi đi. Tau không buộc mi ở lại cái tiệm âm khí nặng nề ni nữa. Nhưng nhớ kỹ lời tau dặn, nước gọi thì đừng có đi một mình. Đi với thằng Quang, mạng nó cứng, chữ nghĩa nó nhiều, cản bớt được phong long dưới nước. Khi mô đầu óc mi nguôi ngoai, quay về đây, tau nói cho mà nghe. Một lần cho hết.

Khánh im lặng một lúc, rồi đưa tay cầm lấy nén nhang đen nhét vào túi áo khoác. Hắn nhìn thẳng vào mắt Ông Tư:

- Tui đi đây. Chú giữ sức khỏe. Lần sau tui về, tui không nghe câu "chưa đúng lúc" nữa đâu.

Hắn quay lưng bước ra khỏi ngõ kiệt Bao Vinh. Nắng tháng sáu của xứ Huế đổ xuống đầu hầm hập, nhưng cái lạnh từ phía sông Hương phả vào lưng hắn vẫn buốt đến tận xương sườn.

***

Quang đón Khánh bằng chiếc xe máy cũ kêu bành bành. Nhà Quang nằm trong một con kiệt nhỏ gần đường Nhật Lệ, bên trong Kinh Thành. Đó là một ngôi nhà rường ba gian nhỏ, xung quanh trồng toàn cây cảnh lá lớn và những giá sách gỗ ép cao đụng trần. Không khí ở đây khô ráo, thoang thoảng mùi giấy cũ và mùi trà mộc, hoàn toàn không có cái mùi ẩm mốc pha lẫn trầm hương khét lẹt như ở tiệm Vong Ký.

Quang dọn cho Khánh một căn phòng nhỏ nằm sát gian chứa tài liệu lịch sử. Căn phòng chỉ kê vừa một chiếc phản gỗ và một cái bàn tròn nhỏ.

- Mi cứ ở đây. Cơm nước tao lo. Chuyện bên Vỹ Dạ... tao không hỏi. Khi nào mày muốn nói thì nói.

Quang đặt ly nước chè xanh xuống bàn, giọng ôn tồn. Anh biết tính Khánh, khi thằng bạn đã im lặng tức là đầu óc nó đang quay cuồng với hàng trăm mối bòng bong không lối thoát.

Khánh ngồi xuống phản, dựa lưng vào vách gỗ:

- Cảm ơn mi. Ở bên nớ ngột quá. Cứ nhắm mắt lại là tao thấy mặt Mụ Năm, rồi lại thấy giọt máu của tao trôi ngược dòng về phía Cồn Hến. Tao sợ tao phát điên mất.

- Mày không điên được đâu. Kẻ điên không biết mình sợ điên.

Quang cười nhạt, vỗ vai Khánh rồi quay ra gian ngoài tiếp tục dịch đống tài liệu chữ Nôm cổ.

Khánh nằm dài trên phản gỗ. Nắng chiều xiên qua cửa sổ hoa văn chữ vạn, rọi thẳng lên vai trái của hắn. Qua lớp áo thun mỏng, hắn vẫn cảm nhận được vết bớt hình cá đỏ đang âm ỉ nóng, như thể có một đốm than hồng đang đặt trực tiếp lên da thịt. Hắn nhắm mắt lại, cố dỗ giấc ngủ nhưng trong đầu chỉ toàn tiếng nước chảy rì rào dưới gầm sàn gỗ của tiệm cầm đồ.

Giấc ngủ chập chờn kéo dài đến hơn năm giờ chiều thì bị cắt ngang bởi tiếng chuông điện thoại. Khánh giật mình ngồi dậy, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Người gọi là Phan Khanh.

- Anh Khánh, anh đang ở đâu?

Giọng Phan Khanh qua điện thoại có tiếng gió rít mạnh và tiếng sóng vỗ rì rào, chứng tỏ anh đang ở ngoài trời, gần một vùng nước lớn.

- Tôi đang ở trong Thành. Có chuyện chi không anh Khanh?

- Anh thu xếp đi với tôi xuống Phú An ngay. Có một vụ việc rất lạ dưới bến chài. Dân đi biển vừa kéo lưới được một khối ngọc cổ từ Phá Tam Giang lên. Nhưng vấn đề là người cùng thuyền với ông ta vừa kéo được ngọc lên đã ngất xỉu, đến giờ vẫn chưa tỉnh. Trước khi lịm đi, ông ta cứ lảm nhảm liên tục một câu.

Khánh nheo mắt, với lấy cái áo khoác vứt ở đầu phản:

- Người ta nói câu chi?

- Ông ta cứ gào đòi trả tên ông Hiến rồi sùi bọt mép. Tôi đang ở hiện trường. Dân làng đang vây quanh, đòi thả khối ngọc lại xuống phá vì sợ đụng chạm đến đồ của quan binh ngày xưa. Anh đi với tôi một chuyến.

