TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 129: Nhà Cụ Ba Ở Vĩ Dạ

Ngày 21/06/2026. Ngày 21 tháng 6 năm 2026, thời tiết ở Huế oi bức đến mức người ta có cảm giác như đang hít thở trong một cái lồng hấp khổng lồ. Gió từ…

Nội dung chương

Ngày 21/06/2026.

Ngày 21 tháng 6 năm 2026, thời tiết ở Huế oi bức đến mức người ta có cảm giác như đang hít thở trong một cái lồng hấp khổng lồ. Gió từ phía cửa biển Thuận An thổi vào đất liền bị chặn lại bởi những rặng tre xơ xác dọc bờ phá Tam Giang, chỉ còn lại thứ không khí nóng hầm cập, mang theo vị mặn chát của bùn và nước lợ.

Trong căn phòng kho tạm thời của công an xã Phú An, tiếng cánh quạt trần quay lạch cạch liên hồi không xua nổi cái nóng đang bốc lên từ đống hồ sơ cũ. Khánh ngồi trên chiếc ghế đẩu gỗ sứt góc, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhìn chằm chằm vào chiếc tủ sắt chuyên dụng đặt ở góc phòng. Bên trong chiếc tủ đó, khối ấn ngọc xanh lục đã được niêm phong bằng băng keo chuyên dụng và đặt nằm im lìm trong một chậu nước phá múc từ đêm qua.

Quang vẫn cắm cúi bên cuốn sổ địa bộ cũ kỹ mượn từ văn phòng ủy ban xã. Những trang giấy bản mỏng dính, ngả màu vàng sẫm như da trâu khô, mỗi lần lật lại phát ra tiếng sột soạt khô khốc. Mùi ẩm mốc của giấy lâu năm quyện với mùi dầu máy từ chiếc quạt bàn tạo nên một thứ hỗn hợp khó ngửi.

- Tìm ra rồi.

Quang đột ngột dừng ngón tay lại ở một dòng chữ viết bằng mực tím đã phai màu.

- Lê Vĩnh Phong. Địa chỉ ở kiệt 120 Vĩ Dạ. Trong sổ ghi rõ nhà này thừa kế mảnh vườn rường của cụ Lê Vĩnh Hiến. Cụ Lê Vĩnh Hiến chính là Cụ Ba Tú Hiến, người mà dân gian vùng này hay gọi bằng cái tên Cụ Ba đồ nho.

Khánh khẽ nhúc nhích bả vai. Vết bớt đỏ hình con cá sau lưng hắn sau một đêm hành hạ giờ đã dịu đi, nhưng mỗi khi hắn cử động mạnh, lớp da non vẫn có cảm giác râm ran như bị kim châm. Hắn đứng dậy, bước lại gần bàn của Quang, liếc nhìn dòng chữ ghi địa chỉ.

- Đi liền chừ chứ?

Quang ngước lên nhìn Khánh, đẩy lại gọng kính cận.

- Mi chịu nổi không đó? Nhìn cái mặt mi xanh như tàu lá chuối rách rứa tê.

- Chịu không nổi cũng phải đi. Cái ấn nớ nằm trong tủ sắt của anh Khanh tạm thời thì yên, nhưng tui không muốn dây dưa lâu. Để lâu đêm dài lắm mộng.

Phan Khanh từ phòng bên cạnh bước vào, tay cầm tập biên bản bàn giao vật chứng. Anh nhìn hai người, giọng nói vẫn giữ nguyên vẻ lạnh lùng, chuyên nghiệp của một cảnh sát hình sự.

- Tôi đã cho người canh gác phòng vật chứng hai mươi tư trên hai mươi tư. Chiếc ấn này tuyệt đối không được mang ra khỏi đây khi chưa có lệnh chính thức. Anh Khánh, anh đi điều tra lai lịch thì đi, nhưng đừng có tự ý mang thêm thứ gì lạ về đây.

- Anh Khanh yên tâm.

Khánh uể oải đáp.

- Tui biết luật mà. Mang tà vật vào nhà dân thường chỉ có nước rước họa cho người ta. Cứ để nó ở đây cho lính của anh canh giữ là an toàn nhất.

