TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 208: Miếng Đồng Khắc Tên Tích

Khánh ném ba bức ảnh chụp phiếu đồ tang lên chiếc bàn gỗ trắc đặt giữa phòng Ông Tư. Tiếng giấy ảnh đập xuống mặt gỗ vang lên khô khốc trong không gian…

Nội dung chương

Khánh ném ba bức ảnh chụp phiếu đồ tang lên chiếc bàn gỗ trắc đặt giữa phòng Ông Tư. Tiếng giấy ảnh đập xuống mặt gỗ vang lên khô khốc trong không gian ngột ngạt của buổi chiều muộn. Mùi bùn sông từ quần áo Khánh bốc lên, hòa lẫn với mùi thuốc bắc ngâm rượu mà Ông Tư dùng để xoa bóp cái chân trái bị liệt.

Ông Tư đang ngồi xếp bằng trên phản gỗ lim, chiếc gậy tre đặt ngang đùi. Ông không ngẩng đầu lên ngay, chỉ dùng bàn tay gầy guộc, nổi đầy gân xanh để chỉnh lại chiếc kính lão trễ xuống tận chóp mũi. Khi những ngón tay ông chạm vào mép ảnh, Khánh nhận ra khớp xương của ông đã sưng đỏ, thô ráp như rễ cây khô.

- Mực đen cạo từ kho đồ tang ở Bao Vinh đó chú.

Khánh ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện, giọng khản đặc vì thiếu ngủ.

- Bọn hắn không lấy tà vật. Bọn hắn chỉ cạo sạch tên trên bài vị rồi quét cái thứ mực ni lên. Chú coi thử có nhận ra cái dấu móc ở đuôi chữ không?

Ông Tư cầm một bức ảnh lên sát mắt. Vệt mực đen chụp trên điện thoại tuy đã khô nhưng vẫn để lại một vệt bóng nhẫy như mỡ cá. Ở cuối mỗi nét vẽ, thay vì vuốt nhọn theo lối viết thư pháp thông thường, kẻ viết lại móc ngược lên một đường cong tròn, giống như hình một lưỡi câu ngược chiều nước chảy.

Đôi lông mày bạc của Ông Tư nhíu chặt lại. Ông đặt bức ảnh xuống, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ theo một nhịp điệu chậm rãi.

- Đây là biến dạng của ký hiệu chuyển lệnh bến.

Ông Tư nói, giọng khàn và đục.

- Thời trước, khi Thoải Phủ còn giữ các bến đò dọc sông Hương từ tuần chợ Nam Giao xuống tới ngã ba Sình, mỗi lần có lệnh khẩn từ Chưởng môn, người ta không dùng giấy tờ. Họ chỉ vẽ cái móc nước ni lên mạn ghe hoặc cột bến để người của Phủ biết đường mà tránh hoặc đón.

- Nghĩa là kẻ vẽ cái ni biết rõ quy củ cũ của Thoải Phủ?

Khánh hỏi, mắt không rời gương mặt già nua của ông.

Ông Tư không trả lời ngay. Ông dịch người, kéo lê cái chân trái nặng nề xuống khỏi phản, với tay lấy chiếc lọ thủy tinh nhỏ chứa mẫu bột mực đen mà Khánh mang về. Ông mở nắp lọ, một mùi hôi nồng của bùn non và xác động vật thối rữa lập tức thoát ra, khiến Bồi đang đứng ngoài cửa buồng phải hắt hơi một tiếng rõ to.

- Khánh, lấy cho tau bát nước sông Hương ngoài lu.

Ông Tư ra lệnh.

- Kiếm thêm tờ giấy vàng với cây bút lông mực đỏ ở góc bàn thờ.

Khánh đứng dậy làm theo. Khi hắn bưng bát nước sông Hương quay lại, Cô Bảy cũng vừa từ gian nhà ngoài bước vào. Gương mặt o đầy những nếp nhăn mệt mỏi, vết sẹo hình chữ X ở cổ tay o đỏ ửng lên như thể sắp rỉ máu. O không nói lời nào, chỉ lặng lẽ đứng tựa lưng vào cột nhà rường, mắt đăm đăm nhìn vào bát nước trên bàn.

Ông Tư đón lấy tờ giấy vàng từ tay Khánh. Ông không dùng bút lông mực đỏ ngay, mà tháo chiếc khăn vải xô đang quấn quanh cổ tay trái của mình ra. Vết thương cũ ở cổ tay ông - nơi ông từng trích máu để làm phép niêm phong mấy hôm trước - vẫn chưa lành miệng. Nó chỉ mới đóng một lớp vảy mỏng màu nâu xám. Ông dùng ngón tay cái ấn mạnh vào vết thương, ép ra một giọt máu đặc, đỏ sẫm, nhỏ thẳng vào bát nước sông Hương.

