TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 205: Tên Bị Cắt Khỏi Gia Phả

Tiếng gạt nước trên kính xe của Phan Khanh kêu lên những tiếng sột soạt đều đặn, gạt đi những vệt nước nhòe nhoẹt từ con lộ dọc sông An Cựu. Đêm muộn,…

Nội dung chương

Tiếng gạt nước trên kính xe của Phan Khanh kêu lên những tiếng sột soạt đều đặn, gạt đi những vệt nước nhòe nhoẹt từ con lộ dọc sông An Cựu. Đêm muộn, mưa xứ Huế bắt đầu chuyển sang những hạt nhỏ và dày, phủ một lớp sương mù mỏng lên những mái nhà rường cũ kỹ dọc theo đường Bến Ngự.

Khánh ngồi ở ghế phụ, một tay xoa xoa bả vai trái. Vết bớt hình cá đỏ dưới lớp áo thun đang nhói lên từng nhịp đều đặn theo tiếng máy nổ của chiếc xe bán tải. Hơi lạnh từ chiếc đèn ngọc xanh lúc nãy ở tiệm có vẻ vẫn còn bám trên da thịt hắn, buốt đến tận xương.

- Mi đỡ hơn chưa?

Quang ngồi ở băng ghế sau, chồm người lên hỏi, tay anh vẫn ôm khư khư tập tài liệu bọc trong túi nilon chống nước.

- Nhìn mặt mi xanh như tàu lá chuối rứa Khánh.

- Chưa chết được.

Khánh trả lời, giọng khàn đi.

- Chỉ là cái vai hơi đau chút thôi. Anh Khanh, chạy nhanh chút, tui sợ qua giờ Dần mà chưa xong việc thì cái đèn đó lại nổi điên lên.

Phan Khanh không đáp, anh chỉ nhấn thêm ga. Chiếc xe lao đi trong màn đêm tĩnh mịch, bánh xe nghiến lên những vũng nước đọng phát ra tiếng xé nước xào xạc. Ánh đèn pha quét qua những bức tường gạch rêu phong của các phủ đệ cũ nằm im lìm dưới mưa.

Họ dừng lại trước một ngôi nhà thờ họ nằm sâu trong một kiệt nhỏ gần cầu Phủ Cam. Ngôi nhà thờ có cổng tam quan bằng vôi vữa đã bong tróc nhiều mảng, phía trên đắp nổi hai chữ Hán lớn đã phai màu sơn đỏ. Bên trong, một bóng đèn tròn công suất nhỏ tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, hắt lên những tàu lá vạn tuế ướt đẫm nước mưa.

Phan Khanh bước xuống xe trước, anh che ô rồi gõ mạnh lên cánh cửa gỗ lim dày cộp của gian từ đường. Tiếng gõ cửa khô khốc vang lên giữa tiếng mưa rơi rả rích. Phải mất một lúc lâu, bên trong mới có tiếng dép loẹt quẹt và tiếng ho húng hắng của người già.

Cánh cửa gỗ từ từ mở ra. Một ông cụ ngoài bảy mươi tuổi, mặc bộ đồ lụa màu mỡ gà cũ kỹ, tay cầm chiếc đèn pin nhỏ, nheo nheo mắt nhìn ba người khách không mời mà đến.

- Mấy chú tìm ai giữa đêm hôm mưa gió ni?

Giọng ông cụ khàn đặc, mang đậm âm sắc của người vùng đất kinh kỳ cũ.

Phan Khanh đưa ra thẻ ngành cảnh sát, giọng anh lịch sự nhưng kiên quyết.

- Chào bác, tôi là Phan Khanh bên công an tỉnh. Đây là anh Quang bên viện nghiên cứu lịch sử và anh Khánh. Chúng tôi đang điều tra một vụ việc liên quan đến cổ vật bị mất cắp từ khu vực lăng tự đức và am Bích Động. Có một vài manh mối dẫn đến nhà thờ họ Lê ở đây. Mong bác tạo điều kiện cho chúng tôi xác minh khẩn cấp.

Ông cụ giữ từ đường nhìn cái thẻ ngành, rồi nhìn sang Khánh và Quang. Khi ánh mắt ông cụ dừng lại ở tờ giấy bản có bản dập triện đồng mà Khánh đang cầm trên tay, đôi lông mày bạc trắng của ông khẽ giật giật.

- Triện ni...