Hai mươi phút sau, chiếc xe máy cũ của Quang nổ máy giòn giã, chở cả hai xuôi theo con đường nhựa chạy dọc đầm Sam để hướng về phía Vĩ Dạ. Nắng chiều đổ xuống mặt nước phá Tam Giang những vệt sáng lấp loáng như mỡ bò. Khánh ngồi phía sau, một tay bám vào yên xe, mắt nhìn đăm đăm xuống những vạt bèo lục bình đang trôi dạt vô định dưới chân cầu. Hắn có cảm giác như có một sợi dây vô hình đang kéo căng từ phía sau gáy mình, nối thẳng xuống lòng nước sâu của phá.

Kiệt 120 Vĩ Dạ nằm khuất sau những hàng chè tàu được cắt tỉa vuông vức. Con ngõ nhỏ hẹp, lát gạch chỉ đỏ đã lên rêu xanh rì, trơn trượt sau những trận mưa giông đầu mùa. Cuối ngõ là một ngôi nhà rường ba gian hai chái nằm lọt thỏm giữa một khu vườn rộng đầy cây ăn trái. Mùi đất ẩm, mùi lá rụng và mùi hoa bưởi non tạo nên một không gian tĩnh mịch, tách biệt hẳn với sự ồn ào của phố thị bên ngoài.

Đón hai người ở bậc thềm đá thanh là một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, dáng người gầy gò, mặc bộ đồ thun đã sờn vai. Đó là ông Lê Vĩnh Phong. Khi nghe Quang giới thiệu là người nghiên cứu lịch sử muốn tìm hiểu về gia phả của Cụ Ba đồ nho, ông Phong khẽ thở dài, chỉ tay mời hai người vào nhà.

- Mấy chục năm ni có ai hỏi han chi đến chuyện của ông nội tui nữa mô. Người làng Vĩ Dạ chừ họ lo làm ăn buôn bán cả rồi.

Gian nhà rường bên trong khá tối, chỉ có vài vệt nắng chiều yếu ớt lọt qua khe cửa gỗ chạm thượng song hạ bản. Trên bàn thờ giữa nhà, khói hương trầm tỏa ra nghi ngút, bao phủ lấy bức ảnh chân dung vẽ bằng mực nho của một cụ già râu tóc bạc phơ, đôi mắt sáng nhưng đượm buồn.

Quang mở cặp, lấy ra bản dập mặt ấn ngọc mà anh đã thực hiện trước đó tại phòng vật chứng công an xã. Anh đặt tờ giấy dó lên chiếc bàn trà bằng gỗ mít đã lên nước bóng loáng.

- Thưa chú, chú nhìn cái ni có quen mắt không?

Ông Phong đeo kính lão vào, cúi xuống nhìn kỹ bản dập. Ngay khi mắt ông chạm vào hàng chữ khắc chìm ở góc sứt của ấn ngọc, bả vai ông khẽ run lên.

- Cái ni... cái ni đúng là chữ của ông nội tui rồi. Nét chữ hành thư này không lẫn đi mô được. Cụ Ba giữ hộ... Đúng rồi, ngày xưa ông nội tui hay dùng cái triện nhỏ có nét chữ y chang rứa ni để đóng vào sách học trò.

Ông Phong tháo kính ra, hướng mắt nhìn lên bàn thờ, giọng trầm xuống.

- Cuối năm 1944, thời điểm nớ loạn lạc lắm. Ông nội tui lúc đó đang dạy chữ Hán cho một nhóm học trò riêng ở Vĩ Dạ. Có một đêm, có người bên phía hoàng tộc mang đến gửi cho ông một cái ấn ngọc. Đi kèm với cái ấn là một cái hộp sơn đen, bên trong đựng nghiên đá, bút lông và một danh sách viết trên giấy bản ghi tên những người được phép chứng kiến việc giao giữ. Ông nội của Lộc được dặn ông nội tui là tuyệt đối không được mở hộp ra xem, chỉ được giữ hộ cho đến khi có người mang đúng tín vật đến nhận lại.

- Rồi sau đó răng nữa chú?

Khánh hỏi, giọng hắn hơi khàn đi vì khát.

