TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 206: Trả Tên Lê Thị Tươi
Mưa Huế tháng Bảy âm lịch trút xuống như trút nước. Những con kiệt nhỏ dẫn vào Bến Ngự ngập xấp xỉ mắt cá chân, dòng nước đục ngầu cuộn lên từ các miệng…
Nội dung chương
Mưa Huế tháng Bảy âm lịch trút xuống như trút nước. Những con kiệt nhỏ dẫn vào Bến Ngự ngập xấp xỉ mắt cá chân, dòng nước đục ngầu cuộn lên từ các miệng cống sát bờ sông. Khánh kéo sụp chiếc mũ áo khoác gió, bước đi lầm lũi trong bóng tối. Quang đi bên cạnh, một tay giữ chặt chiếc túi da chứa tài liệu lịch sử trước ngực để tránh bị ướt, tay kia cầm chiếc đèn pin nhỏ rọi đường. Phan Khanh đi sau cùng, bước chân của người cảnh sát hình sự vẫn vững chãi dù bùn đất bắn đầy ống quần.
- Cậu Khánh, có chắc là nhà thờ họ Lê ở đoạn này không?
Phan Khanh hỏi lớn để át tiếng mưa rơi rầm rập trên những mái tôn dọc đường.
- Ngay phía trước thôi anh Khanh.
Khánh trả lời, giọng hắn khản đi vì lạnh.
- Sát bờ sông, gần đoạn cầu Phủ Cam chừ. Nhà thờ đó nằm ở thế đất trũng, nước dâng thế này thế nào cũng ngập đến thềm đá.
Đúng như Khánh dự đoán, khi ba người rẽ vào khoảng sân rộng trước từ đường họ Lê, nước sông Hương đã tràn qua mép thềm đá xanh. Những cây hoa trang, hoa ngâu trồng trong chậu sứ trước sân chìm trong làn nước đục. Ông Tấn đã đứng chờ sẵn ở bậc cửa, chiếc đèn bão trên tay ông cụ đung đưa theo từng cơn gió giật, hắt ra những vệt sáng vàng vọt, yếu ớt.
- Vào đi các chú, vào nhanh kẻo lạnh.
Ông Tấn hối hả gọi, giọng ông cụ run run vì gió lạnh bờ sông thổi vào.
Gian từ đường họ Lê hiện ra với vẻ trang nghiêm nhưng lạnh lẽo. Những cột gỗ lim đen bóng nâng đỡ mái ngói cổ kính, trên tường treo những bức hoành phi khắc chữ Hán sơn son thếp vàng đã xỉn màu theo thời gian. Mùi ẩm mốc của gỗ cổ hòa quyện với mùi nước sông dâng cao tạo nên một bầu không khí ngột ngạt.
Ông Tấn đặt chiếc đèn bão lên chiếc bàn gỗ dài giữa gian từ đường, rồi đi đến bàn thờ tổ, cẩn thận đặt tấm bài vị gỗ mít bị bào trắng cạnh trang gia phả bổ sung. Khánh không vội vàng. Hắn đứng yên một lát để điều hòa lại nhịp thở, cảm nhận hơi lạnh từ vết bớt hình cá đỏ trên vai đang giảm dần sau khi hắn bước vào không gian từ đường này. Hắn mở túi da của Quang, chậm rãi lấy ra từng món tài liệu được bọc trong các túi nylon chống nước.
- Ông Tấn, và cả hai người nữa.
Khánh nhìn Phan Khanh và Quang.
- Chuyện của o Tươi không chỉ là chuyện của cõi âm. Nó là một món nợ của người sống để lại. Trăm năm trước, người ta vì sợ hãi, vì muốn giữ sự an toàn cho dòng họ mà cướp đi danh tính của một người con gái. Hôm nay, trước bàn thờ tổ tiên họ Lê, chúng ta phải trả lại sự thật cho o.
Khánh cầm bản sao tờ trình buộc tội lên. Dưới ánh sáng vàng vọt của đèn bão và ngọn nến vừa được thắp, những nét chữ Hán khắc dập hiện lên sắc nét. Khánh đọc nguyên văn lời cáo buộc.
- Lê Thị Tươi, con gái thứ ba của nhà họ Lê ở Bến Ngự, bị cáo buộc cầm đèn đứng bên bờ để chỉ đường cho toán truy bắt những người chạy khỏi Kinh thành. Tội danh: chỉ điểm, tiếp tay bắt người chạy loạn; tên bị xóa khỏi gia phả, bài vị không được đưa vào từ đường.
Khánh dừng lại một nhịp, nhìn vào tấm bài vị gỗ mít bị bào trắng hếu. Hắn tiếp tục cầm bức thư tay của Lê Văn Chương.
