TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 16: Chương 016: Mộ số mười bảy

Chiếc xe Wave cũ nổ máy giòn giã, chở Khánh và thằng Bồi dọc theo con đường Bùi Thị Xuân chạy men bờ sông Hương. Chiều muộn ngày mười bốn tháng Giêng âm…

Nội dung chương

Chiếc xe Wave cũ nổ máy giòn giã, chở Khánh và thằng Bồi dọc theo con đường Bùi Thị Xuân chạy men bờ sông Hương. Chiều muộn ngày mười bốn tháng Giêng âm lịch ở Huế mang theo cái lạnh ngọt của những ngày sau Tết, sương mù bắt đầu bảng lảng trên mặt nước bốc lên từ những khúc quanh đầy rong rêu. Bồi ngồi phía sau, hai tay bám chặt vào vạt áo khoác gió của Khánh, đầu rụt vào trong cổ áo len rộng để tránh những cơn gió buốt thổi ngược chiều.

Khánh lái xe chậm rãi, cố tránh những ổ gà trên con đường đất đỏ dẫn lên hướng đồi thông phía sau lăng Tự Đức. Đoạn đường này vắng vẻ, chỉ có vài bóng xe máy chạy vội vã về nhà trước khi trời sập tối hoàn toàn. Trong chiếc túi vải chàm đeo chéo trước ngực Khánh, chiếc gương đồng cổ được bọc kỹ bằng lớp vải đen dày cộm đè nặng lên xương sườn hắn. Hắn phải mang theo nó. Ông Tư dặn vật neo phải ở gần nguồn phát thì vong mới dễ tụ khí, nhưng tuyệt đối không được để Bồi chạm tay vào bọc vải.

Vết bớt hình con cá đỏ trên vai Khánh có vẻ như đang ngứa nhẹ, một cảm giác âm ỉ khó chịu dưới lớp áo dày khiến hắn phải khẽ nhún vai để giảm bớt sự bứt rứt. Hắn tự nhủ chắc do thời tiết ẩm ẩm lạnh lạnh của Huế mấy ngày ni làm da dẻ dị ứng, chứ chẳng có chuyện gì to tát.

Theo thông tin mà Trần Quang tìm được trong đống thư tịch cũ của gia tộc, khu mộ phụ của các cung phi và người hầu thời Tự Đức không nằm trong khuôn viên chính của lăng. Nơi đó nằm ở sườn đồi phía Tây Nam, một vùng đất hoang vu phủ đầy thông và cỏ dại. Khách du lịch không bao giờ đặt chân đến đây, và ngay cả những người dân quanh vùng cũng ít khi lui tới khi trời đã ngả bóng hoàng hôn.

Khánh dừng xe trước một ngôi nhà cấp bốn xập xệ nằm khuất sau rặng tre, cách lối vào lăng khoảng vài trăm mét. Đây là nhà của chú Lộc, một người quen cũ của Ông Tư, cũng là người trông coi vòng ngoài của khu di tích từ mấy chục năm nay. Khánh dắt Bồi đi vào sân. Một con chó mực xích ở góc sân sủa lên vài tiếng khàn khàn rồi cụp đuôi nằm xuống khi thấy người quen.

- Chú Lộc có nhà không chú ơi?

Khánh đứng ngoài hiên gọi vọng vào.

Một người đàn ông trung niên, mặc chiếc áo khoác kaki sờn cũ, bước ra từ gian bếp nhỏ bên hông nhà. Chú Lộc nheo mắt nhìn Khánh một lúc, rồi nhận ra khuôn mặt quen thuộc của đứa cháu thường đi theo Ông Tư mua bán đồ cũ ngày trước.

- Khánh đó hả con? Đi mô lên đây muộn rứa?

Chú Lộc phủi tay vào vạt áo, bước tới gần hai đứa.

- Dạ, cháu lên tìm hiểu mấy ngôi mộ phụ phía sau đồi thông. Cháu dắt thằng nhỏ đi cùng để thắp nén nhang cho người khuất mặt.

Khánh lễ phép chào, rồi chỉ tay về phía Bồi.

Chú Lộc nhíu mày, nhìn trời đã sập tối.

- Giờ ni mà còn vô đó làm chi nữa. Đồi thông bên nớ âm u lắm, lại không có đèn đường. Mấy ngôi mộ đó hoang phế lâu rồi, có ai nhang khói chi mô.

- Cháu có việc cần xác minh một chi tiết lịch sử cho tiệm. Chú chỉ giùm cháu lối đi tắt qua đồi thông mà không phải đi qua cổng chính được không chú? Cháu không muốn làm phiền ban quản lý lăng giờ nghỉ.

Khánh nói khéo, giọng điệu nhẹ nhàng đúng kiểu người Huế đi nhờ vả.