- Đến giữa năm 1945, chiến tranh loạn lạc tràn đến Huế. Nhà cửa ở Vĩ Dạ bị cháy sạch trong một trận hỏa hoạn lớn. Ông nội tui ôm cái hộp sơn đen nớ chạy thoát thân. Người trong nhà chỉ nghe kể lại là có một chiếc ghe nhỏ đón ông ở bến sông Vĩ Dạ rồi chèo thẳng về hướng phá Tam Giang để lánh nạn. Từ đó đi luôn, không một tin tức chi nữa. Gia đình tui sau ni đi tìm khắp nơi dọc bờ phá nhưng không bao giờ tìm thấy hài cốt của ông.

Ông Phong đứng dậy, đi vào gian buồng phía sau. Một lát sau, ông khệ nệ khênh ra một tấm ván gỗ dài khoảng một mét, một đầu đã bị cháy sém đen kịt, bốc lên mùi gỗ mục và mùi than củi cũ kỹ.

- Đây là tấm ván duy nhất còn sót lại từ gian học cũ của ông nội tui sau trận cháy năm nớ. Tui giữ lại làm kỷ niệm. Trên ni có khắc tên của mấy đứa học trò ngày xưa ông dạy.

Khánh và Quang cùng ghé sát lại nhìn. Trên mặt tấm ván gỗ mít, những hàng chữ Hán được khắc nông sâu không đều nhau. Ở góc dưới bên phải, có một ô tên đã bị ai đó dùng dao đục phá nham nhở, những vết xước sâu hoắm cắt nát thớ gỗ. Nhưng ngay sát mép của ô bị đục nớ, vẫn còn sót lại một chữ duy nhất chưa bị xóa hết.

Đó là chữ "Tích".

Khánh nhìn chằm chằm vào chữ "Tích" trên tấm ván cháy. Một cảm giác kỳ lạ đột ngột dâng lên trong lồng ngực hắn, giống như một luồng nước lạnh buốt chạy dọc theo sống lưng rồi tụ lại ở hai bên thái dương. Hắn vô thức đưa ngón tay trỏ ra, chạm nhẹ vào phần gỗ cháy sém xung quanh chữ nớ.

Ngay khi đầu ngón tay hắn tiếp xúc với lớp than đen mịn, không gian xung quanh hắn như mờ đi.

Khánh không còn nhìn thấy gian nhà rường tối tăm của ông Phong nữa. Hắn thấy mình đang đứng trong một gian phòng rộng hơn, ngập tràn mùi mực tàu thơm nồng và mùi giấy bản ẩm ướt. Ánh sáng từ một chiếc đèn dầu đặt trên án thư tỏa ra vầng hào quang màu vàng ấm áp.

Bàn tay hắn - một bàn tay nhỏ hơn, gầy hơn bàn tay hiện tại của hắn rất nhiều - đang cầm một cây bút lông đẫm mực. Đầu bút đặt trên một tờ giấy tuyên thành trắng tinh.

Có tiếng thước gỗ gõ nhẹ lên mặt bàn phía sau lưng hắn. Một giọng nói trầm ấm nhưng cực kỳ nghiêm khắc vang lên bên tai:

- Cổ tay phải lỏng, ngón tay phải chặt, lực đi từ vai xuống. Viết lại nét mác ni cho tau.

Khánh cảm thấy cổ tay mình tự động xoay nhẹ một vòng, ngòi bút lông hạ xuống, kéo một nét mác sắc sảo và dứt khoát. Hắn muốn quay đầu lại để nhìn xem người vừa nói là ai, nhưng cổ hắn cứng đờ, không thể nhúc nhích được. Hắn chỉ thấy bóng của một ông già mặc áo dài đen in dài trên bức vách đất phía trước.

- Khánh! Khánh! Mi làm chi rứa?

Tiếng gọi của Quang kéo Khánh giật mình trở lại thực tại. Hắn rụt tay về như vừa chạm phải lửa nóng. Trán hắn lấm tấm mồ hôi hột, lồng ngực phập phồng thở dốc.

- Mi răng rứa? Mặt mũi tự nhiên trắng bệch ra rứa nớ?

Quang lo lắng hỏi, tay đỡ lấy vai Khánh.

Khánh nhìn xuống ngón tay mình, đầu ngón vẫn còn dính một vệt than đen từ tấm ván cháy. Hắn lắc đầu, giọng nói run run nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh:

- Không có chi. Chỉ là... tự nhiên thấy hơi chóng mặt chút thôi.

