TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 209: Đêm Trước Rằm

Khánh dùng tấm vải nỉ tẩm nước gừng chà mạnh lên vành chiếc khánh đồng nhỏ nhất treo trên giá gỗ. Tiếng kim loại va chạm phát ra những âm thanh đục ngầu,…

Nội dung chương

Khánh dùng tấm vải nỉ tẩm nước gừng chà mạnh lên vành chiếc khánh đồng nhỏ nhất treo trên giá gỗ. Tiếng kim loại va chạm phát ra những âm thanh đục ngầu, ngắn ngủn rồi tắt lịm trong bầu không khí đặc quánh của tiệm Vong Ký. Ngoài kia, trời đã sụp tối từ lâu, nhưng cái nóng hầm hập của những ngày cuối tháng Bảy âm lịch vẫn không chịu tan. Hơi nước từ sông Hương bốc lên, mang theo mùi bùn non và mùi rong rêu mục rữa, quấn chặt lấy những hàng cột rường đen bóng trong tiệm.

Cô Bảy ngồi bên chiếc bàn gỗ trắc ở gian ngoài, ngón tay o chầm chậm lướt qua những dòng chữ in trên cuốn lịch bloc cỡ lớn. Vết sẹo hình chữ X ở cổ tay o đỏ ửng lên, trông như một vết hằn mới tinh dưới ánh đèn dầu tù mù. O dừng ngón tay lại ở trang lịch ghi ngày mai - ngày rằm tháng Bảy năm Bính Ngọ.

- Ngày mai đó con.

Cô Bảy không ngẩng đầu lên, giọng o nhỏ và đều như tiếng nước chảy dưới gầm bến.

- Đúng lúc sang ngày hai mươi bảy, vào giờ Tý đêm ni, Cửa mới thực sự mở. Cửa tự nhiên của dòng sông ni chỉ mở đúng mười hai ngày, từ rằm cho tới ngày hai mươi sáu. Qua thời hạn đó, Cửa tự khép, vong mô chưa kịp đi thì phải đợi thêm sáu mươi năm nữa.

Khánh đặt chiếc khánh đồng xuống bàn, dùng vạt áo lau mồ hôi trên trán.

- Rứa mấy cái bóng người đi nghênh ngang giữa chợ Đông Ba ban ngày mấy bữa ni là răng o? Bọn hắn chưa tới rằm đã tràn lên rồi tê.

Cô Bảy lắc đầu, o lật tờ lịch sang một bên để lộ ra phần giấy trắng phía sau.

- Đó không phải là Cửa mở sớm. Đừng có lầm. Đó là do luồng âm khí dưới sông bị rò rỉ quá nặng. Tay chân của tên Hồ Vũ đang dùng cái quyển Vong Ký đen kia để cưỡng ép mở thử các ngõ nước phụ. Hắn muốn gom cho đủ tên trước khi Cửa chính thức mở lúc nửa đêm ni. Vong hồn bị hắn cướp tên thì mất hết thần trí, cứ rứa mà trôi nổi lên mặt nước vật lý giữa ban ngày.

Khánh im lặng. Hắn nhìn ra phía bến sông sau nhà. Mặt sông Hương tối đen như một tấm vải liệm khổng lồ, phẳng lặng đến mức không thấy một gợn sóng nhỏ. Nhưng hắn biết, ngay dưới lớp nước êm đềm kia, dòng Âm Hương đang cuộn chảy xiết hơn bao giờ hết.

Cửa tiệm khẽ kẽo kẹt mở ra. Quang bước vào, nách kẹp một ống bản đồ bằng nhựa sẫm màu. Gương mặt anh giáo viên lịch sử phờ phạc, mắt thâm quầng vì thiếu ngủ nhiều đêm liền. Quang không chào hỏi ai, đi thẳng tới bàn gỗ rồi trải tấm bản đồ Huế khổ lớn ra. Anh dùng mấy chiếc chặn giấy bằng đồng đè chặt bốn góc bản đồ, rồi rút cây bút chì đỏ trong túi áo ra.

- Khánh, mi lại đây xem cái ni.

Quang gõ đầu bút chì xuống mặt giấy.

- Tau vừa đối chiếu lại các thư tịch cũ của dòng họ Nguyễn ở Bao Vinh với các điểm rò âm mà thằng Bồi nghe được. Nhìn kỹ đi.