Chú Lộc nhìn Khánh nghi ngại, nhưng có lẽ vì nể tình Ông Tư, chú thở dài rồi chỉ tay về phía lối mòn nhỏ chạy men theo bờ tường gạch vồ đổ nát phía sau nhà.

- Cứ đi theo lối mòn ni, qua khỏi rặng tre là tới đồi thông. Cứ đi thẳng lên đỉnh đồi, nhìn xuống thung lũng phía bên kia sẽ thấy mấy ngôi mộ đá nhỏ. Nhưng nhớ đi đứng cho cẩn thận, đất đá ở đó hay bị sạt lở sau mấy đợt mưa lụt. Với lại, dạo ni có mấy đứa nghiện ngập hay lảng vảng ngoài nớ, thấy tụi nó thì tránh xa ra nghe chưa.

- Cháu biết rồi. Cảm ơn chú nhiều nghe.

Khánh gật đầu chào.

Hắn dắt tay Bồi đi theo lối mòn chú Lộc chỉ. Đất dưới chân ẩm ướt và trơn trượt bởi lớp lá thông khô rụng đầy. Rặng tre hai bên đường xào xạc trong gió chiều, tạo ra những âm thanh ken két như tiếng răng nghiến.

Trời tối nhanh hơn Khánh tưởng. Khi họ lên đến đỉnh đồi thông, ánh hoàng hôn cuối cùng đã tắt hẳn sau những rặng núi phía xa. Huế chìm vào bóng tối nhập nhoạng. Khánh rút chiếc đèn pin nhỏ trong túi ra rọi đường. Ánh sáng vàng nhạt quét qua những thân thông thẳng đứng, tạo nên những chiếc bóng dài ngoằn ngoèo trên mặt đất.

- Eng Khánh, con thấy lạnh quá.

Bồi xoa xoa hai cánh tay, bước sát vào bên hông Khánh.

- Ráng chút đi mi. Tới nơi thắp nhang lên là ấm liền.

Khánh trấn an thằng bé, tay khẽ giữ chặt chiếc túi vải chàm trước ngực.

Chính hắn cũng cảm thấy một luồng khí lạnh buốt đang bò dần lên từ lòng bàn chân. Đó không phải cái lạnh của thời tiết, mà là thứ khí âm ẩm, nằng nặng bốc lên từ lòng đất ẩm ướt của vùng mộ địa. Họ đi xuống sườn đồi bên kia. Trước mắt họ hiện ra một khoảng đất trống, nơi có hàng chục ngôi mộ đá nhỏ nằm rải rác dưới những gốc thông già. Những ngôi mộ này hầu hết đều bị rêu phong phủ kín, nhiều ngôi chỉ còn là những đống đá hộc đổ nát, không có bia ký hay bất kỳ dấu vết nào để nhận dạng.

Khánh dừng lại, đưa đèn pin quét một lượt qua các ngôi mộ. Hắn lấy trong túi ra tờ giấy ghi chép sơ đồ mà Trần Quang đã vẽ dựa trên bản đồ thực địa cũ.

- Mộ phụ số mười bảy. Nằm ở góc phía Đông Bắc, ngay dưới gốc một cây thông bị sét đánh cụt ngọn.

Khánh lẩm bẩm, đối chiếu vị trí.

Hắn rọi đèn pin tìm kiếm xung quanh. Quả nhiên, ở góc xa nhất của khu đất, có một thân thông già bị cháy đen, ngọn cây đã gãy từ lâu chỉ còn lại phần gốc sần sùi. Ngay dưới gốc cây đó là một ngôi mộ đá nhỏ, kích thước chỉ chừng một mét chiều dài, nửa mét chiều rộng. Ngôi mộ này trông có vẻ xơ xác hơn những ngôi khác. Phần đá bao quanh mộ đã bị xô lệch, đất cát xung quanh chân mộ bị xới tung lên, để lộ ra những mảng đất đỏ tươi mới bị đào bới cách đây không lâu.

Khánh bước tới gần, cúi người xuống quan sát kỹ phần đất bị xới.

- Đúng là có người đã đào bới ở đây.

Khánh nói thầm.

Hắn đưa tay gạt những lớp lá thông khô và đất cát xung quanh mép đá. Ngón tay hắn chợt chạm phải một vật gì đó dai dai. Khánh rọi đèn pin sát vào, dùng hai ngón tay kéo vật đó ra khỏi một kẽ đá hẹp. Đó là một mảnh sợi màu đen, thô ráp và bốc mùi ẩm mốc của đất sâu. Mảnh sợi này hoàn toàn trùng khớp với chất liệu của chiếc bọc vải đen mà Bảy Sẹo đã dùng để bọc chiếc gương đồng khi mang đến tiệm Vong Ký.

