TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 207: Chuyện Ni Quá Giới Hạn

Khánh áp tay vào cánh cửa tủ gỗ lim số mười, cảm nhận cái lạnh từ thớ gỗ dày truyền qua lòng bàn tay. Gỗ lim ngâm nước sông qua nhiều năm có mùi tanh…

Nội dung chương

Khánh áp tay vào cánh cửa tủ gỗ lim số mười, cảm nhận cái lạnh từ thớ gỗ dày truyền qua lòng bàn tay. Gỗ lim ngâm nước sông qua nhiều năm có mùi tanh nồng đặc trưng, quyện với mùi tro hương của chữ bùa niêm phong vừa khô. Mỗi lần chạm vào những ngăn tủ này, hắn luôn có cảm giác như đang chạm vào một phần da thịt của dòng sông Hương, lạnh ngắt và ẩm ướt.

Bên trong ngăn tủ, ngọn lửa xanh của chiếc đèn ngọc đã đứng yên, không còn nhảy múa loạn xạ như lúc sáng. Nhưng khi Khánh ghé mắt qua khe hở nhỏ của cánh cửa tủ, hắn thấy ngọn lửa ấy không hướng thẳng lên trên. Nó nghiêng hẳn về một góc, chỉ thẳng về hướng đông nam, nơi dòng sông Hương đang cuộn chảy ngoài kia. Cửa kho đóng kín, không có một khe hở nào cho gió lọt vào, vậy mà ngọn lửa vẫn nghiêng đi như thể có một lực hút vô hình từ dưới lòng sông đang kéo nó về phía đó.

Bồi bước lại gần, áp sát tai vào thớ gỗ dày của ngăn tủ mới niêm. Thằng bé nhắm mắt, hai bàn tay nhỏ bám chặt vào cạnh tủ. Khánh đứng bên cạnh, yên lặng quan sát biểu cảm trên gương mặt nhỏ nhắn của nó. Hắn thấy cơ mặt thằng bé giãn ra, không còn căng thẳng như lúc nghe tiếng o Năm Hồng gọi ở am Bích Động nữa. Hai bả vai nó cũng hạ xuống, hơi thở đều đặn hơn.

- Chỉ còn tiếng o Tươi đọc tên mình thôi eng Khánh.

Bồi mở mắt ra, giọng nhỏ nhẹ.

- Tiếng o nhỏ lắm, giống như tiếng người ta đọc kinh buổi tối rứa. Còn tiếng o Năm Hồng thì biến mất hẳn rồi. Con không nghe thấy chi nữa.

Khánh xoa đầu thằng bé, gật đầu nhẹ. Việc này xác nhận rằng vong hồn của Lê Thị Tươi đã được an định sau khi được trả lại danh tính trên bài vị dòng họ Lê. Còn Năm Hồng, vong hồn phụ bám theo ngọn đèn, cũng đã thực sự rời đi. O đã hoàn tất lời hẹn cuối cùng với cõi đời này, không còn bị xích vào ngọn đèn ngọc xanh nữa. Sự giải thoát đó tuy lặng lẽ nhưng dứt khoát, không để lại bất kỳ mảnh hồn hay dấu vết nào trong tiệm.

Khánh quay lại bàn gỗ giữa tiệm, nơi Năm Béo đang ngồi im lặng. Hai mắt hắn trũng sâu vì thiếu ngủ, gương mặt béo mập phờ phạc dưới ánh sáng mờ tối của gian nhà rường. Trên bàn là một ly trà gừng đã nguội ngắt từ lâu, hơi nước không còn bốc lên nữa.

Khánh rút từ trong túi áo ra một phong bì dày, đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ rồi đẩy về phía Năm Béo.

- Đây là tiền công của anh mấy ngày qua. Tiền xăng xe, tiền dẫn đường lên am Bích Động, với cả khoản bù nguy hiểm cho anh.

Năm Béo nhìn phong bì tiền, rồi nhìn Khánh. Bàn tay to béo, đầy những vết chai sạn của hắn khẽ giật. Hắn không cầm lấy phong bì, mà dùng ngón tay đẩy ngược nó về phía Khánh.