Hắn quay sang ông Phong, chỉ vào ô chữ bị đục:

- Chú Phong, chú có biết ai đã đục cái tên ni không?

Ông Phong lắc đầu:

- Tui chịu. Khi tui lớn lên thì tấm ván đã có vết đục ni rồi. Ba tui ngày xưa cũng không nhắc chi đến chuyện học trò của ông nội.

Khánh im lặng một lát rồi quay sang Quang. Hắn không lảng tránh như mọi lần nữa mà nói nhỏ, đủ cho hai người nghe:

- Quang nờ. Lúc nãy chạm vào tấm ván, tau thấy một chuyện lạ lắm. Tau thấy bàn tay tau cầm bút lông viết chữ Hán, rồi có tiếng ông cụ sửa cách đặt cổ tay cho tau. Cái cảm giác nớ thật lắm, giống như chính xương cốt của tau tự nhớ lại rứa. Nhưng mi biết mà, từ nhỏ tới chừ tau có bao giờ học viết chữ Hán bằng bút lông kiểu nớ mô.

Quang nhìn Khánh, ánh mắt hiện lên vẻ kinh ngạc xen lẫn lo âu. Anh biết Khánh không phải là đứa hay đùa giỡn trong những chuyện liên quan đến linh dị.

- Mi chắc không? Hay là do mi mệt quá nên sinh ảo giác?

- Không phải ảo giác.

Khánh khẳng định chắc nịch.

- Cái thế cầm bút, cái lực đi từ vai xuống cổ tay... tất cả đều rõ ràng lắm. Đó không phải là ký ức của Nguyễn Vĩnh Khánh trong hai mươi ba năm qua.

Ông Phong thấy hai người thì thầm to nhỏ liền đi lại phía chiếc tủ chè cũ ở góc nhà, lấy ra một tờ giấy bản đã ố vàng, các mép giấy đã bị gián nhấm nham nhở.

- Đây là tờ tập viết chưa hoàn thành của ông nội tui mà ba tui kẹp trong cuốn sách chữ Nho cũ. Các anh coi thử có giúp ích chi được không.

Quang cẩn thận đỡ lấy tờ giấy. Trên mặt giấy, ngoài những hàng chữ Hán viết mẫu của Cụ Ba Tú Hiến, ở góc dưới có vẽ phác thảo một chiếc hộp hình chữ nhật. Bên trong hộp có một ô vuông nhỏ được chú thích bằng hai chữ "Nghiên đá". Xung quanh chiếc hộp nớ, người vẽ đã dùng mực nho vẽ ba vòng tròn đồng tâm bao bọc lấy, kèm theo những ký hiệu lượn sóng giống như dòng nước.

- Ba vòng nước bao quanh hộp sơn đen.

Quang lẩm nhẩm.

- Đây là ký hiệu chỉ vị trí cất giấu dưới nước. Ông Tú Hiến đã chuẩn bị trước việc này trước khi xuống ghe chạy nạn.

Tối hôm đó, tại phòng làm việc đầy sách của Quang ở phố Hàng Bè.

Cơn mưa giông mùa hè cuối cùng cũng đổ xuống Huế. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn của những ngôi nhà xung quanh, hơi nước mát lạnh từ sông Hương phả vào qua khung cửa sổ mở hé. Trên chiếc bàn làm việc bừa bộn bản đồ và tài liệu của Quang, một ngọn đèn bàn tỏa ra ánh sáng vàng ấm áp.

Khánh ngồi trước bàn, mắt nhìn chằm chằm vào tờ tập viết của Cụ Ba đặt bên cạnh bản dập ấn ngọc. Hắn vô thức đưa tay ra, cầm lấy cây bút lông khô đang cắm trên giá bút bằng gốm của Quang.

Bàn tay hắn vừa chạm vào thân bút bằng trúc, các ngón tay bỗng nhiên tự động co thắt lại. Ôm chặt lấy thân bút theo một thế cầm cực kỳ chuẩn xác: ngón cái và ngón trỏ giữ thân bút, ngón giữa đỡ phía dưới, lòng bàn tay rỗng.

Khánh không hề suy nghĩ. Cổ tay hắn tự động xoay nhẹ một nhịp, hạ ngòi bút lông khô xuống tờ giấy nháp đặt trước mặt. Hắn bắt đầu viết lại những chữ Hán có trên tấm ván cháy ở nhà ông Phong theo đúng thứ tự nét viết cổ.