- Nhưng đây là lời thú nhận của người em trai Lê Văn Chương, viết ngày mồng năm tháng tám năm Ất Dậu: "Chị ba không phải kẻ chỉ điểm. Chị đã dùng đèn dẫn đường cho gia đình chú tư và người nhà chạy trốn khỏi Kinh thành. Chị bị lính bắn chết bên bến sông. Cha ta vì muốn giữ mạng sống cho cả dòng họ khỏi án tru di nên buộc phải cắt tên chị khỏi gia phả và bào trắng bài vị. Kẻ làm em này bất lực không thể kêu oan cho chị, chỉ mong hậu thế phục hồi lại tên chị trên bàn thờ tổ nghiệp."
Quang đẩy gọng kính, bổ sung bằng giọng trầm tĩnh của một nhà nghiên cứu.
- Tôi đã đối chiếu danh sách mười một người được cứu trong sổ cứu tế của nha môn Bến Ngự năm đó. Tất cả họ đều sống sót sau trận càn và được di tản về phía phá Tam Giang. Không có ai bị bắt hay bị giết trong đêm đó cả. Điều này chứng minh lời cụ Lê Văn Chương viết là hoàn toàn chính xác. O Tươi đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy sự an toàn cho mười một người đồng bào, và dòng họ này đã nợ o một lời xin lỗi suốt trăm năm qua.
Ông Tấn nhìn vào bức thư tay của tổ tiên, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy chạm vào thớ giấy bản ố vàng. Ông cụ quỳ sụp xuống trước bàn thờ tổ, đầu chạm vào nền gạch tàu lạnh ngắt.
- O ba ơi... Con cháu vô năng, để o phải chịu lạnh lẽo nơi am hoang suốt bấy nhiêu năm trời. Chúng con thật có tội với tổ tiên, có tội với o.
Khánh đỡ ông Tấn đứng dậy, đưa cây bút lông đã được chấm mực đen cho ông cụ.
- Ông Tấn, việc này thuộc về trách nhiệm của người sống. Tui không thể viết thay ông. Xin ông tự tay ghi lại tên o vào gia phả bổ sung của dòng họ. Có như rứa thì o mới có danh tính ở dương gian để mà đi qua Cửa.
Ông Tấn đón lấy cây bút lông, cổ tay ông run rẩy nhưng ánh mắt đầy quyết tâm. Ông cụ đặt bút lên trang giấy bản bổ sung của gia phả dòng họ Lê, nắn nót viết từng nét chữ.
Dòng chữ hoặc âm thanh hiện ra: "Lê Thị Tươi, con thứ ba, mất năm Ất Dậu (1885)."
Từng nét chữ đen nhánh hiện lên rõ ràng trên trang giấy bản màu vàng ngà. Cùng lúc đó, Khánh cầm bản sao sổ chi họ Lê đã bị bôi đen một khoảng lớn bằng mực tàu xưa. Hắn mở chai nước sông Hương mang theo, nhỏ vài giọt lên vệt mực đen loang lổ trên mặt giấy.
Nước sông Hương thấm vào lớp mực cổ. Khánh dùng một chiếc khăn bông sạch, nhẹ nhàng miết lên vệt đen. Lớp mực tàu bám chặt hàng thế kỷ bắt đầu tan ra dưới tác động của nước sông, để lộ ra những nét chữ chìm phía dưới. Tên của Lê Thị Tươi hiện lại nguyên vẹn: "Lê Thị Tươi - Nữ - Sinh năm Tự Đức thứ mười ba". Vệt mực xóa cũ vẫn đọng lại thành một quầng xám mờ bên cạnh, chứng tích lịch sử cho những gì nàng đã phải trải qua.
- Nhìn kìa.
Quang khẽ reo lên, chỉ vào vệt mực vừa được làm sạch.
- Tên của o vẫn ở đó, chỉ là bị người ta cố tình che giấu đi thôi. Chừ thì sự thật đã sáng tỏ rồi.
Khi nét chữ cuối cùng trong gia phả bổ sung vừa ráo mực, tấm bài vị bằng gỗ mít bị bào trắng đặt trên bàn thờ bỗng phát ra một luồng ánh sáng xanh nhạt. Ánh sáng dịu nhẹ như ánh đèn dầu lạc xưa cũ. Từ trong thớ gỗ mít, một cái bóng mờ ảo dần hiện lên. Cái bóng không bước ra ngoài thành hình người sống, chỉ in mờ trên mặt gỗ phẳng lặng. Đó là dáng hình một người phụ nữ mặc áo ngũ thân giản dị, tóc búi sau gáy, gương mặt thanh tú nhưng đượm buồn.
Cái bóng cúi đầu thật thấp trước bàn thờ tổ tiên họ Lê, rồi quay sang nhìn Khánh và ông Tấn. Giọng nói của Lê Thị Tươi vang lên, nhỏ nhẹ và thanh thản như tiếng gió thoảng qua kẽ lá.