Giọt máu rơi xuống, không tan ra mà tụ lại thành một hạt tròn xoay nhẹ giữa làn nước đục.

Tiếp đó, Ông Tư cầm bút lông mực đỏ viết nhanh hai chữ "Ông Chính" lên tờ giấy vàng. Chữ viết của ông tuy run rẩy nhưng nét bùa vẫn vuông vức, mang theo cái uy lực của người từng đứng đầu một dòng phái. Viết xong, ông dùng đầu ngón tay dính bột mực đen từ Bao Vinh quẹt một đường ngang qua hai chữ đỏ ấy.

Một hiện tượng kỳ dị xảy ra ngay trước mắt họ.

Đường mực đen vừa chạm vào mặt giấy vàng liền giống như một sinh vật sống. Nó bắt đầu co giật, uốn éo rồi bò loang ra khỏi phạm vi nét vẽ ban đầu. Những sợi chỉ mực đen li ti như những con giun đất nhỏ xíu, quấn chặt lấy từng nét chữ "Ông Chính" màu đỏ, siết mạnh đến mức mặt giấy vàng bắt đầu nhăn nhúm lại.

Ông Tư lạnh lùng đánh một que diêm, châm vào góc tờ giấy.

Lửa bùng lên. Lửa cháy không có màu vàng ấm áp của giấy mã thông thường, mà tỏa ra một sắc xanh lét, lạnh ngắt. Sức nóng của ngọn lửa không tỏa ra xung quanh, ngược lại, Khánh cảm thấy một luồng khí buốt giá phả vào mặt mình. Khi tờ giấy cháy hết, tro tàn rơi xuống bát nước sông Hương, hạt máu tròn ở giữa bát lập tức vỡ tan, nhuộm cả bát nước thành một màu tím đen như mực cửu.

Cô Bảy run lên, o bước tới một bước, giọng o lạc đi.

- Hắn tìm anh. Dấu mực ni không đi tìm tà vật để cướp nữa. Hắn đang dò theo hơi thở của những người còn mang giao ước cũ với Thoải Phủ sông Hương. Anh Chính... hắn biết anh còn sống.

Ông Tư im lặng nhìn bát nước đen ngòm. Gương mặt ông dưới ánh chiều tà trông xám xịt như một pho tượng đất nung. Ông chậm rãi quấn lại chiếc khăn vải xô vào cổ tay, che đi vết thương đang rỉ nước vàng.

- Hắn biết từ lâu rồi.

Ông Tư nói, giọng phẳng lặng đến đáng sợ.

- Từ cái đêm thằng Khánh mở ngăn tủ số mười, hơi ấm của tiệm ni đã rò ra ngoài sông. Hắn chỉ chờ cho mạng lưới thu tên ở các bến hoàn tất để khóa đường nước lại thôi.

Khánh đập tay xuống bàn, thớ gỗ trắc kêu lên một tiếng trầm đục.

- Chú ở nguyên trong nhà cho con. Từ chừ cho tới ngày rằm, chú không được bước chân ra khỏi tiệm nửa bước. Việc ngoài bến, việc đối phó với người của Âm Vũ đã có con, có anh Phan Khanh với thằng Quang lo. Chú yếu lắm rồi, đừng có bày đặt gánh vác chi nữa.

Ông Tư ngước mắt nhìn Khánh. Ánh mắt ông không có sự giận dữ, chỉ có một nỗi buồn sâu thẳm khó tả. Ông khẽ lắc đầu.

- Mi nghĩ tường bùa của tiệm ni ngăn được hắn sao? Tường bùa xây trên đất liền, còn tiệm Vong Ký ni ba mặt hướng ra nước. Đường niêm ngoài bến sau mà bị cắt, hắn chỉ cần dâng nước âm lên nửa thước là cả cái nhà rường ni sẽ thành cái rọ nhốt tụi mình.

Đúng lúc đó, tiếng bước chân dồn dập từ ngoài ngõ kiệt vọng vào. Phan Khanh bước vào nhà, người anh vẫn còn đẫm nước mưa giông vừa đổ xuống. Anh vuốt nước trên mặt, thở dốc.

- Tôi vừa cho người lập rào chắn ở hai đầu kiệt dẫn vào tiệm. Lý do đưa ra với dân phố là sụt lún nền đường và rò rỉ cáp điện ngầm của thành phố. Sẽ không có người hiếu kỳ nào lảng vảng quanh đây nữa. Nhưng tôi cũng đã ra lệnh cho cấp dưới của mình... sau sáu giờ tối, tuyệt đối không ai được đi xuống mép nước sông Hương.