- Chuyện ni quá giới hạn rồi. Tau không lấy tiền của mi đâu.

Khánh hơi nhướng mày. Hắn biết Năm Béo là dân chợ đen, trước giờ làm việc gì cũng phải có tiền đi trước. Một đồng tiền lẻ hắn cũng không chừa, vậy mà chừ lại từ chối một khoản tiền lớn như rứa.

- Anh chê ít à? Hay răng?

- Chuyện tiền bạc ít nhiều không quan trọng ở đây.

Năm Béo lắc đầu, giọng khàn đặc vì khói thuốc và sương đêm.

- Trước đây tau bán tin cho mi vì tiền, cái đó là chuyện làm ăn. Nhưng lần ni khác. Con Hồng... nó là em gái tau. Nó chết trôi sông mấy năm trời, hồn phách vất vưởng trong ngọn đèn nớ. Mi đã giúp nó được đi thanh thản, tau còn mặt mũi mô mà nhận tiền của mi nữa.

Năm Béo dừng lại một chút, hớp một ngụm trà gừng nguội ngắt để lấy giọng. Hắn nhìn ra phía khoảng sân đầy nắng ngoài kia, nơi những cây chuối cảnh đang rũ lá dưới cái nóng hầm hập của trưa tháng bảy.

- Với lại, tau không muốn tụi hắn dùng cái chết của em gái tau, hay cái chết của bất kỳ ai khác, để làm cái trò gom tên người chết mô. Tụi hắn coi mạng người, coi vong hồn như món hàng để mua bán, vận chuyển. Tau làm đồ cổ chợ đen thật, nhưng tau vẫn là con người. Nhìn tụi hắn cạo tên trên bài vị, gom đồ tang của người ta đi, tau thấy tởm.

Khánh im lặng. Hắn nhìn thấy sự kiên quyết trong mắt người đàn ông béo mập trước mặt. Đó là sự kiên quyết của một người anh trai đã mất em gái, của một người Huế hiểu rõ những điều kiêng kỵ dưới dòng sông Hương này. Khi chuyện tâm linh chạm đến giới hạn của tình thâm, những đồng tiền chợ đen bỗng trở nên vô nghĩa. Khánh cất phong bì vào túi.

- Rứa tui cảm ơn anh.

Năm Béo thò tay vào túi áo khoác da sờn rách, rút ra ba tờ giấy nhỏ đã hơi nhăn nhúm, đặt chúng lên bàn.

- Đây là ba cái phiếu nhận đồ tang tau giấu được từ chỗ thằng mối bên chợ đồ cổ Vy Dạ. Tụi hắn định đốt đi để xóa dấu vết, nhưng tau nhanh tay giật lại được. Mi coi thử có giúp ích chi không.

Khánh cầm ba tờ phiếu lên xem. Giấy viết phiếu là loại giấy bản rẻ tiền, màu vàng đục, mép giấy đã bị sém đen vì lửa. Trên phiếu không hề ghi giá cả, không ghi số tiền đặt cọc hay thanh toán như những phiếu cầm đồ thông thường ở dương gian. Nó chỉ ghi vỏn vẹn ba thông tin: tên người chết, ngày giờ mất, và một mốc thời gian chuyển hàng ra bến.

Phan Khanh bước lại gần, đón lấy ba tờ phiếu từ tay Khánh. Anh rút điện thoại ra, mở cuốn sổ ghi chép điện tử của lực lượng cảnh sát về các vụ rò âm xuất hiện trên địa bàn thành phố hai ngày qua. Phan Khanh đối chiếu từng mốc thời gian trên phiếu với báo cáo của đồng nghiệp ở các chốt gác khu vực Gia Hội và Bến Ngự.

Gương mặt Phan Khanh đanh lại khi những con số bắt đầu khớp nhau.

- Trùng khớp hoàn toàn.

Phan Khanh nói, giọng anh lạnh tanh.

