TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 131: Tiếng Bút Trong Ngọc
Ngày 23/06/2026. Ngày hai mươi ba tháng sáu năm hai mươi hai mươi sáu. Khánh thức dậy khi ánh nắng ban mai chưa kịp vượt qua những bức tường rêu phong…
Nội dung chương
Ngày 23/06/2026.
Ngày hai mươi ba tháng sáu năm hai mươi hai mươi sáu.
Khánh thức dậy khi ánh nắng ban mai chưa kịp vượt qua những bức tường rêu phong của Kinh Thành. Hắn nằm trên chiếc phản gỗ hẹp ở gian chái nhà Quang, mắt nhìn đăm đăm lên trần nhà lợp ngói liệt đã chuyển màu nâu xám. Ba ngày nay, kể từ khi mụ Năm nằm xuống, hắn không dám quay lại tiệm Vong Ký. Hắn sợ cái mùi nhang tàn lạnh lẽo ở đó, sợ cả cái nhìn im lặng của ông Tư.
Khánh ngồi dậy, với lấy cuốn sổ tay da đen đặt ở đầu giường. Kẹp bên trong là mấy trang thư viết dở của mụ Năm mà hắn đã giữ lại. Nét chữ của mụ nguệch ngoạc, mực xanh đã nhạt đi nhiều vì hơi ẩm của đất Huế. Hắn lật đến trang cuối, ngón tay dừng lại ở một dòng chữ được gạch dưới bằng mực đỏ.
Vật nổi khỏi nước chưa chắc đã mang theo toàn bộ lời hẹn.
Khánh lấy chiếc bút chì gỗ, khoanh tròn một vòng thật đậm quanh chữ "lời hẹn". Hắn tự trào một tiếng. Mụ Năm chết rồi mà vẫn thích đánh đố người sống. Hắn thở dài, kéo vạt áo thun lên lau mồ hôi rịn trên trán. Vết bớt hình con cá đỏ bên ngực trái lại bắt đầu âm ỉ nóng, cảm giác như có một đầu kim châm cứu đang cắm sâu vào da thịt, chốc chốc lại xoáy nhẹ một cái. Hắn biết cái xác này đang nhắc nhở hắn về thời gian.
Trưa hôm đó, Khánh đi bộ về phía phố Hàng Bè. Trời Huế tháng sáu nắng như đổ lửa xuống mặt đường nhựa bốc hơi hầm hập. Gió từ sông Hương thổi vào không mang theo chút hơi mát nào, chỉ toàn mùi bùn khô và mùi nước lợ nồng nồng.
Tiệm Vong Ký nằm im lìm giữa hai ngôi nhà tầng hiện đại. Cánh cửa gỗ sơn son đã tróc sơn quá nửa khép hờ. Khánh đẩy cửa bước vào, tiếng bản lề rít lên khô khốc.
Ông Tư đang ngồi trên phản gỗ giữa nhà, chân trái duỗi thẳng ra vẻ mệt mỏi. Chiếc gậy tre lên nước bóng loáng tựa hờ vào mép phản. Ông không ngước mắt lên nhìn hắn, chỉ dùng chiếc quạt nan phe phẩy nhè nhẹ.
- Về rồi đó hả?
Khánh không đáp, hắn đi thẳng xuống gian kho niêm phía sau.
Nhiệt độ trong kho thấp hơn bên ngoài rõ rệt. Trên chiếc khay đồng đặt ở góc quầy thờ, chiếc ấn ngọc Bảo Đại nằm im lìm. Kỳ lạ là, dù khay đồng hoàn toàn khô ráo, xung quanh đế ấn vẫn đọng lại một lớp nước lợ mỏng, bốc lên mùi tanh nồng của bùn phá Tam Giang. Vòng niêm bằng chỉ đỏ và tro hương do chính tay ông Tư làm trước đó đã bị cháy sém một góc, sợi chỉ đứt lìa, tro rụng lả tả trên mặt khay.