Ông cụ lầm bầm, bước lui lại một bước, chừa chỗ cho ba người vào.

- Mấy chú vô nhà đi. Ngoài ni lạnh quá.

Gian từ đường bên trong thơm mùi gỗ mít, mùi nhang trầm cũ và cả mùi ẩm mốc đặc trưng của những ngôi nhà cổ vào mùa mưa. Trên bàn thờ tổ, những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng đã xỉn màu dưới ánh đèn dầu leo lét.

Ông cụ giữ từ đường dẫn họ đến một chiếc bàn gỗ dài đặt ở gian bên, rót ba chén nước trà gừng ấm nóng đặt trước mặt ba người.

- Tui là Lê Văn Tấn, giữ cái từ đường ni đã hơn ba mươi năm rồi.

Ông cụ nói, mắt vẫn không rời tờ giấy bản trên tay Khánh.

- Chú cho tui coi kỹ cái bản dập ni được không?

Khánh đẩy tờ giấy bản qua. Ông Tấn đeo kính viễn thị vào, nâng tờ giấy lên sát mắt, lật qua lật lại dưới ánh sáng đèn. Tay ông cụ bắt đầu run lên nhè nhẹ.

- Đúng là triện của nhánh trưởng họ Lê nhà tui rồi.

Ông Tấn thở dài một tiếng, giọng chùng xuống.

- Cái triện ni đã mất từ hồi trực hệ nhánh trưởng ly tán vào Nam năm 1945. Sao các chú lại có bản dập ni?

- Triện này được khắc dưới chân một chiếc đèn ngọc xanh cổ.

Quang giải thích, anh mở tập hồ sơ ra.

- Chiếc đèn đó vốn được thờ ở am Bích Động, nhưng theo nghiên cứu của tôi, nó vốn thuộc về bàn thờ nhánh trưởng họ Lê ở Bến Ngự trước khi bị đưa lên núi làm mắt xích trấn yểm. Ông có biết gì về chiếc đèn đó không?

Ông Tấn im lặng một lúc lâu. Ông cụ đứng dậy, đi về phía góc tối của từ đường, nơi đặt một chiếc hòm gỗ mít cổ có khóa đồng lớn. Ông cụ dùng một chiếc chìa khóa đồng gỉ sét mở khóa, cẩn thận nhấc từ bên trong ra một cuốn sổ gia phả bọc bằng vải nhiễu điều đã mục nát.

- Gia phả họ Lê nhánh trưởng chép từ thời Gia Long đến chừ.

Ông Tấn đặt cuốn sổ lên bàn, tay ông lật từng trang giấy bản mỏng dính, ngả màu vàng sậm như da người già.

- Các chú muốn tìm cái chi thì tự coi đi. Nhưng tui nói trước, nhánh trưởng nhà tui thời Ất Dậu 1885 có nhiều chuyện đau lòng lắm.

Khánh và Quang chụm đầu vào cuốn gia phả. Trang giấy ghi chép về năm Ất Dậu 1885 hiện ra với những dòng chữ Nho viết bằng mực tàu sắc sảo. Nhưng ngay khi nhìn vào mép trong của trang giấy, mắt Khánh lập tức co rút lại.

Ở phần giữa trang, ngay sát gáy cuốn gia phả, có một dải giấy mỏng bị cắt đi một cách ngọt lịm. Vết cắt cũ kỹ, mép giấy đã sờn và ngả màu đen theo thời gian, chứng tỏ việc cắt bỏ này đã diễn ra từ rất lâu trước đây.

- Nhìn chỗ ni đi.

Quang chỉ ngón tay vào số thứ tự của những người con được ghi trong gia phả.

- Con thứ hai là Lê Văn Chương. Con thứ tư là Lê Văn Quý. Số thứ ba bị khuyết hẳn. Số thứ tự nhảy từ hai sang bốn. Chỗ dải giấy bị cắt này chính là vị trí của người con thứ ba.

- Người con thứ ba đó chính là Lê Thị Tươi.

Khánh nói nhỏ, giọng hắn lạnh ngắt.

- Tên của o đã bị cắt khỏi gia phả một cách có chủ ý. Ông Tấn, ông có biết vì sao người này lại bị xóa tên không?

Ông Tấn lắc đầu, nét mặt ông hiện lên vẻ u uẩn.