- Bảy Sẹo đã đào cái gương từ chỗ ni lên. Hắn đào ngay sát cạnh bia đá.

Khánh khẳng định, lòng thầm đánh giá sự liều lĩnh của gã giang hồ vặt.

Thằng Bồi lúc này đã đi đến bên cạnh ngôi mộ. Nó không sợ hãi như lúc đi đường nữa. Thằng bé đứng cách bia đá chừng hai bước chân, hai tay buông thõng, đầu hơi nghiêng về phía trước. Nó không hề chạm tay vào bia đá hay ngôi mộ, chỉ nhắm mắt lại, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp thở đều đặn. Khánh đứng im, không dám thở mạnh để tránh làm phiền thằng bé. Hắn biết âm giác của Bồi rất nhạy cảm với những rung động của âm giới, đặc biệt là ở những nơi chứa đựng những lời hẹn chưa hoàn tất như thế này.

Sau một lúc im lặng, Bồi mở mắt ra. Gương mặt nó dưới ánh đèn pin trông hơi nhợt nhạt, nhưng đôi mắt lại sáng một cách kỳ lạ.

- Eng Khánh. Con nghe tiếng cô ấy dưới đất. Nhưng tiếng nhỏ lắm, giống như tiếng người ta nói chuyện dưới nước rứa. Tiếng vang lên rõ hơn khi eng mang cái túi vải chàm lại gần ni.

- Cô ấy nói chi với mi?

Khánh hỏi, ngồi thụp xuống bên cạnh thằng bé nhưng vẫn giữ khoảng cách an toàn với ngôi mộ.

- Cô ấy nói cô ấy không nằm hết ở đây. Một phần của cô ấy đã đi theo cái gương rồi. Cái gương mang theo lời hẹn với ký ức của cô ấy đi mất rồi, chỉ còn phần xác không tên nằm lại đây thôi. Cô ấy buồn lắm. Cô ấy hỏi sao người ta lại cướp gương của cô ấy.

Bồi chỉ tay vào khoảng trống bên cạnh bia đá, nơi đất bị xới tung.

Khánh thở dài. Hắn hiểu rằng chiếc gương đồng chính là vật neo giữ phần hồn phách và ký ức của Trần Thị Hoài. Khi Bảy Sẹo đào chiếc gương lên, hắn đã vô tình đánh thức vong hồn đang ngủ yên dưới mộ, khiến nàng phải bám theo vật neo đó để tìm lại danh tính của mình.

- Được rồi. Để tau làm lễ.

Khánh nói.

Hắn mở chiếc túi vải chàm, lấy ra ba nén nhang thơm, một chai nước sạch và sấp giấy vàng mã. Hắn cẩn thận đặt tờ giấy chép ba chữ "Trần Thị Hoài" bằng chữ Quốc ngữ và chữ Hán mà Quang đã viết sẵn trước bia đá không tên. Khánh bật quẹt ga, châm lửa vào ba nén nhang. Ngọn lửa vàng bùng lên rồi tắt, để lại ba đốm đỏ rực luồn lách qua làn khói trắng thơm ngát mùi trầm. Hắn cắm ba nén nhang vào khe đất ngay trước bia đá, rồi chắp tay trước ngực.

- Hương linh cô Trần Thị Hoài. Tui là Nguyễn Vĩnh Khánh, Khánh Vong Ký ở Bao Vinh. Hôm nay tui tìm đến đây theo dấu vết chiếc gương đồng mà người ta đã đào lên từ mộ của cô. Tui mang theo tên thật của cô đến đây để hỏi thăm. Có phải cô là Trần Thị Hoài, cung sai thời Tự Đức, người đã nằm lại nơi này không?

Khánh vừa dứt lời, không gian xung quanh bỗng trở nên im ắng lạ thường. Gió trên đồi thông đang thổi xào xạc bỗng dưng tắt hẳn. Không còn một tiếng lá rụng, không còn một tiếng côn trùng kêu rả rích trong cỏ. Thế nhưng, ba nén nhang đang cắm thẳng đứng trước bia đá bỗng nhiên cùng nghiêng hẳn về một hướng, hướng về phía Đông Bắc, nơi có dòng sông Hương đang chảy qua thành phố. Khói nhang không bay thẳng lên trời mà tụ lại thành một làn sương mỏng, lượn lờ quanh phiến đá không tên.

Bồi bỗng nắm chặt lấy gấu áo của Khánh, ngón tay nó run bần bật.

- Eng. Cô ấy lên rồi.