Khánh cúi đầu nhìn sát vào mặt đáy ấn. Bốn chữ triện "Bảo Đại Đế Tỉ" lạnh ngắt, hơi lạnh tỏa ra làm mặt ngọc đóng một lớp sương trắng mỏng như muối bám.
Tiếng gậy tre gõ cộc cộc trên nền gạch hoa vang lên từ phía sau. Ông Tư đã đứng ở cửa kho từ lúc nào. Ông nhìn vệt nước lợ dưới chân ấn, giọng khàn khàn.
- Vòng niêm của tau không giữ được hắn nữa. Vong chủ ấn đang đòi đồ.
Khánh quay lại nhìn ông.
- Chú không niêm lại à?
Ông Tư lắc đầu, đưa cho Khánh một nén nhang ủ màu đen, một xấp giấy vàng mã và một chén nước nhỏ lấy từ lu nước mưa trước sân.
- Lần ni mi tự làm. Dùng tên ông Tú Hiến mà khóa. Tau không đỡ cho mi mãi được.
Khánh nhìn chén nước mưa, rồi nhìn nén nhang đen nhánh trên tay. Hắn biết ông Tư đang ép hắn phải tự đứng bằng chân mình. Hắn không nói hai lời, rút con dao nhỏ vẫn dùng để rạch giấy bùa ra.
Lưỡi dao sắc lẹm lướt qua đầu ngón tay trỏ của Khánh. Một giọt máu đỏ tươi trào ra. Hắn ép ngón tay xuống mép tờ bùa giấy vàng, viết nhanh ba chữ "Nguyễn Vĩnh Khánh" bằng nét chữ nguệch ngoạc của mình. Sau đó, hắn nhúng ngón tay vào chén nước mưa, viết đè tên "Ông Tú Hiến" vào ngay tâm bùa.
Khánh châm nén nhang ủ. Khói nhang đen kịt, thơm nồng mùi trầm pha lẫn mùi vỏ bưởi khô bắt đầu lượn lờ quanh chiếc ấn ngọc.
Khánh nhắm mắt, bắt đầu đếm nhịp thở. Hắn đếm thầm trong đầu. Một. Hai. Ba.
Mỗi nhịp đếm trôi qua, nước lợ từ đế ấn lại rịn ra nhiều hơn, cố gắng đẩy tờ bùa giấy vàng ra ngoài. Khánh cắn chặt răng, giữ cho đầu ngón tay trỏ đang rớm máu ấn chặt vào núm rồng trên lưng ấn. Hắn cảm nhận được một luồng lực lạnh buốt từ mặt ngọc đang cố đâm xuyên qua da thịt hắn.
Bốn mươi bảy. Bốn mươi tám. Bốn mươi chín.
Nén nhang cháy bùng lên một tia lửa nhỏ rồi tắt ngấm, để lại một sợi khói mảnh như sợi chỉ đứng thẳng tắp giữa không trung. Vòng nước lợ quanh đế ấn ngưng chảy, từ từ rút ngược vào trong lòng ngọc.
Khánh buông tay ra, thở hắt một tiếng. Hắn lùi lại hai bước, suýt nữa thì ngã quỵ xuống sàn kho nếu không bám kịp vào mép bàn thờ.
Cái giá đến ngay lập tức.
Đầu ngón tay trỏ của hắn tê dại hoàn toàn, cảm giác như phần thịt ở đó đã biến thành một khúc gỗ mục không còn dây thần kinh. Tai trái hắn ù đi, tiếng vo ve như hàng ngàn con ong đang đập cánh vang lên bên trong màng nhĩ. Đồng thời, một mùi mực tàu nồng nặc, đắng ngắt xộc lên tận cổ họng khiến hắn phải ho khan mấy tiếng liên tục.