- Tui chỉ nghe các cụ đời trước truyền lại, người con thứ ba của nhánh trưởng phạm vào trọng tội với dòng họ và triều đình trong biến cố thất thủ Kinh đô năm 1885. Để tránh cho cả nhánh họ bị khép vào tội tru di, tộc trưởng lúc đó đã phải họp họ, quyết định cắt tên người này khỏi gia phả, coi như người đó chưa từng sinh ra trên đời. Nhưng cụ thể tội chi thì trong gia phả tuyệt đối không ghi một chữ.

Quang không bỏ cuộc, anh lật tiếp những cuốn sổ chi tiêu cũ của dòng họ được lưu giữ trong hòm gỗ. Đây là những cuốn sổ ghi chép các khoản cúng giỗ, mua sắm đồ lễ và cả các khoản chi bất thường của dòng họ qua các năm.

Sau khoảng mười phút lật tìm tỉ mỉ, Quang dừng lại ở một trang sổ ghi chép các khoản chi vào cuối năm Ất Dậu 1885. Anh dùng chiếc kính lúp mang theo soi kỹ vào một dòng chữ nằm ở góc dưới cùng của trang giấy.

- Khánh, nhìn cái ni.

Giọng Quang run lên vì phấn khích.

- Đây là khoản chi mua dầu lạc, thuê thuyền và tiền lo chôn cất cho một người tên là "Tươi, con thứ ba". Nhưng nhìn kỹ đi, chữ "Tươi" này đã bị một lớp mực đen dày phủ lên ở lần sao chép sau. Vết mực bôi đè lên chữ vẫn còn gồ lên trên mặt giấy bản.

Khánh nhìn vào dòng chữ bị bôi đen. Đúng là có người đã cố tình xóa đi dấu vết chi tiền chôn cất cho người con gái này. Gia đình đã âm thầm lo hậu sự cho nàng, nhưng lại phải xóa bỏ mọi chứng cứ bằng văn bản để tránh tai mắt của triều đình và quân Pháp thời đó.

Trong lúc đó, Phan Khanh ngồi bên cạnh đã mở chiếc máy tính bảng của mình. Anh đang truy cập vào kho dữ liệu số hóa của ngành lưu trữ lịch sử mà anh đã xin quyền truy cập khẩn cấp từ trước khi đi. Ngón tay Phan Khanh lướt nhanh trên màn hình cảm ứng, ánh sáng xanh từ màn hình hắt lên gương mặt nghiêm nghị của anh.

- Tôi tìm thấy rồi.

Phan Khanh nói, giọng anh trầm thấp nhưng rõ ràng.

- Đây là bản chụp tờ trình của viên quan coi giữ an ninh phủ Thừa Thiên gửi lên Cơ mật viện vào tháng chín năm Ất Dậu 1885. Trong tờ trình có nhắc đến một vụ án đặc biệt ở khu vực Bến Ngự.

Phan Khanh xoay màn hình máy tính bảng về phía Khánh và Quang. Trên màn hình là bản chụp một tờ trình viết bằng chữ Hán kèm theo bản dịch nghĩa của viện lưu trữ.

Tờ trình viết: “Ngày mồng hai tháng tám năm Ất Dậu, toán lính tuần tiễu phát hiện một thiếu phụ cầm đèn xanh đứng bên bờ sông gần cầu Phủ Cam. Nghi là kẻ chỉ điểm cho những kẻ phản nghịch chạy trốn khỏi Kinh thành. Toán lính đã bắn chết thiếu phụ tại chỗ và tịch thu chiếc đèn đồng. Thiếu phụ tên là Lê Thị Tươi, con gái của nhà họ Lê ở Bến Ngự.”

Khánh đọc đi đọc lại đoạn dịch nghĩa, đôi mắt hắn híp lại đầy nghi vấn. Hắn gõ ngón tay lên mặt bàn gỗ.

- Anh Khanh, anh có thấy điểm bất thường trong tờ trình ni không?

Phan Khanh nhìn Khánh.

- Ý anh là gì?

- Thứ nhất, tờ trình chỉ ghi lời khai của toán lính tuần tiễu bắt người. Không có bất kỳ nhân chứng dân sự mô xác nhận o Tươi đang chỉ đường cho giặc hay làm chỉ điểm cả. Thứ hai, nếu o Tươi thực sự là kẻ chỉ điểm cho quân Pháp hoặc toán truy bắt, thì tại sao gia đình o lại phải âm thầm mua dầu. Thuê thuyền lo chôn cất và sau đó phải cắt tên o khỏi gia phả để tránh tội che giấu người chạy loạn? Hai cái tội ni hoàn toàn ngược nhau.