Khánh cảm thấy da gà nổi lên khắp người. Một luồng khí lạnh buốt bao trùm lấy khu đất trống. Sương mù từ thung lũng phía dưới bắt đầu dâng lên nhanh chóng, phủ kín những ngôi mộ đá xung quanh. Trong làn sương mù dày đặc đó, cảnh vật vật lý của Huế vẫn tồn tại song song một cách kỳ lạ. Khánh vẫn nghe thấy tiếng còi xe máy bóp còi inh ỏi từ phía đường Điện Biên Phủ vọng lại, tiếng còi tàu hỏa hú lên hồi dài khi qua cầu sắt Bạch Hổ xa xa. Những âm thanh của thế giới hiện đại vẫn rõ ràng, nhưng chúng giống như bị ngăn cách bởi một tấm màng mỏng, không thể chạm tới khoảng không gian cô tịch này.

Từ phía sau phiến đá không tên, làn khói nhang tụ lại dần dần hình thành nên bóng dáng của một người phụ nữ. Bóng người đó ban đầu mờ ảo, rồi rõ dần lên dưới ánh sáng nhạt của đèn pin. Nàng mặc một bộ áo cánh màu nâu sồng giản dị của người hầu phủ thời xưa, mái tóc dài đen nhánh xõa xuống che khuất nửa khuôn mặt. Nàng không có chân, phần dưới thân chỉ là một làn khói xám mờ ảo hòa vào đất đá của ngôi mộ. Nàng đứng đó, không có vẻ gì là muốn tấn công hay giận dữ, chỉ có một sự u uất tột cùng bao trùm lấy bóng hình mảnh mai ấy.

Khánh đứng yên, cố gắng giữ cho hơi thở của mình thật đều. Hắn nhớ kỹ lời dặn của Ông Tư, không được dùng bùa chú hay máu để ép vong hiện hình, chỉ dùng sự thành tâm để đối thoại. Bóng người phụ nữ từ từ ngẩng đầu lên. Qua kẽ tóc xõa, Khánh nhìn thấy một khuôn mặt thanh tú nhưng trắng bệch, đôi mắt tối đen không có lòng trắng đang nhìn thẳng vào hắn.

Vong hồn Trần Thị Hoài nhìn Khánh một lúc lâu. Ánh mắt nàng không dừng lại trên quần áo hay khuôn mặt hắn, mà có vẻ đang nhìn vào một khoảng trống không phía trước. Nàng không gọi hắn bằng bất kỳ cái tên nào khác, cũng không tỏ vẻ nhận ra hắn. Nàng cất tiếng nói. Giọng nói của nàng nghe rất lạ, giống như tiếng người ta nói từ dưới một lòng giếng sâu, hoặc vọng qua một lớp nước mỏng của dòng sông Hương vào đêm lạnh.

- Vì sao người không có hình trong gương lại đọc được tên ta?

Khánh khựng lại trước câu hỏi đó. Hắn không biết phải trả lời thế nào. Bản thân hắn cũng không hiểu tại sao chiếc gương đồng cổ kia lại không phản chiếu khuôn mặt của hắn, trong khi nó vẫn phản chiếu mọi thứ xung quanh bình thường. Hắn cũng không biết việc mình không có hình trong gương có liên quan gì đến việc hắn có thể tìm ra danh tính của nàng hay không.

- Tui cũng không biết vì sao tui không có hình trong gương. Tui chỉ là Khánh Vong Ký ở Bao Vinh thay cho Chú Tư của tui. Chiếc gương đồng của cô đã được mang đến tiệm của tui, và tui muốn giúp cô tìm lại tên tuổi để cô được thanh thản.

Hoài lặp lại cái tên hắn vừa nói, giọng nghe như tiếng thì thầm của gió qua kẽ lá.

- Nguyễn Vĩnh Khánh.

Nàng nhìn hắn, rồi lại nhìn xuống tờ giấy ghi tên "Trần Thị Hoài" đang đặt trước bia đá. Sự nghi ngờ trong mắt nàng có vẻ giảm đi đôi chút, nhưng nỗi u uất thì vẫn vẹn nguyên. Nàng đưa bàn tay gầy guộc, nhợt nhạt của mình ra. Bàn tay đó lướt qua khoảng không, chạm vào phiến đá không tên của ngôi mộ số mười bảy. Khi những ngón tay không có hơi ấm của nàng chạm vào mặt đá xám xịt, một tiếng rạn nứt nhỏ vang lên trong không gian tĩnh mịch.

Khánh rọi đèn pin vào phiến đá. Hắn nhận ra trên bề mặt đá nhẵn nhụi kia, có những vệt xước ngang dọc rất sâu, trông giống như có ai đó đã dùng một vật sắc nhọn bằng sắt để cạo mạnh nhiều lần.

Hoài chạm lên bia trống và nói.

- Tên ta từng ở đây. Có người cạo đi trước khi chôn.

Chương khác

Xem thêm