Khánh bước lại gần, cúi đầu nhìn theo nét vẽ của Quang. Trên bản đồ, năm địa điểm đã được khoanh tròn bằng mực đỏ: hang Bích Động ở phía tây, chợ Đông Ba ở trung tâm. Bến Bao Vinh ở phía bắc, tiệm Vong Ký tại Gia Hội và điểm cuối cùng là Cồn Hến nằm ở phía đông nam.

Quang dùng bút chì vẽ một đường nối năm điểm đó lại với nhau. Một đường vòng cung lớn hiện ra, ôm trọn lấy khúc sông Hương chảy qua kinh thành.

- Các ngõ rò âm này tạo thành một mạng lưới thu gom tên người chết.

Giọng Quang trầm xuống, đầy vẻ lo ngại.

- Toàn bộ luồng nước âm mang theo những cái tên bị cướp đều chảy qua đoạn sông ngay phía sau bến của tiệm mình trước khi đổ về Cửa lớn ở Cồn Hến. Tiệm Vong Ký chính là cái chốt chặn cuối cùng trên đường nước đó. Nếu chúng ta không giữ được bến sau tối nay, toàn bộ số tên vong mà Âm Vũ gom được sẽ đổ thẳng về Cồn Hến, lúc đó hắn sẽ xé rộng Cửa ra ngoài tầm kiểm soát.

Phan Khanh bước vào từ phía cửa sau của tiệm, mang theo luồng gió sông lạnh ngắt. Chiếc áo khoác cảnh sát của anh lấm tấm những giọt nước mưa nhỏ. Phan Khanh đứng tựa lưng vào cột nhà, hai tay khoanh trước ngực, nét mặt đanh lại dưới ánh đèn.

- Tôi đã cho anh em phong tỏa toàn bộ các lối kiệt dẫn ra bến Gia Hội.

Phan Khanh nói, giọng kìm nén.

- Lấy lý do là diễn tập phòng chống lụt bão đầu mùa. Dân quanh vùng đã được vận động di dời tạm thời sang nhà người thân ở phía trong trục đường lớn. Hai xe cứu thương cũng đã túc trực ở đầu kiệt chính.

Khánh nhìn Phan Khanh, hỏi nhỏ.

- Còn mấy người bên đội của anh thì răng? Có ai tò mò đi lung tung không?

- Tôi đã quán triệt kỹ.

Phan Khanh nhìn thẳng vào mắt Khánh.

- Bất kỳ ai thấy đồ vật lạ, đặc biệt là đồ cổ hay các mảnh gỗ trôi sông, tuyệt đối không được tự ý chạm tay vào. Mọi việc ở mép nước ngoài bến sau đều do tôi trực tiếp giám sát. Người thường chạm vào những thứ đó lúc này chỉ có con đường chết.

Khánh gật đầu. Hắn bước vào kho niêm liền phía đông gian thờ, nơi chiếc đèn thờ Bích Động đã được đưa từ núi về tiệm từ hôm trước, sau đó niêm giữ và đặt vào điểm trấn phía đông cho đêm nay. Chiếc đèn bằng đồng cũ kỹ, rỉ sét xanh rì, bên trong là ngọn lửa màu xanh lục bảo đang cháy đứng bóng. Vong hồn của Lê Thị Tươi đã chấp nhận để ngọn đèn này làm mỏ neo giữ vững điểm niêm phong phía đông của tiệm.

Khánh đưa ngón tay chạm nhẹ vào thành đèn lạnh ngắt. Ngọn lửa xanh khẽ chao nghiêng một nhịp như thể đang chào hắn, rồi lại tiếp tục cháy thẳng đứng.

- Chị Tươi, tối nay nhờ chị giữ giùm cái góc ni.

Khánh thì thầm.

- Nước sông có dâng lên thì chị cứ giữ ngọn lửa cháy cho vững. Đừng để âm khí tràn vô nhà.

Ngọn đèn khẽ bừng sáng lên một nhịp thay cho lời đáp. Khánh biết, ngọn lửa này có thể giữ ổn định được luồng khí rò rỉ từ kho niêm phía đông, nhưng nó hoàn toàn bất lực trước những cái tên đã bị ghi vào quyển Vong Ký đen của Âm Vũ. Những cái tên đó mang theo oán niệm quá nặng, chỉ có Hương Thuật chính tông của tiệm mới ngăn nổi.

Hắn quay vào gian thờ chính.