Quang gật gật đầu, anh lập tức mở một tập hồ sơ khác mà anh đã chuẩn bị sẵn từ trước. Đó là bản sao chép cuốn sổ cứu tế của một bang hội từ thiện tại Bến Ngự thời bấy giờ, ghi nhận danh sách những người chạy nạn được cứu giúp trong đêm thất thủ Kinh đô.

- Tui đã đối chiếu danh sách ni rồi.

Quang nói, giọng anh nhanh và dồn dập.

- Đêm mồng hai tháng tám năm đó, có mười một người thuộc các gia đình quan lại yêu nước chạy trốn khỏi Kinh thành bằng đường thủy. Họ đã đến được Bến Ngự an toàn trong đêm tối mịt mù nhờ có một người cầm đèn xanh đứng bên bờ dẫn lối qua các bãi cạn và khúc sông nguy hiểm. Trong danh sách mười mười người chạy thoát đó, có ba cái tên trùng khớp với người của họ Lê nhánh thứ.

Quang dừng lại một nhịp, anh lấy bút chì vẽ nhanh một sơ đồ đường nước sông An Cựu lên tờ giấy nháp.

- Nhìn vào hướng nước và giờ xuất phát của thuyền chạy nạn đi. Đêm đó trời mưa to tầm tã, sông An Cựu nước dâng cao và chảy xiết. Nếu không có ngọn đèn xanh dẫn lối ở đoạn bẻ cua gần cầu Phủ Cam, thuyền chắc chắn sẽ đâm vào bãi đá ngầm hoặc bị dòng nước cuốn trôi thẳng vào đồn lính tuần tiễu phía hạ lưu. Ánh đèn của o Tươi không phải để chỉ điểm cho toán lính bắt người, mà là để dẫn đường cho người nhà của mình và dân chạy loạn tránh khỏi toán lính đó.

Khánh thở hắt ra một hơi, hắn đã hiểu ra toàn bộ sự việc.

O Tươi đã dùng chiếc đèn ngọc xanh của gia đình để dẫn đường cho mười một người chạy trốn trong đêm tối. Nhưng không may, ánh đèn của o đã bị toán lính tuần tiễu phát hiện. O bị bắn chết ngay bên bờ sông. Để lập công và che giấu sự yếu kém của mình khi để xổng mất mười một người chạy nạn, toán lính đã vu cho o tội làm chỉ điểm.

Gia đình họ Lê ở Bến Ngự lúc đó đứng trước hai thảm họa: hoặc thừa nhận o Tươi cứu người chạy loạn và cả họ bị khép tội phản nghịch tru di. Hoặc chấp nhận lời vu cáo o là chỉ điểm nhưng phải cắt tên o khỏi gia phả để chứng minh dòng họ không liên quan đến kẻ tội đồ.

Họ đã chọn cách thứ hai để sinh tồn. Họ cắt tên o khỏi gia phả, bào trắng bài vị của o, nhưng âm thầm mua dầu. Thuê thuyền vớt xác o lên chôn cất và đưa chiếc đèn của o lên am Bích Động để thờ cúng như một cách chuộc lỗi trong câm lặng.

- Nhưng vẫn còn một thứ.

Khánh nói, mắt hắn nhìn chăm chằm vào hòm gỗ gia phả.

- Nếu chỉ có rứa thì chưa đủ để làm chứng cứ phục phục danh tính cho o trước bàn thờ tổ. Phải có cái chi đó của chính người thời đó để lại xác nhận chuyện ni.

Khánh cúi người xuống, hắn thọc hẳn cả cánh tay vào bên trong chiếc hòm gỗ mít cổ. Hòm gỗ sâu và tối, đáy hòm lót một lớp vải bao ba đã mục nát. Ngón tay Khánh chạm vào một khe hở nhỏ nằm giữa tấm ván đáy hòm và thành bên.

Hắn dùng lực ngón tay cạy mạnh. Một tấm ván mỏng ở đáy hòm hơi nhích lên, để lộ ra một ngăn bí mật nhỏ chỉ rộng chừng hai ngón tay. Bên trong ngăn bí mật đó là một phong thư bọc bằng giấy bản dày, bên ngoài phong thư có viết mấy chữ bằng mực tàu đã phai: "Gửi hậu thế nhánh trưởng họ Lê".