- Tên của tôi... cuối cùng đã được trả lại rồi.
Ông Tấn ngước lên, nghẹn ngào.
- O ba... Chúng con sẽ lập bàn thờ riêng cho o, hương khói suốt đời.
Cái bóng trên mặt gỗ lắc đầu nhẹ.
- Không cần đâu. Tôi không cần con cháu phải thờ riêng, cũng không oán hận những người đã khuất. Chuyện cũ đã qua, danh tính đã tỏ. Tôi chỉ cần việc mình làm được ghi lại đúng sự thật là đủ.
Cái bóng quay sang nhìn Khánh, ánh mắt mờ ảo dừng lại trên gương mặt hắn.
- Cậu Khánh... Tôi cũng sẽ không buộc đứa trẻ kia phải kế tục ngọn đèn nữa. Sợi dây ràng buộc giữa tôi và nó đã đứt. Nhưng ngọn đèn thờ Bích Động vẫn là vật chứa oán khí tích tụ trăm năm qua, tôi không thể mang nó đi qua Cửa. Cậu có dám nhận giữ nó không?
Khánh gật đầu, giọng hắn chắc nịch.
- Tui dám. Tui nhận giữ đèn cho o, nhưng tui không giữ o. O cứ thong thả chờ ngày Cửa mở mà đi.
Nhóm của Khánh trở về tiệm Vong Ký ở Gia Hội khi trời đã sáng rõ. Mưa vẫn rơi đều trên sông Hương, dòng nước đục ngầu cuộn chảy sát mép bến đất trước tiệm. Trong gian kho ấm lạnh, chiếc đèn ngọc xanh vẫn nằm giữa vòng tròn tạo bởi ba chén nước sông Hương. Ngọn lửa xanh lục trên đỉnh đèn lay động nhẹ khi Khánh bước vào.
Khánh đặt tấm bài vị gỗ mít cổ kính lên chiếc kệ đối diện với chiếc đèn ngọc, làm vật neo cho vong hồn Lê Thị Tươi. Hắn trải quyển Vong Ký trắng lên bàn gỗ lim. Quyển sổ bọc da cũ kỹ mở ra đến trang trống tiếp theo. Khánh nhìn ngọn lửa xanh trên chiếc đèn, nói rõ ràng từng lời.
- Lê Thị Tươi. Tui nhận giữ chiếc đèn thờ Bích Động này theo đúng nguyên tắc của tiệm Vong Ký. Tui giữ vật để bảo vệ tên của o, giúp o hoàn tất lời hẹn với trần gian, tuyệt đối không giam giữ linh hồn o, không dùng o làm mắt khóa để trấn giữ cửa sông. O có đồng ý không?
Từ trong ngọn lửa xanh trên đỉnh đèn, một tiếng nói nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng vang lên.
- Lê Thị Tươi.
Đó là tên thật của nàng, tự thân nàng nói ra để làm chứng cho giao ước. Khánh cầm chiếc kim châm, đâm nhẹ vào đầu ngón tay trỏ của mình. Một giọt máu đỏ tươi rịn ra. Hắn hòa giọt máu vào đĩa mực son đỏ chói, rồi cầm bút lông viết nhanh lên trang giấy trắng của Vong Ký.
Dòng chữ hoặc âm thanh hiện ra: "Lê Thị Tươi - Đèn thờ Bích Động - Nhận giữ ngày 26/08/2026."
Ngay khi nét chữ cuối cùng được hoàn thành, dòng chữ bằng mực son pha máu bỗng sáng rực lên một sắc đỏ ấm áp. Rồi từ từ chìm sâu vào thớ giấy bản, lắng xuống thành một màu đỏ sẫm như đã được viết từ rất lâu. Cùng lúc đó, ngọn lửa xanh trên chiếc đèn ngọc bỗng phụt tắt với một tiếng "xoạch" nhẹ như một hơi thở dài buông bỏ. Chiếc đèn ngọc rời khỏi vòng tròn ba chén nước sông Hương, chầm chậm bay lên rồi hạ thẳng vào hai bàn tay đang mở rộng của Khánh. Nó không hề bay về phía Bồi đang đứng nép sau cánh cửa gỗ nữa.
Khánh cảm nhận được sức nặng và hơi lạnh buốt từ chiếc đèn ngọc truyền qua lòng bàn tay. Đầu ngón tay hắn lạnh ngắt như vừa chạm vào đá tảng dưới đáy sông. Hắn đặt chiếc đèn vào ngăn tủ gỗ lim số 10. Hắn rút ra ba nén nhang cổ, châm lửa đốt. Khói nhang màu xám đục bốc lên, mang theo mùi trầm thơm nồng nhưng có phần khét nhẹ.