Ông Tư đang ngồi bệt dưới nền gạch rêu phong, sát bức tường rào phía sau nhà. Chiếc gậy gỗ lim đặt nằm ngang đùi ông, hai ống quần xắn cao để lộ đôi chân gầy guộc, xám xịt như da người chết. Trên mặt đất bên cạnh ông là một chậu tro hương trộn với vài giọt máu vừa lấy từ đầu ngón tay mình và nước sông Hương được múc vào giờ Tý đêm qua.

Ông Tư dùng những ngón tay run rẩy, chấm vào chậu nước phép rồi vẽ những đường bùa ngoằn ngoèo lên từng lá Bùa Giáp Hương bằng giấy vàng. Mỗi lần vẽ xong một lá, ông lại áp chặt nó vào những kẽ nứt trên bức tường gạch cổ.

- Một lá... hai lá...

Ông Tư lầm rầm đọc chú, giọng khàn đặc như tiếng hai viên sỏi cọ vào nhau.

Khánh đứng nhìn bóng lưng còng của ông già. Hắn thấy bả vai ông run lên bần bật theo từng nhịp thở. Đến lá bùa thứ bảy, khi ngón tay Ông Tư vừa chạm vào mặt giấy vàng, lồng ngực ông đột ngột co thắt dữ dội. Ông gập người xuống, ho lên một tiếng khan.

Một dòng máu đỏ sẫm, đặc quánh tràn ra từ khóe miệng ông, nhỏ thẳng xuống lá bùa chưa kịp dán.

- Chú Tư!

Khánh lao tới, đỡ lấy bả vai gầy guộc của ông già.

Lực tay của Ông Tư yếu đến mức khi Khánh chạm vào, cả người ông suýt đổ nghiêng sang một bên. Khánh phải dùng cả hai tay mới giữ cho ông ngồi vững được. Hắn giật lấy xấp bùa giấy vàng còn lại trên tay ông, giọng gắt lên để giấu đi sự lo lắng.

- Đã nói để đó tau làm cho mà không chịu nghe. Ông muốn chết sớm hay răng? Ngồi yên đó đi!

Ông Tư không cãi lại. Ông dùng vạt áo lau vệt máu trên cằm, đôi mắt đục ngầu nhìn Khánh dán nốt những lá bùa còn lại lên tường.

- Phải dán cho khít các kẽ gạch.

Ông Tư thào thào dặn dò.

- Nước sông Hương đêm nay lạnh lắm. Chỉ cần hở một kẽ nhỏ bằng đầu tăm, khí âm cũng sẽ luồn vô phá nát cái nền tiệm ni. Mi nhớ chưa, Khánh?

- Biết rồi. Khổ lắm, nói mãi.

Khánh vừa lầm bầm vừa miết chặt lá bùa thứ mười hai vào góc tường.

Ngay khi lá bùa cuối cùng được niêm phong, một luồng gió lạnh từ ngoài sông thổi thốc vào, làm những lá bùa giấy vàng trên tường rung lên xào xạc nhưng không một lá nào bị bong ra. Khánh thở phào một hơi, quay lại đỡ Ông Tư đứng dậy. Nhưng ông già lắc đầu, chỉ tay về phía chiếc chậu đồng đựng nước phép đặt trên bàn thờ phụ ở góc phòng.

Bên cạnh chậu đồng, Bồi đang ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói nhỏ. Hai bàn tay nhỏ nhắn của thằng bé áp chặt vào miếng đồng khắc chữ "Tích" mà Ông Tư đã đưa cho nó lúc chiều. Đôi mắt thằng bé nhắm nghiền, hai bên tai khẽ giật giật liên tục như đang cố bắt lấy một tần số âm thanh mờ nhạt nào đó từ cõi hư vô.

Khánh bước lại gần, ngồi xổm xuống trước mặt Bồi.

- Răng rồi con? Nghe thấy chi không?

Trán Bồi lấm tấm mồ hôi dù căn phòng đang lạnh dần. Miếng đồng trong tay nó tỏa ra một luồng hơi nước mỏng, làm những ngón tay thằng bé run lên bần bật.

- Eng Khánh...

Giọng Bồi run run, mắt vẫn nhắm chặt.

- Con nghe thấy tiếng gỗ. Tiếng gỗ lớn lắm đang nghiến vô nhau... Kẽo... kẹt... kẽo... kẹt... Giống như người ta đang chèo một cái nhà bằng gỗ đi dưới nước rứa.

- Hắn đi tới đâu rồi?

Khánh hỏi dồn.

- Hắn đi qua khúc bến Bao Vinh rồi.

Bồi thở dốc, hai tay siết chặt miếng đồng hơn.