Khánh cúp máy, gọi to vọng ra gian ngoài:

- Quang ơi! Có việc rồi. Đi xuống Phú An với tao.

Quang buông cây bút lông đang chấm mực xuống đĩa sứ, đứng bật dậy. Anh không hỏi nhiều, chỉ nhanh tay vơ lấy cuốn sổ tay nhỏ và cây bút bi nhét vào túi quần. Hai người vội vã dắt xe ra cổng, hướng về phía cửa Đông Ba rồi chạy thẳng xuống huyện Phú Vang.

***

Đầm phá Tam Giang lúc cuối chiều rộng mênh mông và xám xịt dưới bầu trời đầy mây giông. Gió từ biển Thuận An thổi ngược vào mang theo vị mặn chát của muối và mùi rong mục nồng nặc. Bến chài Phú An nằm nép mình bên một lạch nước lợ, nơi những chiếc ghe bầu cũ kỹ đang neo đậu san sát nhau, cột buồm lắc lư theo nhịp sóng.

Khi xe của Quang vừa trờ tới đầu bến, một đám đông khoảng ba chục người dân chài đã vây kín quanh chiếc lán tôn của đội tuần tra biên phòng cũ. Tiếng bàn tán xôn xao, người thì chắp tay vái lạy hướng ra phía mặt nước xa, kẻ thì lớn tiếng tranh cãi.

Phan Khanh đứng ở cửa lán, sắc mặt nghiêm nghị. Thấy Khánh và Quang đến, anh vội rẽ đám đông bước ra đón:

- May quá, hai anh tới rồi. Vật đang để ở bên trong. Dân họ không cho mang đi đâu hết, họ bảo ngọc này có huông, ai đụng vào là bị bắt hồn.

Khánh bước vào trong lán. Giữa nền xi măng ẩm ướt là một cái chậu nhôm lớn đựng đầy nước sông đục ngầu phù sa. Nằm chìm dưới đáy chậu là một khối ngọc màu xanh lục đậm, to bằng nắm tay người lớn. Khối ngọc có hình vuông vuông, phía trên tạc hình một con rồng uốn khúc nhưng các chi tiết đã bị mòn vẹt đi nhiều do thời gian và sức nước bào mòn.

Một người đàn ông trung niên, mặc bộ đồ đi biển chống thấm nước màu xanh rêu, đang ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm đầu run rẩy. Đó là Ba Nông, người trực tiếp kéo lưới được khối ngọc.

- Chào chú. Chú kể lại tui nghe lúc kéo được vật ni lên thì có hiện tượng chi lạ không?

Khánh quỳ một chân xuống bên cạnh Ba Nông, giọng ôn tồn hỏi.

Ba Nông ngước khuôn mặt sạm nắng, chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm nhìn Khánh, môi lập cập:

- Tui... tui với thằng Sáu đang kéo lưới đoạn gần cồn cát nổi phía ngoài phá. Lưới nặng trịch, tưởng trúng mẻ cá lớn. Ai dè kéo lên chỉ có cái khối ngọc ni nằm kẹt giữa đám rong đen. Thằng Sáu vừa thò tay gỡ nó ra khỏi mắt lưới thì mặt nó biến sắc. Nó trợn ngược mắt lên, hai tay cào cấu vào không khí rồi hét lớn: "Trả tên ông Hiến! Đừng ghi tên ông Hiến!". Rồi nó lăn ra bất tỉnh nhân sự. Tui sợ quá, phải bỏ cả lưới chạy ghe thẳng về bến ni.

Khánh nhìn sang chậu nước. Mặt nước phẳng lặng. Khối ngọc xanh lục bên dưới phát ra ánh sáng mờ đục, lạnh lẽo.

Quang bước tới sát bên chậu nhôm, nheo mắt quan sát kỹ khối ngọc:

- Khánh, nhìn kỹ xem. Dáng ấn này là ấn ngọc triều Nguyễn. Mặt đáy có khắc chữ.

Quang đưa tay định nhấc khối ngọc lên khỏi mặt nước để nhìn cho rõ phần đáy ấn. Nhưng khi ngón tay anh vừa chạm vào núm rồng phía trên, từ trong chậu nhôm bỗng vang lên một tiếng động lạ.

Âm thanh kẹt, kẹt rồi rột vang lên.

Tiếng động rè rè, sắc nhọn, nghe giống như có ai đó đang dùng một cây bút sắt nhọn cào mạnh lên mặt đá nhám. Âm thanh phát ra ngay từ bên trong lòng khối ngọc, vang lên đều đặn dưới đáy nước đục. Quang giật nảy tay lại, sắc mặt hơi biến đổi.

- Tiếng cào bút sắt...