- Nhìn đi. Phiếu thứ nhất ghi tên Nguyễn Văn Nam, mất năm 2022, giờ chuyển hàng ra bến là bốn giờ sáng ngày hai mươi bốn. Đúng bốn giờ mười lăm phút sáng hôm đó, khu vực ngã ba Gia Hội xuất hiện một vong nam đi lại giữa đường, gây tai nạn cho người đi chợ sớm.

Phan Khanh chỉ tay vào màn hình điện thoại, nơi có những dòng ghi chú màu đỏ của cảnh sát hình sự.

- Còn phiếu thứ hai và thứ ba cũng rứa. Mỗi lần có một chuyến hàng đồ tang rời khỏi kho của tụi hắn, thì chỉ mười lăm đến hai mươi phút sau, khu vực xung quanh bến nhận hàng sẽ xuất hiện vong giữa ban ngày. Đây không phải là ngẫu nhiên. Tụi hắn đang dùng đồ tang làm vật dẫn để kéo vong từ dưới sông lên, hoặc dùng chúng để làm mỏ neo giữ các điểm rò âm.

Quang nãy giờ vẫn đứng bên cạnh, anh cúi xuống nhìn kỹ vào góc dưới của ba tờ phiếu. Ở đó có một ký hiệu nhỏ vẽ bằng mực tàu đen, trông giống như một cái móc câu ngược, phía dưới có hai vạch sóng nước song song.

- Cái ni không phải ký hiệu mua bán đồ cổ.

Quang nói, giọng anh trầm xuống đầy nghiêm túc.

- Tau đã đọc qua nhiều tài liệu về vạn đò sông Hương thời nhà Nguyễn. Dấu móc câu ngược này là ký hiệu của dân vận chuyển đường nước xưa. Tụi hắn dùng dấu này để đánh dấu những chuyến ghe chở hàng cấm đi đêm trên sông, tránh sự kiểm tra của tuần ty nhà Nguyễn.

Quang chỉ vào dòng chữ viết bằng mực tàu ở cuối tờ phiếu, nơi nét chữ đã hơi nhòe đi vì nước ẩm.

- Chỗ ni ghi điểm nhận hàng là bến Thừa Nha. Chừ không còn ai dùng tên ni nữa, nhưng trong bản đồ địa chính cũ của Huế, bến Thừa Nha chính là tên gọi cũ của một bến hàng nằm ở mạn Bao Vinh. Nơi đó chừ chỉ còn mấy cái kho bỏ hoang sát mép nước.

Khánh đứng dậy, chỉnh lại vạt áo.

- Rứa thì đi thôi. Trưa nắng rứa ni, tụi hắn chắc không ngờ mình mò tới đâu.

Hắn quay sang nhìn Bồi đang đứng nép bên cạnh tủ gỗ.

- Bồi, mi ở nhà với o Bảy. Đừng đi lung tung nghe chưa.

Bồi gật đầu, nhưng mắt thằng bé vẫn nhìn chằm chằm vào ba tờ phiếu trên bàn.

- Eng Khánh... con nghe thấy tiếng nước chảy mạnh lắm. Tiếng nước ở chỗ bến nớ... nghe lạnh lắm. Không giống tiếng nước sông Hương bình thường đâu.

Khánh không trả lời, hắn ra hiệu cho Phan Khanh và Quang rồi cùng Năm Béo bước ra khỏi tiệm. Bồi ở lại bên Cô Bảy như lời dặn. Trời trưa xứ Huế nắng gắt, cái nắng hanh hao của những ngày cuối tháng bảy âm lịch khiến mặt đường nhựa bốc hơi hầm hập. Không khí ngột ngạt đến mức khó thở. Nhưng khi xe của họ chạy về hướng Bao Vinh, càng gần đến mép sông, không khí xung quanh bắt đầu dịu xuống một cách bất thường. Cái lạnh không đến từ gió, mà từ mặt nước sông Hương đang phẳng lặng như tờ dưới nắng trưa.

Bến hàng cũ ở Bao Vinh nằm khuất sau một dãy nhà rường cổ đã xuống cấp, tường gạch phủ đầy rêu xanh đen. Nơi đây từng là thương cảng sầm uất một thời của xứ Thuận Hóa, nhưng chừ chỉ còn là một bến sông hoang vắng với những cọc tre mục nát cắm sâu dưới bùn. Sát mép nước là một cái kho đồ tang bỏ trống, mái tôn rỉ sét loang lổ từng mảng lớn.