- Hắn đang đi dọc theo đường nước âm, hướng thẳng về phía sau tiệm mình. Tiếng gỗ nghiến nghe nặng lắm, giống như cái ghe ni chở đầy đá rứa. Nhưng không phải đá... Con nghe thấy tiếng người ta thở dài ở trỏng nữa. Nhiều người lắm eng ơi.

Cô Bảy bước lại gần chậu đồng. O cúi đầu nhìn vào mặt nước đang gợn sóng liên tục dù trong phòng hoàn toàn kín gió.

Từ đáy chậu đồng, một bóng đen mờ ảo bắt đầu hiện lên trên mặt nước đục. Đó là hình ảnh một cột buồm lớn bằng gỗ, với những sợi dây thừng quấn quanh thân cột đang chầm chậm lướt qua. Bóng của cột buồm rõ nét đến mức có thể nhìn thấy cả những vết nứt sâu trên thớ gỗ và những sợi rong rêu đen kịt bám dọc theo thân cột.

- Ghe bầu cũ.

Cô Bảy thì thào, gương mặt o chợt biến sắc.

- Kiểu ghe bầu cổ thời nhà Nguyễn. Nhưng răng cái mũi ghe lại tối đen như rứa kia?

Khánh cúi xuống nhìn kỹ hơn. Phần mũi của chiếc ghe bầu hiện lên trong chậu nước hoàn toàn bị bao phủ bởi một màu đen đặc quánh. Khi nhìn kỹ, màu đen đó được tạo thành từ hàng ngàn nét chữ viết tên người chồng chéo lên nhau, xô đẩy và uốn lượn như những con giun đất dưới bùn. Đó là những cái tên đã bị ghi vào quyển Vong Ký đen, đang bị dùng làm lá chắn bảo vệ cho chiếc ghe bầu di chuyển trong lòng sông âm.

- Bọn hắn dùng tên người chết để che mắt thần linh dưới sông.

Ông Tư lên tiếng từ phía sau, giọng ông đầy vẻ căm phẫn.

- Chiếc ghe bầu ni đi tới đâu, nước sông Hương sẽ bị nhuộm đen tới đó. Nếu để hắn cập vô bến sau của tiệm, toàn bộ trận pháp phòng thủ của mình sẽ bị mực đen của hắn xóa sạch.

Quang đứng bên cạnh Khánh, nhìn chằm chằm vào bóng chiếc ghe bầu trong chậu nước rồi quay sang hỏi nhỏ.

- Khánh, nếu tối nay phòng tuyến này bị phá vỡ... mi sợ nhất điều chi?

Khánh khựng lại một nhịp. Theo bản năng của một kẻ lười biếng và hay cợt nhả, hắn định nói một câu đùa để xua tan bầu không khí ngột ngạt này. Hắn định bảo rằng hắn sợ nhất là không có tiền tiêu tết, hoặc sợ tiệm bị sập thì không có chỗ ngủ.

Nhưng khi hắn quay đầu lại, nhìn thấy Ông Tư đang phải bám chặt hai tay vào mép bàn thờ gỗ để giữ cho cơ thể suy kiệt không ngã quỵ, lời đùa cợt bỗng nghẹn lại nơi cổ họng. Dưới ánh đèn dầu lay lắt, gương mặt Ông Tư xám ngoét, vệt máu khô bên khóe miệng trông như một vết nứt sâu trên một pho tượng đất cổ kính sắp rã ra thành bụi.

Khánh nhìn đôi bàn tay gầy guộc, nổi đầy gân xanh của ông già đang run lên bần bật vì cố sức. Hắn chợt nhận ra một sự thật mà bấy lâu nay hắn luôn cố tình lảng tránh. Hắn sợ. Hắn thực sự sợ cái ngày ông già này không còn ngồi ở góc tiệm để chửi hắn nữa. Hắn sợ cái ngày chiếc gậy gỗ lim kia không còn gõ cộc cộc trên nền gạch mỗi khi hắn đi chơi về muộn.

Nhưng Khánh không nói ra. Hắn chỉ nuốt khan một cái rồi quay đi, giọng hắn lạnh lùng.

- Hỏi nhảm nhí. Lo mà giữ cái bản đồ của mi đi.

Bỗng nhiên, một tiếng "tách" nhẹ vang lên từ phía bến sau nhà.