Phan Khanh nhìn sang Khánh, lắc đầu.

- Lúc nãy đi qua đoạn cầu Gia Hội, tôi thấy nước sông đứng im. Không có một chút dòng chảy nào, nhưng mực nước lại dâng cao hơn bình thường gần hai tấc. Chuyện ni không tự nhiên chút nào.

Khánh gật đầu, nét mặt đanh lại. Hắn quay sang Ông Tư.

- Chú nghe anh Khanh nói chưa? Người sống đã chặn đường bộ rồi. Chú chỉ cần giữ mạng mình trong phòng là được.

Ông Tư không trả lời Khánh. Ông chống gậy đứng dậy, tiếng đầu gậy gỗ gõ xuống nền gạch "cộc" một tiếng nặng nề.

- Để tau đi coi lại mấy cái điểm niêm ngoài bến.

Ông nói, giọng khàn đặc.

- Chú ngồi yên đó đi!

Khánh gắt, định bước tới giữ vai ông lại.

Nhưng Ông Tư gạt tay Khánh ra bằng một lực mạnh kinh người so với thân hình gầy yếu của ông. Ông không nhìn Khánh, chỉ chậm rãi bước ra phía cửa sau. Chân trái của ông kéo lê trên nền gạch ẩm ướt, tạo thành một vệt dài xám xịt. Bàn tay giữ gậy của ông run bần bật, mỗi bước đi đều khiến bả vai ông lệch hẳn sang một bên.

Khánh và Bồi lẳng lặng đi sau lưng ông. Quãng đường từ gian thờ ra đến bến nước sau nhà chưa đầy ba mươi mét, nhưng Ông Tư phải dừng lại đến hai lần để thở. Ông vịn tay vào cột rường, ngực phập phồng dữ dội, mồ hôi rịn ra thành từng hạt lớn trên trán, chảy dài xuống những nếp nhăn sâu hoắm trên má.

Đến mép bến nước, Ông Tư cúi xuống nhìn bốn góc cột gỗ cắm dưới lòng sông. Nơi đó có dán bốn lá bùa trấn thủy bằng vải đỏ, nay đã bị nước sông dâng lên liếm mất một nửa.

Khánh để ý thấy vệt máu đỏ tươi lại bắt đầu thấm qua lớp vải xô quấn cổ tay Ông Tư, loang ra thành một vòng tròn nhỏ. Hắn bước tới, nắm lấy khuỷu tay ông.

- Vết thương lại chảy máu rồi. Chú vô nhà nằm nghỉ đi, để con thay bùa cho.

Ông Tư lắc đầu, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào dòng nước sông Hương tối sẫm dưới chân bến.

- Bùa ni mi chưa thay được đâu. Máu của mi chưa đủ nặng để đè cái nước âm đang dâng ni. Đi vô lấy cho tau ba nén nhang xám trong hộc tủ thờ ra đây.

Khánh nhìn theo hướng tay Ông Tư chỉ. Lư hương bằng đồng đặt ở góc bến sau từ chiều đến giờ không có ai thắp nhang, nhưng ba chân nhang cũ cắm trong đó đã chuyển sang một màu xám xịt như tro xác người chết. Hắn cắn răng, quay vào nhà lấy nhang.

Khi Khánh trở ra, hắn thấy Ông Tư đang đứng cạnh Bồi. Thằng bé nhìn chằm chằm vào dòng sông, hai tai nó khẽ giật giật.

- Chú Tư...

Bồi nói nhỏ, giọng run run.

- Con nghe thấy tiếng nước chảy ngược dưới lòng sông. Hắn kêu rè rè như tiếng người ta kéo cưa rứa.

Ông Tư không nói gì, ông đón lấy ba nén nhang xám từ tay Khánh, châm lửa rồi cắm vào lư hương. Khói nhang bốc lên, không bay thẳng lên trời mà là là mặt nước, tụ lại thành một làn sương mỏng che khuất cả chân bến gỗ.

Làm xong, Ông Tư quay người đi vào gian thờ chính. Ông ngồi xuống chiếc ghế trường kỷ gỗ trắc, gương mặt mệt mỏi rã rời. Ông thò tay vào túi áo vải chàm đã sờn rách, lấy ra một vật nhỏ rồi đặt lên mặt bàn.

Đó là một miếng đồng dẹt, to bằng khoảng hai ngón tay, đã xỉn màu xanh rêu cổ kính. Một mặt của miếng đồng khắc thô sơ một chữ duy nhất: "Tích". Mặt kia có bảy vạch nước cắt ngang, các đường rãnh đã bị mòn vẹt, nhẵn thín do có người thường xuyên dùng ngón tay miết lên suốt nhiều năm trời.