Khánh lẩm bẩm. Hắn nhìn chằm chằm vào khối ngọc. Khi ngón tay Quang rời đi, tiếng cào cũng lập tức biến mất, mặt nước trong chậu lại trở về trạng thái phẳng lặng như tờ.

- Để tôi thử.

Khánh nói rồi chậm rãi đưa bàn tay phải của mình xuống nước. Nước sông trong chậu lạnh buốt, cái lạnh không giống như nước đá thông thường mà là cái lạnh ngấm sâu vào da thịt, làm tê dại các đầu dây thần kinh.

Khi đầu ngón tay trỏ của Khánh vừa chạm vào phần góc sứt mẻ của khối ấn ngọc, một hiện tượng kỳ dị xảy ra.

Mặt nước trong chậu nhôm bỗng nhiên gợn sóng nhẹ, dù trong lán không hề có gió. Những giọt nước sông đục ngầu bắt đầu bám vào da tay Khánh, rồi như có một lực hút vô hình nào đó dẫn dắt, dòng nước ngược chiều trọng lực, bò chậm rãi lên cổ tay hắn.

Khánh không rụt tay lại. Hắn cắn răng chịu đựng cái lạnh buốt giá đang lan dần từ ngón tay lên đến bả vai. Vết bớt hình cá đỏ trên vai hắn bỗng chốc nóng rực lên như bị dí sắt nung.

Nước bò lên cổ tay hắn, đọng lại thành những vệt nước mảnh, đan chéo vào nhau.

Quang đứng bên cạnh, mắt trợn tròn, vội vàng cúi sát xuống nhìn cổ tay Khánh. Dưới ánh đèn bão lờ mờ của lán biên phòng, những vệt nước đọng lại trên da Khánh không chảy tràn ra mà định hình rõ ràng thành một chữ Hán sắc nét.

- Chữ... chữ Tích!

Quang thốt lên, giọng lạc đi vì kinh ngạc. Anh ngẩng đầu nhìn Khánh, rồi lại nhìn xuống khối ngọc dưới chậu:

- Khánh, nét chữ này viết theo lối hành thư cổ. Đúng là chữ Tích. Răng cái ấn này lại nhận ra mày?

Khánh nhìn chữ nước trên cổ tay mình. Chữ viết bằng nước sông đục, nét vẽ sắc sảo như được viết bằng một cây bút lông điêu luyện của một ông đồ nho. Cái tên "Tích" - cái tên mà Âm Vũ đã gọi hắn ở bến Đập Đá, cái tên mà hắn tìm thấy trong gia phả nhà họ Nguyễn - giờ đây lại hiện ra từ dòng nước lạnh của Phá Tam Giang.

Khánh quay sang Phan Khanh:

- Anh Khanh, cho tui mượn cái đèn pin.

Phan Khanh vội vàng bật đèn pin điện thoại rọi thẳng vào đáy chậu nhôm. Dưới làn nước đục, phần đáy của khối ấn ngọc lộ ra những nét khắc sâu. Dù bị bùn đen đóng lâu năm trong các kẽ chữ, Quang vẫn có thể nhận ra bốn chữ triện khắc ngược ở mặt đáy.

- Đúng là ấn triều Nguyễn. Bốn chữ này là "Bảo Đại đế tỉ".

Quang vừa ghi chép vào sổ tay vừa giải thích, giọng run run vì phấn khích của một người làm nghiên cứu:

- Đây là một trong những chiếc ấn ngọc cuối cùng của triều Nguyễn. Nhưng một góc của ấn đã bị sứt mẻ rất mạnh, vết sứt này không phải do va đập tự nhiên dưới nước mà giống như bị ai đó dùng búa đập cố ý từ xưa. Kẽ chữ đóng bùn đen thế kia chứng tỏ nó đã nằm dưới đáy phá này hàng chục năm trời rồi.

Khánh không nghe rõ lời Quang giải thích nữa. Tai hắn bắt đầu lùng bùng.

Chữ nước trên cổ tay hắn vẫn chưa chịu khô. Những tia nước lạnh buốt bắt đầu thấm ngược qua các lỗ chân lông, đi sâu vào mạch máu dưới da. Cảm giác tê dại lan nhanh từ cổ tay lên đến khuỷu tay, rồi xộc thẳng vào ngực.

Từ sâu trong lòng khối ấn ngọc dưới đáy chậu nhôm, tiếng cào bút sắt lúc nãy biến mất. Thay vào đó, vang lên ba tiếng gõ nhẹ, đều đặn.

Ba tiếng cộc vang lên liên tiếp.

Tiếng gõ khô khốc, vang lên rõ ràng giữa không gian im lặng của căn lán tôn, nghe giống hệt như tiếng một ông đồ già đang gõ thước xuống bàn gỗ để gọi học trò vào lớp học chữ.

Chương khác

Xem thêm