Đốm sáng màu vàng từ lá bùa niêm phong treo trên cọc gỗ ngoài mép nước đột ngột tắt phụt trong vòng một nhịp thở, rồi mới bùng sáng trở lại. Sự gián đoạn diễn ra nhanh đến mức nếu không nhìn chằm chằm vào đó, người ta sẽ nghĩ đó chỉ là do gió thổi làm lay động ngọn lửa.

Ông Tư lập tức gõ mạnh đầu gậy xuống nền gạch.

- Cộc!

- Bọn hắn đang đo thời gian phản ứng của trận pháp.

Giọng ông già đanh lại.

- Kẻ dưới sông chưa đánh thẳng vô đâu. Hắn đang thả những luồng âm khí nhỏ để dò xét xem chúng ta mất bao lâu để nối lại điểm niêm phong bị đứt.

Khánh bước nhanh ra phía cửa sau. Hắn nhìn dòng sông Hương tối đen ngoài kia, rồi quay lại nhìn Ông Tư. Không một lời giải thích, Khánh bước tới, đưa tay ra giật lấy chùm chìa khóa cửa bến sau đang giắt bên hông của ông già.

Ông Tư ngẩng đầu nhìn Khánh. Ánh mắt ông có chút ngỡ ngàng, rồi nhanh chóng chuyển sang vẻ cam chịu mệt mỏi. Ông không giật lại chìa khóa, cũng không lớn tiếng chửi mắng như mọi khi.

- Chú Tư ngồi yên trong gian thờ ni cho con.

Khánh nói, giọng hắn trầm và dứt khoát.

- Tuyệt đối không được bước ra ngoài bến sau, dù có nghe thấy bất kỳ tiếng động chi. Con giữ chìa khóa rồi. Chú có muốn ra cũng không được đâu.

Ông Tư lặng lẽ gật đầu, ông buông tay khỏi mép bàn thờ rồi chầm chậm ngồi xuống chiếc ghế tựa bằng gỗ trắc ở góc phòng. Chiếc gậy gỗ lim đặt đứng bên cạnh ông, trông như một cái bóng đen dài in lên bức tường gạch cổ.

Khánh quay sang nói với Phan Khanh và Quang.

- Mọi người trông coi nguyên vị trí. Từ chừ tới qua nửa đêm là khoảng thời gian nguy hiểm nhất. Bất kỳ động tĩnh nhỏ nào ngoài bến sông cũng phải báo cho tui ngay.

Trời bắt đầu đổ mưa rào. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên những mái ngói liệt cổ kính của tiệm Vong Ký, rồi nhanh chóng chuyển thành một tiếng rào rào lớn phủ kín cả không gian. Gió sông thổi mạnh hơn, mang theo những giọt nước mưa lạnh ngắt tạt thẳng vào cửa sổ.

Bồi đột ngột kêu lên một tiếng thất thanh.

- Eng Khánh! Cái chậu nước... cái chậu nước có tiếng gõ!

Khánh lao lại phía bàn thờ phụ.

Nước trong chậu đồng lúc này đang sôi lên sùng sục như có lửa đốt phía dưới. Từ đáy chậu, ngay phía trên miếng đồng khắc chữ "Tích", một tiếng động đục ngầu vọng lên.

Dòng chữ hoặc âm thanh hiện ra: "Cộc... Cộc... Cộc..."

Ba tiếng gõ đều đặn, khô khốc vang lên từ lòng nước sâu, nghe nhịp điệu giống hệt tiếng gậy gõ của Ông Tư lúc nãy. Nhưng tiếng gõ này mang theo một luồng âm khí lạnh buốt, khiến mặt nước chậu đồng lập tức ngưng tụ lại thành một lớp băng mỏng màu đen kịt.

Ngay trên lớp băng đen đó, năm vệt nước hình ngón tay bắt đầu hiện rõ nét. Năm dấu tay đen kịt, ẩm ướt như bùn sông bám chặt lấy mép chậu đồng, rồi từ từ lan rộng ra như thể có một bàn tay vô hình đang cố bấu víu để leo lên từ dưới đáy chậu.

Cùng lúc đó, ngoài bến sau nhà, một tiếng "rắc" giòn giã vang lên giữa tiếng mưa rơi tầm tã.

Nén nhang lớn cắm trên bát hương bảo vệ ngoài mép nước đột ngột gãy đôi làm hai nửa rơi xuống dòng sông đen kịt.

Năm dấu tay đen kịt đồng loạt xuất hiện trên mép gỗ của bến sau, siết mạnh vào thớ gỗ ẩm ướt từ phía dưới lòng sông âm.

Chương khác

Xem thêm