Khánh vừa nhìn thấy miếng đồng liền khựng lại. Chữ "Tích" khắc trên đó giống hệt với nét chữ viết trong cuốn gia phả Nguyễn tộc mà Quang từng cho hắn xem.

- Cái ni... là chi đây chú?

Khánh bước lại gần, giọng hắn run lên.

- Sao tên cũ của con lại nằm trên miếng đồng của chú?

Ông Tư dùng ngón tay trỏ vuốt nhẹ lên chữ "Tích". Ánh mắt ông lúc này không còn vẻ nghiêm khắc thường ngày, chỉ còn lại sự dịu dàng và đau đớn tột cùng của một người già đang nhìn về quá khứ.

- Đây là vật cũ từ năm 1945.

Ông Tư nói chậm rãi.

- Người trông coi vật ni lâu nhất là tau. Hơi thở của tau, tiếng gậy của tau, cả cái mạng già ni của tau đều thấm vô miếng đồng ni rồi.

- Ai khắc chữ ni? Chú đúng không?

Khánh hỏi dồn, hai tay hắn chống xuống mặt bàn, người chồm về phía trước.

- Chú với con... rốt cuộc có quan hệ chi từ kiếp trước? Tại sao chú lại giữ hồn con suốt ngần ấy năm?

Ông Tư ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Khánh. Đôi mắt ông đục ngầu nhưng đầy kiên định.

- Người làm ra miếng đồng ni đã chết từ tám mươi mốt năm trước rồi. Mi không cần biết họ là ai. Việc của mi chừ là sống cho ra một con người, sống bằng cái tên Nguyễn Vĩnh Khánh của mi.

Nói rồi, Ông Tư quay sang Bồi, đẩy miếng đồng về phía thằng bé.

- Bồi, cầm lấy cái ni.

Thằng bé ngơ ngác nhìn Ông Tư, không dám đưa tay ra nhận.

- Chú Tư... cái ni của anh Khánh mà?

- Tau cho mi cầm.

Giọng Ông Tư trầm xuống, đầy vẻ nghiêm nghị.

- Âm giác của mi nhạy nhất trong cái tiệm ni. Miếng đồng ni đã theo tau hơn nửa đời người, nó nhận ra tiếng bước chân của tau, tiếng gậy của tau dưới đất. Một mai... nếu mi không còn nghe thấy tiếng gậy của tau gõ trong cái tiệm ni nữa, thì mi hãy đưa miếng đồng ni cho thằng Khánh.

Khánh nghe đến đó thì nổi giận lôi đình. Hắn giật lấy miếng đồng trên bàn, nhưng Ông Tư đã nhanh hơn, ông dùng bàn tay gầy guộc đè chặt lấy tay Khánh.

- Chú dặn dò kiểu chi rứa?

Khánh quát lên.

- Chú định tự mình đi nộp mạng cho Âm Vũ đúng không? Chú nghĩ chú chết đi thì con sống yên ổn được chắc?

- Tau không tự nộp mạng.

Ông Tư nhìn Khánh, giọng ông lạnh tanh nhưng ánh mắt lại như có lửa cháy.

- Nhưng nước sông Hương đã dâng tới chân bến rồi. Kẻ dưới sông muốn tìm là tau, chứ không phải mi. Miếng đồng ni là đường tìm dấu phòng hờ cho tụi bay, để lỡ có chuyện chi xảy ra, thằng Bồi còn biết đường mà chỉ cho mi đi tìm tau. Mi nghe rõ chưa?

Khánh nhìn bàn tay Ông Tư đang đè chặt lấy tay mình. Lực tay của ông yếu ớt, run rẩy, nhưng hắn không thể nào rút tay ra được. Trong cái siết tay ấy có một sự bảo bọc quá sâu, quá cũ, như thể ông đã giữ lời dặn này suốt nhiều năm mà vẫn nhất quyết không nói rõ vì sao.

Cô Bảy đứng bên cạnh thở dài một tiếng. O bước lại gần, đặt tay lên vai Khánh.

- Khánh... nghe lời chú mi đi. Hắn dặn không sai đâu. Thằng Bồi, mi cầm lấy miếng đồng đi con.

Bồi nhìn Cô Bảy, rồi nhìn sang Khánh. Thấy Khánh im lặng buông tay ra, thằng bé mới rụt rè đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình cầm lấy miếng đồng khắc chữ "Tích".