Khánh cẩn thận rút phong thư ra, đưa cho ông Tấn.

Ông Tấn run rẩy đón lấy phong thư, ông dùng một con dao nhỏ rọc nhẹ mép giấy. Bên trong là một tờ giấy bản viết bằng chữ Nho, nét chữ nguệch ngoạc và có nhiều vết ố vàng như thể được viết trong lúc người viết đang vô cùng hoảng loạn và đau đớn.

Quang ghé sát vào, anh dịch nhanh những dòng chữ trên tờ giấy.

Lá thư viết: “Ta là Lê Văn Chương, em trai của Tươi. Hôm nay là ngày mồng năm tháng tám năm Ất Dậu. Ta viết thư này đặt dưới đáy hòm gia phả để tạ tội với chị ba và hậu thế. Chị ba không phải là kẻ chỉ điểm. Chị đã dùng đèn dẫn đường cho gia đình chú tư và người nhà chạy trốn khỏi Kinh thành. Chị bị lính bắn chết bên bến sông. Cha ta vì muốn giữ mạng sống cho cả dòng họ khỏi án tru di của triều đình nên đã buộc phải tự tay cắt tên chị khỏi gia phả và bào trắng bài vị của chị. Ta hận mình bất lực không thể kêu oan cho chị. Mong hậu thế sau này nếu tìm thấy thư này, xin hãy minh oan và phục hồi lại tên cho chị trên bàn thờ tổ nghiệp. Ký tên: Lê Văn Chương.”*

Đọc xong bức thư, gian từ đường hoàn toàn chìm vào im lặng. Chỉ còn tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái ngói liệt và tiếng thở dài sườn sượt của ông cụ giữ từ đường.

Ông Tấn cởi chiếc kính viễn thị ra, đưa tay lau đi những giọt nước mắt đang rịn ra nơi khóe mắt đầy nếp nhăn.

- Oan ức quá... Oan ức cho o ba quá. Hơn một trăm năm qua, o phải chịu tiếng xấu là kẻ phản bội dòng họ, bị gạt ra khỏi tổ tiên, không một nén nhang, không một chén nước thờ.

Phan Khanh lập tức lấy máy ảnh chuyên dụng từ trong túi ra. Anh cẩn thận đặt bức thư của Lê Văn Chương, trang gia phả bị cắt gáy, cuốn sổ chi tiêu có dòng chữ bị bôi đen và bản sao cuốn sổ cứu tế cạnh nhau dưới ánh sáng đèn. Anh chụp lại từng chi tiết một cách tỉ mỉ, rồi ghi chép vào biên bản điều tra của mình.

- Tôi sẽ làm biên bản xác nhận các tài liệu lịch sử này.

Phan Khanh nói, giọng anh đanh thép.

- Bản sao có xác nhận của ban quản lý di tích và công an tỉnh sẽ là căn cứ pháp lý để phục hồi lại danh tính cho bà Lê Thị Tươi.

Khánh quay sang nhìn ông Tấn.

- Ông Tấn, còn bài vị của o Tươi chừ ở mô rồi?

Ông Tấn đứng dậy, đi đến phía sau bàn thờ tổ, nơi đặt những chiếc bài vị cũ đã bị hỏng hoặc không còn người thờ cúng. Ông cụ tìm kiếm một lúc rồi nhấc ra một tấm bài vị bằng gỗ mít cổ. Mặt trước của bài vị nhẵn thín, có những vết bào sâu vào thớ gỗ, chứng tỏ người xưa đã dùng bào để xóa sạch những chữ khắc trên đó một cách triệt để.

Khánh đón lấy tấm bài vị bị bào trắng. Mặt gỗ mít cũ kỹ, xám xịt và lạnh ngắt. Hắn rút từ trong túi quần ra một chai thủy tinh nhỏ chứa nước sông Hương mà hắn luôn mang theo bên người khi đi làm việc âm.

Khánh nhỏ vài giọt nước sông Hương lên mặt sau của tấm bài vị, ngay vị trí những thớ gỗ dọc.

Nước sông vừa chạm vào thớ gỗ mít khô khốc liền thấm nhanh vào trong. Ngay lập tức, một mùi hương kỳ lạ bốc lên giữa gian từ đường. Đó không phải là mùi nhang trầm hay mùi ẩm mốc của gỗ cổ, mà là mùi dầu lạc thơm ngậy, thứ dầu mà người xưa vẫn thường dùng để thắp đèn dầu.