Khánh đẩy cánh cửa gỗ mục của cái kho ra. Tiếng bản lề rỉ sét rít lên một âm thanh chói tai trong không gian yên ắng. Mùi ẩm mốc của vải liệm cũ, mùi gỗ mục và mùi bùn sông nồng nặc lập tức xộc vào mũi. Bên trong kho tối om, chỉ có vài vệt nắng trưa lọt qua những kẽ hở trên mái tôn, rọi xuống nền đất nện ẩm ướt tạo thành những vệt sáng xiên chéo đầy bụi bặm.

Giữa kho, một cái kệ gỗ rường cũ dùng để đặt bài vị nằm chỏng chơ. Khánh bước lại gần, hắn thấy mặt trước của tất cả các bài vị trên kệ đều đã bị cạo sạch tên. Những vệt cạo còn rất mới, gỗ mít bên trong lộ ra màu vàng tươi, tương phản với lớp bụi bám đầy xung quanh kệ gỗ.

Dưới chân kệ gỗ là những mảnh giấy vàng mã cháy dở, tro đen bay lác đác trên nền đất ẩm. Nhưng điều khiến Khánh chú ý nhất là một vệt mực đen kịt, rộng khoảng một gang tay, kéo dài từ chân kệ gỗ, bò dọc theo nền kho rồi đi thẳng ra phía cửa sau, dẫn xuống mép nước sông Hương.

Vệt mực đen này không hề khô. Nó bóng loáng và ẩm ướt, bốc lên mùi tanh nồng của nước sông Hương đoạn nước lợ. Khánh ngồi xổm xuống, hắn không dùng tay chạm vào vệt mực mà rút một nén nhang ra, chấm nhẹ đầu nhang vào vệt đen. Đầu nhang lập tức tắt ngúm, một làn khói xám lạnh toát bốc lên, mang theo mùi tanh của bùn đất dưới đáy sông sâu.

Khánh đứng dậy. Đúng lúc ấy, Cô Bảy chở Bồi tới. Ở nhà, thằng bé nghe luồng tên dưới nước dồn đến chảy máu mũi; o chỉ đưa nó tới xác định nguồn âm rồi sẽ đưa về. Bồi tái mét, nhìn chằm chằm vào vệt mực đen kéo xuống sông.

- Bồi! Răng o lại đưa nó tới đây?

- Nó không khóa tai nổi. O giữ hắn xa nước.

Cô Bảy đáp, giữ chặt vai thằng bé.

Thằng bé không trả lời câu hỏi của Khánh. Nó chầm chậm bước vào trong kho, hai tai nó khẽ giật giật như đang cố lắng nghe một âm thanh mờ nhạt nào đó.

- Eng Khánh... con nghe thấy tiếng... Nhiều người lắm. Tụi hắn đang đọc tên của mình. Nguyễn Văn Nam... Lê Thị Hoa... Trần Văn Tám... Tiếng đọc nhanh lắm, giống như người ta đang đếm hàng rứa.

Bồi bước thêm một bước về phía mép nước ở cửa sau của kho. Gương mặt thằng bé bắt đầu co giật nhẹ.

- Nhưng tiếng của tụi hắn bị kéo đi rồi. Có cái chi đó dưới sông... đang hút hết tiếng của tụi hắn về một hướng. Lạnh quá... tai con đau quá eng ơi.

Khánh lập tức nhận ra sự bất thường. Hắn thấy một vệt máu đỏ tươi bắt đầu rỉ ra từ mũi của Bồi, chảy dài xuống môi thằng bé. Hắn lao tới, ôm chặt lấy Bồi, kéo ngược nó ra xa vệt mực đen trên nền đất.

- Bồi! Không được nghe nữa! Nhắm mắt lại!