Ngay khi miếng đồng vừa nằm gọn trong lòng bàn tay Bồi, thằng bé bỗng giật mình một cái. Đôi mắt nó trợn tròn, hai tai khẽ động đậy như đang cố bắt lấy một tần số âm thanh mờ nhạt nào đó từ cõi hư vô.

- Bồi, mi nghe thấy chi không?

Khánh hỏi, giọng hắn chùng xuống đầy lo lắng.

Bồi nhắm nghiền mắt lại. Miếng đồng trong tay nó bắt đầu tỏa ra một luồng khí lạnh, khiến những ngón tay nhỏ bé của thằng bé run lên bần bật.

- Con nghe thấy...

Bồi thì thào, giọng nó như từ một nơi rất xa vọng về.

- Tiếng gậy của chú Tư... Cộc... cộc... Tiếng gậy gõ trên nền gạch của tiệm mình. Rồi có tiếng nước sông vỗ vô chân bến sau... Hai tiếng ni cứ quấn lấy nhau, nghe gần lắm...

Khánh thở phào một hơi. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, gương mặt Bồi bỗng nhiên biến đổi dữ dội. Trán thằng bé lấm tấm mồ hôi, hai bên thái dương giật liên hồi.

- Nhưng mà... phía sau...

Bồi bắt đầu thở dốc, người nó run lên cầm cập.

- Phía sau tiếng gậy của chú Tư... có tiếng chi ghê lắm. Tiếng gỗ... tiếng gỗ lớn lắm đang nghiến vô nhau... Rầm... rầm... rầm... Giống như có cái nhà bằng gỗ đang trôi dưới lòng nước sâu... Hắn đang đi tới... Hắn đang đi sát vô bến sau của mình rồi!

- Bồi! Buông ra!

Khánh hét lên.

Hắn lao tới, gạt mạnh tay Bồi. Miếng đồng tuột khỏi tay thằng bé, rơi thẳng vào chiếc chậu đồng đựng nước phép đặt trên bàn thờ ngay cạnh đó.

Dòng chữ hoặc âm thanh hiện ra: "Tõm" một tiếng. Miếng đồng chìm xuống đáy chậu.

Bồi ngã quỵ xuống đất, thở hổn hển, hai tay ôm chặt lấy tai. Khánh đỡ thằng bé dậy, vuốt ngực cho nó.

- Mi có sao không? Có bị chảy máu tai không?

Bồi lắc đầu, gương mặt nó cắt không còn giọt máu, đôi mắt đầy vẻ kinh hoàng nhìn về phía chiếc chậu đồng.

- Eng Khánh... cái tiếng gỗ nghiến đó... Hắn to lắm. Hắn không phải ghe thường đâu. Hắn giống như cái nhà rường trôi sông rứa... Hắn đang ở dưới nước... ngay sát bến sau của mình rồi.

Khánh quay đầu nhìn vào chiếc chậu đồng trên bàn thờ.

Nước trong chậu vốn là nước phép đã được niêm phong bằng tro hương và lá bùa đỏ, lúc này mặt nước bỗng nhiên gợn sóng liên tục dù trong phòng hoàn toàn kín gió. Những tia nước nhỏ li ti bắn lên thành chậu như thể có một lực chấn động mạnh từ bên dưới dội lên.

Từ đáy chậu, ngay phía trên miếng đồng khắc chữ "Tích" đang nằm im lìm, làn nước đục chầm chậm xoay tròn.

Một bóng đen mờ ảo bắt đầu hiện lên trên mặt nước. Đó là hình ảnh một cột buồm lớn bằng gỗ, với những sợi dây thừng quấn quanh thân cột đang chầm chậm lướt qua mặt nước chậu. Bóng của cột buồm rõ nét đến mức người ta có thể nhìn thấy cả những vết nứt trên thớ gỗ và những sợi rong rêu đen kịt bám dọc theo thân cột.

Cột buồm lướt qua, để lại một vệt nước đen ngòm, lạnh ngắt trong chậu đồng.

Khánh lao ra phía cửa sổ nhìn xuống bến sông Hương sau nhà.

Ngoài sông, trời đã sụp tối hoàn toàn. Màn sương mỏng từ ba nén nhang xám vẫn đang là là trên mặt nước. Dòng sông Hương phẳng lặng như một tờ giấy đen, không có một ánh đèn, không có một tiếng động, và tuyệt nhiên không có bất kỳ một chiếc ghe bầu hay cột buồm nào xuất hiện trên mặt nước vật lý.

Nhưng dưới lòng sông âm, thứ đó vẫn đang chầm chậm tiến vào bến sau của tiệm Vong Ký.

Chương khác

Xem thêm