Dưới tác động của nước sông Hương, những vệt gỗ ở mặt sau bài vị bắt đầu thay đổi màu sắc. Những nét khắc chìm nhỏ xíu, nằm khuất sâu dưới lớp bụi thời gian và thớ gỗ cũ, bắt đầu hiện lên rõ ràng từng nét một.

Dòng chữ hoặc âm thanh hiện ra: “Lê Thị Tươi - Mất ngày mồng hai tháng tám năm Ất Dậu (1885)”

Ông Tấn nhìn thấy những nét chữ đó hiện lên thì hai đầu gối ông cụ như rũ ra. Ông phải vịn tay vào cạnh bàn gỗ để khỏi ngã.

- Đúng là chữ của cụ tổ Lê Văn Chương khắc chìm ở mặt sau rồi. Cụ đã âm thầm khắc tên chị mình ở mặt sau bài vị trước khi bào trắng mặt trước để che mắt người ngoài.

Khánh nhìn những nét chữ hiện lên rõ ràng trên thớ gỗ mít. Hắn cảm thấy bả vai mình nhẹ đi một chút, vết bớt hình cá đỏ không còn nhói đau dữ dội như lúc nãy nữa. Hắn biết mình đã đi đúng hướng.

- Ông Tấn.

Khánh nói, giọng hắn nghiêm túc.

- O Tươi đang bị xích vào chiếc đèn ngọc xanh ở am Bích Động bằng một lời nguyền oan ức. Chừ mọi chứng cứ đã rõ ràng. Tui muốn ông đồng ý ghi lại tên của o vào trang gia phả bổ sung của dòng họ ngay trước bàn thờ tổ vào buổi sáng ni. Có như rứa thì o mới có danh tính ở dương gian để mà đi qua Cửa.

Ông Tấn nhìn tấm bài vị, rồi nhìn sang bức thư của cụ tổ Lê Văn Chương. Ông cụ gật đầu khẩn thiết.

- Được, được chứ. Việc ni là trách nhiệm của con cháu họ Lê tụi tui. Sáng mai tui sẽ triệu tập các trưởng nhánh họ Lê ở Bến Ngự đến đây để làm lễ nhập tổ cho o ba. Nhưng...

Ông cụ ngập ngừng nhìn Khánh.

- Chú Khánh ơi, tui có một yêu cầu.

- Ông cứ nói.

Khánh đáp.

- Khi làm lễ nhập tổ vào sáng mai, chú phải là người đọc công khai cả tờ trình buộc tội của triều đình lẫn bức thư giải oan của cụ Lê Văn Chương trước bàn thờ tổ. Tui muốn con cháu đời sau phải nghe rõ o ba đã chết vì cái chi, dòng họ đã phải che giấu những chi. Chúng ta không thể thay thế một lần che giấu của người xưa bằng một lần tô sửa khác của người chừ. Sự thật phải được trả lại nguyên vẹn thì linh hồn o ba mới thực sự được thanh thản.

Khánh nhìn ông cụ giữ từ đường, ánh mắt hắn hiện lên vẻ kính trọng. Hắn gật đầu.

- Tui đồng ý. Sự thật răng thì cứ để nguyên rứa mà đọc.

Nước sông Hương trên mặt sau của tấm bài vị vẫn tiếp tục thấm sâu vào các thớ gỗ mít cổ. Những giọt nước cuối cùng đọng lại ở phần rìa dưới của bài vị, nơi có những đường vân gỗ uốn lượn như hình sóng nước sông Hương.

Ngay khi giọt nước cuối cùng thấm hết vào thớ gỗ, một vệt khắc chìm khác. Nhỏ hơn và sắc lẹm như được khắc bằng một loại dao găm chuyên dụng của người làm Hương Thuật xưa, bắt đầu hiện lên rõ ràng ngay dưới dòng chữ ghi năm mất của o Tươi.

Khánh ghé sát mắt vào nhìn. Gương mặt hắn bỗng nhiên đanh lại khi đọc được dòng chữ khắc chìm cuối cùng đó.

Dòng chữ hoặc âm thanh hiện ra: “Đèn chỉ trao cho người ghi tên mà không giữ người.”

Chương khác

Xem thêm