Khánh rút chai nước sông Hương mang theo bên mình, đổ ra lòng bàn tay rồi vuốt mạnh lên trán và hai bên thái dương của Bồi. Hắn đọc thầm một câu chú định hồn ngắn để khóa âm giác của thằng bé lại. Thằng bé thở dốc, hai tay ôm chặt lấy cổ Khánh, người nó run lên cầm cập. Vệt máu mũi ngừng chảy, nhưng gương mặt nó vẫn không còn một giọt máu.

Năm Béo đi ra phía bến sông ngoài cửa sau của kho. Hắn đứng bên mép nước, nhìn chằm chằm vào dòng sông đang chảy lờ lững trước mặt, rồi chỉ tay vào một cái cọc gỗ buộc ghe cắm sát bờ.

- Tụi bay nhìn cái cọc ni đi.

Khánh bế Bồi bước ra ngoài, tránh xa bầu không khí u ám trong kho đồ tang. Hắn nhìn theo hướng tay của Năm Béo. Cái cọc gỗ lim đen bóng, đường kính khoảng hai mươi phân, cắm sâu dưới bùn sông. Mặc dù bến sông này đã bỏ hoang nhiều năm, không có ghe thuyền nào qua lại, nhưng phần thân cọc nằm trên mặt nước vẫn còn ướt sũng. Những giọt nước sông lạnh ngắt vẫn đang chầm chậm chảy xuống từ đỉnh cọc, để lại những vệt nước loang lổ trên thớ gỗ khô.

- Có ghe vừa mới đậu ở đây.

Năm Béo nói, giọng hắn chùng xuống đầy lo ngại.

- Một chiếc ghe lớn lắm mới làm ướt cọc cao đến mức ni. Tụi hắn đã lấy hết tên trên bài vị trong kho, rồi chở đi bằng đường nước. Chuyến ghe ni... chắc chắn là chở tên về hướng Cồn Hến để nạp vào cái mạng lưới dưới sông của tụi hắn.

Năm Béo quay lại nhìn Khánh. Ánh mắt người đàn ông chợ đen đầy vẻ mệt mỏi và dứt khoát. Hắn kéo lại cổ áo khoác da, thở ra một hơi dài.

- Khánh à, chuyện ni thực sự quá giới hạn rồi. Tau chỉ giúp mi được đến đây thôi. Từ chừ trở đi, tau không tham gia vào việc ni nữa. Tau còn gia đình, còn phải sống. Con Hồng cũng đã đi rồi, tau không còn lý do chi để liều mạng với tụi hắn nữa.

Hắn bước lại gần Khánh, vỗ nhẹ vào vai hắn.

- Nhưng mi nhớ lời tau dặn. Đừng để tụi hắn lấy tên người đã khuất dễ dàng như lấy hàng rứa. Vong hồn cũng cần có cái tên để mà đi qua Cửa, chứ không phải để làm vật tế cho tụi hắn.

Nói xong, Năm Béo quay lưng đi thẳng lên con đường kiệt nhỏ dẫn ra phố lớn Bao Vinh. Dáng người béo mập của hắn khuất dần sau những bức tường gạch rêu phong cổ kính. Khánh đứng nhìn theo bóng lưng của Năm Béo, hắn biết đây là lần cuối cùng người đàn ông này tham gia vào những chuyện liên quan đến tiệm Vong Ký. Sự rút lui của Năm Béo là lựa chọn của một người bình thường muốn tìm kiếm sự bình yên sau những giông bão tâm linh. Hắn không trách, cũng không có quyền trách.

Gió sông Hương thổi lên, mang theo hơi lạnh buốt giá dù trời vẫn đang là buổi trưa nắng gắt. Khánh đứng bên mép nước, nhìn cái cọc buộc ghe vẫn còn ướt.

Bỗng nhiên, chiếc cọc gỗ khẽ rung lên một nhịp. Một sợi dây vô hình nào đó dưới lòng nước đột ngột căng ra. Sợi dây kéo căng từ thân cọc, vạch một đường rẽ nước đen kịt, lạnh ngắt, chạy dọc theo dòng sông Hương, hướng thẳng về phía Cồn Hến xa xăm.

Chương khác

Xem thêm