Nét bút đi nhanh, dứt khoát, lực nhấn ở những nét mác và nét phẩy cực kỳ chuẩn xác.

Quang đứng bên cạnh quan sát, mắt chữ O mồm chữ A. Anh vội vàng lấy tờ tập viết cũ của Cụ Ba ra đối chiếu với những chữ Khánh vừa viết.

- Mi nhìn đi Khánh.

Quang chỉ ngón tay vào những lời phê bằng mực đỏ bên lề tờ tập viết của Cụ Ba.

- Cách mi nhấc bút ở nét mác, cách mi nhấn ngòi bút ở nét sổ thẳng... giống hệt như lời sửa bên lề của ông Tú Hiến phê cho người học trò tên Tích ngày xưa. Hai nét chữ này là một.

Khánh đặt cây bút lông xuống bàn, tay hắn khẽ run lên. Hắn nhìn lòng bàn tay mình, cảm giác tê rần ở cổ tay vẫn chưa tan hết.

- Tau không tự viết.

Khánh nói, giọng nhỏ hẳn đi.

- Là cái tay này tự di chuyển. Nó nhớ cách viết nớ.

Quang không nói gì. Anh cẩn thận cầm bản dập ấn ngọc lên, đặt sát cạnh nét chữ Khánh vừa viết trên giấy nháp. Anh bật chiếc đèn pin nhỏ cầm tay, chiếu ánh sáng xiên một góc mười lăm độ qua bề mặt tờ giấy dó dập ấn.

Dưới ánh sáng xiên, phần tên bị cạo dở ở góc sứt của ấn ngọc hiện rõ cấu trúc nét chữ chìm bên dưới lớp đá xanh. Những nét xước dở dang kết hợp với nét chữ Khánh vừa viết tạo thành một câu hoàn chỉnh viết bằng chữ Hán hành thư:

- Giao cho Tích đối chiếu.

Quang đọc nhỏ câu nớ lên, giọng anh run run giữa tiếng sấm rền ngoài trời.

- Người được giao giữ ấn là ông Tú Hiến, nhưng người có nhiệm vụ đối chiếu ấn lại là Tích. Khánh... mi với Tích rốt cuộc có quan hệ chi?

Khánh không trả lời. Hắn nhìn chằm chằm vào dòng chữ "giao cho Tích đối chiếu" trên bản dập. Đầu hắn đau như búa bổ. Những mảnh ký ức rời rạc về tiếng thước gõ, mùi mực tàu và giọng nói của ông già lại hiện lên, rồi biến mất nhanh như chớp ngoài cửa sổ.

Hắn định đưa tay ra thu dọn đống giấy tờ trên bàn để đi ngủ, nhưng ngay khi ngón tay hắn vừa chạm vào cán bút lông bằng trúc một lần nữa. Một luồng điện lạnh buốt từ ngòi bút chạy thẳng lên cánh tay hắn.

Bàn tay phải của Khánh đột ngột cứng đờ. Hắn không thể buông cây bút ra được.

Cánh tay hắn tự động di chuyển, đưa ngòi bút lông xuống khoảng giấy trắng phía dưới dòng chữ vừa viết. Ngòi bút di chuyển nhanh, mạnh mẽ, những nét chữ Hán mới hiện ra trên giấy, nét mực đậm đặc và sắc nhọn như những nhát chém.

Khánh cắn chặt răng, mồ hôi chảy ròng ròng hai bên thái dương. Hắn cố dùng tay trái giữ chặt lấy cổ tay phải để ngăn lại nhưng không thể chống lại sức kéo vô hình nớ.

Cây bút lông hất mạnh một nét cuối cùng rồi rơi tuột khỏi tay Khánh, lăn lóc trên mặt bàn gỗ làm mực đen vương vãi ra xung quanh.

Khánh ngã ngồi xuống ghế, thở hổn hển, tay trái ôm chặt lấy cổ tay phải đang run bần bật.

Trên mặt giấy bản, dưới chữ "Tích", xuất hiện một hàng chữ Hán mới nằm ngoài bản mẫu tập viết của Cụ Ba:

- Nếu nước lấy ấn, tìm ta dưới lớp nước thứ hai.

Chương khác

Xem thêm