Ông Tư bước tới, cầm lấy bàn tay tê dại của Khánh lên xem. Ông dùng ngón tay cái bấm mạnh vào đầu ngón trỏ của hắn. Khánh không có chút cảm giác nào.
- Phép đứng rồi. Nhưng ngày ni cấm mi niêm thêm cái chi nữa. Muốn phế luôn cái tay hả?
Khánh rút tay về, đút vào túi quần.
- Tui tự biết chừng.
Từ phía cửa kho, Bồi rón rén bước vào. Đứa nhỏ nhìn chiếc ấn ngọc đã được dán bùa vàng, rồi nhìn Khánh với vẻ lo lắng.
- Eng Khánh, tay eng có đau không?
Khánh lắc đầu, gượng cười.
- Đau chi mà đau. Mi lại đây nghe thử coi cái ấn nớ còn kêu không.
Bồi bước tới, áp tai sát vào khay đồng. Đứa nhỏ nhắm mắt lại, hai hàng lông mi dài khẽ rung động. Gian kho niêm im lặng đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng quạt máy chạy rè rè ở nhà ngoài.
Một lúc sau, Bồi mở mắt ra, ngẩng đầu nhìn Khánh.
- Eng Khánh, con nghe tiếng viết bài. Tiếng bút lông cào sột soạt trên giấy thô. Có tiếng một ông cụ cứ đọc đi đọc lại tên Tú Hiến. Ông cụ không bị nhốt trong cái ấn ni đâu eng.
Khánh nhíu mày.
- Răng mi biết không bị nhốt?
- Con nghe tiếng ông cụ ở xa lắm, giống như ông đang đứng bên kia bờ sông mà gọi qua rứa. Ông dùng cái ấn ni làm cái loa để gọi ai đó xuống lấy đồ cho ông. Ông nói ông còn cái hộp bút dưới nước.
Khánh nhìn sang ông Tư, nhưng ông già đã quay lưng đi ra phía phản gỗ, không để lại một lời nào.
Buổi chiều, Quang đến tiệm Vong Ký. Anh mang theo một chiếc kính lúp cầm tay và một tập tài liệu dày cộp. Quang đặt chiếc ấn ngọc dưới ánh đèn bàn, tỉ mỉ soi vào những kẽ nhỏ của núm rồng hình đầu rồng đuôi ly.
- Mi nhìn kỹ chỗ ni đi Khánh.
Quang chỉ vào một vệt bùn màu xám đen đã khô cứng bám sâu trong kẽ móng vuốt rồng.
- Đây không phải bùn sông Hương. Bùn sông Hương nhiều cát và phù sa mịn. Loại bùn này có lẫn những mảnh vỏ sò nhỏ li ti bị nghiền nát, đặc trưng của vùng nước lợ sâu ở phá Tam Giang. Nhất là khu vực luồng sâu cạnh nền nhà chìm phía đông.
Khánh tựa lưng vào cạnh tủ, tay vẫn đút trong túi quần để giấu đi ngón tay trỏ đang trắng bệch.
- Nền nhà chìm? Ở đó có chi?
- Đó là nhà cũ của dòng họ Nguyễn Tộc ở Phú An. Năm bốn lăm, cả vùng đó bị cháy rụi trong biến cố. Nhà của cụ Tú Hiến cũng nằm ở đó.
Đúng lúc đó, điện thoại của Quang rung lên. Anh mở tin nhắn, là ảnh chụp từ Phan Khanh gửi qua. Đó là bản chụp một trang biên mục cổ vật của triều đình Huế lập vào mùa đông năm một ngàn chín trăm bốn mươi tư.
Quang phóng to bức ảnh lên cho Khánh xem.
- Phan Khanh tìm được cái ni trong kho lưu trữ của sở. Nhìn dòng chữ Hán ni đi. "Ủy thác cho Nguyễn Tú Hiến, tức Cụ Ba, tạm thời bảo quản ấn triều để tránh loạn". Nhưng đến hồ sơ sau năm một ngàn chín trăm bốn mươi lăm thì chỉ còn ghi đúng một dòng: "Ấn thất lạc dưới nước phá".
Khánh nhìn chằm chằm vào cái tên "Nguyễn Tú Hiến" trên màn hình điện thoại.
- Rứa là cụ Tú Hiến không ăn cắp ấn. Cụ chỉ giữ hộ rồi bị chìm thuyền chết theo ấn luôn hả?
- Có lẽ rứa.
Quang tắt điện thoại.
- Nhưng vong của cụ vẫn bám theo ấn vì lời hẹn giữ hộ chưa hoàn thành. Và theo lời Bồi kể, cụ còn một cái hộp bút nằm lại dưới đáy phá. Phải tìm được cái hộp nớ thì mới giải được lời hẹn.
Đêm hôm đó, Huế đổ mưa rào. Tiếng mưa gõ dồn dập trên mái tôn của những nhà xung quanh tạo nên một thứ âm thanh hỗn tạp.
Bồi ngủ gục ngay trên bàn quầy gỗ ở nhà ngoài, đầu gối lên hai cánh tay nhỏ nhắn. Khánh ngồi đối diện, tay cầm chiếc bút chì gõ nhè nhẹ xuống mặt bàn theo nhịp mưa.
Bỗng nhiên, Bồi giật mình tỉnh giấc. Đứa nhỏ ngồi bật dậy, mắt mở to, nhìn dáo dác xung quanh gian nhà tối om chỉ có một ngọn đèn dầu leo lét.
- Eng Khánh...
Giọng Bồi run run.
- Chi rứa mi? Mơ thấy ma hả?
Khánh hỏi, giọng nửa đùa nửa thật.
- Không phải. Con nghe có tiếng gọi. Tiếng một người đàn bà gọi rõ mồn một: "Bồi ơi".
Khánh ngừng gõ bút chì. Hắn nhìn thẳng vào mắt đứa nhỏ.
- Tiếng phát ra từ cái ấn trong kho hả?
- Dạ không. Tiếng gọi nghe gần lắm, giống như ngay sau lưng con ni. Mà tiếng ni lạnh ngắt, giống cái tiếng con từng nghe dưới kho niêm mấy bữa trước.
Khánh im lặng một lúc. Hắn lấy cuốn sổ tay ra, ghi lại nguyên văn câu nói của Bồi cùng với ngày giờ. Hắn gập sổ lại, vỗ nhẹ vào vai đứa nhỏ.
- Từ chừ cấm mi không được tự ý xuống kho một mình nghe chưa. Có nghe tiếng chi cũng phải gọi eng.
Bồi gật đầu, hai tay ôm lấy cánh tay Khánh.
Khánh đứng dậy, cầm cây đèn dầu đi xuống kho niêm. Hắn đặt cây đèn cạnh khay đồng đựng ấn ngọc. Dưới ánh lửa vàng vọt, bốn chữ triện dưới đáy ấn bỗng nhiên rịn ra một lớp nước màu đen như mực.
Khánh chần chừ một lát, rồi đặt bàn tay trái còn lành lặn lên núm rồng lạnh ngắt.
Một luồng lạnh buốt chạy dọc từ lòng bàn tay lên đến đỉnh đầu hắn. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái ngói hòa cùng tiếng bút lông cào sột soạt từ lòng ngọc. Giữa những âm thanh ấy, một giọng già nua, khàn đặc nhưng rõ ràng vang lên sát tai hắn.
- Cậu Tích, xuống lấy hộp bút cho thầy.
Khánh giật mình rút tay lại. Cây đèn dầu trên bàn khẽ chao đảo, suýt chút nữa thì tắt ngấm.
Bốn chữ dưới đáy ấn cùng ướt đen; giữa tiếng bút cào, giọng Ông Tú Hiến lặp lại ngay bên tai Khánh: “Cậu Tích đã quên đường xuống nước rồi sao?”