Khánh dùng ngón tay trỏ vẫn còn rướm máu, vẽ nhanh một chữ bùa niêm phong bằng tro hương và máu lên mặt trước của cánh cửa tủ gỗ. Mỗi nét vẽ của hắn đều đòi hỏi sự tập trung cao độ. Cơn ù tai kéo dài đột ngột ập đến, tiếng u u như sóng vỗ bên tai khiến đầu óc hắn quay cuồng. Sức lực trong người như bị một lực hút vô hình rút bớt qua đầu ngón tay. Một đêm không ngủ cùng với việc sử dụng Hương Thuật liên tục khiến hai thái dương hắn giật liên hồi.
Cô Bảy đứng bên cạnh liền bước tới, đưa bàn tay thô ráp đỡ lấy khuỷu tay Khánh để giữ cho hắn khỏi ngã quyệt. Tuy nhiên, o không hề can thiệp vào nét vẽ cuối cùng. O biết đây là giao ước riêng giữa người trông coi tiệm và vong hồn, người ngoài không thể làm thay. Khánh cắn chặt răng, hoàn thành nét bùa cuối cùng. Cánh cửa tủ gỗ lim đóng sập lại với một tiếng "cạch" khô khốc. Chữ bùa bằng tro và máu đỏ trên mặt gỗ lóe lên rồi tối đi, khóa chặt chiếc đèn ngọc bên trong.
Ngay khi ngăn tủ được khóa lại, Bồi đang đứng ở góc phòng bỗng thở phào một hơi dài. Thằng bé đưa tay lên quẹt mũi, không còn thấy vệt máu đỏ rỉ ra như lúc trước nữa.
- Eng Khánh...
Bồi nói nhỏ, giọng run run.
- Mấy cái tiếng u u gọi con... tụi hắn tắt hết rồi. Con không còn nghe thấy tiếng ai kéo con đi nữa.
Khánh mệt mỏi ngồi xuống chiếc ghế trường kỷ, hắn hỏi Bồi.
- Mi thử áp tai vào tủ niêm xem còn nghe thấy chi không?
Bồi chầm chậm bước tới, áp sát tai vào thớ gỗ lim dày của ngăn tủ số 10. Thằng bé nhắm mắt lại lắng nghe một lúc rồi ngẩng đầu lên nhìn Khánh.
- Chỉ còn tiếng o Tươi đọc tên mình một lần, nghe bình thản lắm eng. Không còn giọng nói của o Năm Hồng, cũng không còn tiếng kêu khóc của ai nữa.
Khánh gật đầu. Việc này xác nhận rằng vong hồn của Lê Thị Tươi đã được an định, và Năm Hồng cũng đã thực sự rời khỏi ngọn đèn để đi theo con đường riêng của mình.
Phan Khanh đứng bên cửa sổ, nhìn ra màn mưa trắng xóa ngoài sông Hương. Anh cầm chiếc điện thoại lên, nhận một cuộc gọi từ đồng nghiệp ở đồn cảnh sát khu vực Gia Hội và Bến Ngự. Sau khi nghe xong, anh quay lại nhìn Khánh, vẻ mặt bớt đi vài phần căng thẳng.
- Các điểm rò âm xuất hiện từ hôm qua ở Gia Hội và đoạn gần Bến Ngự... đồng nghiệp của tôi báo lại là tụi hắn đã biến mất rồi. Những bóng người đi lại trong mưa lúc sáng sớm không còn thấy nữa.
Nhưng Quang, người vẫn đang chăm chú nhìn vào tấm bản đồ Huế trải trên bàn, bỗng lên tiếng, giọng anh trầm xuống đầy lo ngại.
- Các điểm rò gắn với đèn thờ Bích Động thì đã khép, nhưng nhìn đi... Những vệt rò âm khác ở mạn phía Nam và mạn Bao Vinh vẫn đang tiếp tục chảy về hướng Cồn Hến. Tốc độ rò rỉ nước âm không hề giảm, thậm chí còn có xu hướng tăng lên khi gần đến ngày rằm.
Khánh nhìn theo ngón tay của Quang chỉ trên bản đồ. Đúng vậy, việc niêm phong chiếc đèn ngọc chỉ giải quyết được tà vật thứ mười, chứ không thể ngăn chặn được mạng lưới khổng lồ mà Vong Ký đen của Âm Vũ đang vận hành dưới lòng sông. Nguồn cưỡng mở Cửa vẫn đang hoạt động điên cuồng ở một nơi nào đó mà họ chưa thể chạm tới.
Khánh đứng dậy, định đi về phía phòng của Ông Tư để báo cáo tình hình. Ông Tư cả ngày hôm nay vẫn đóng chặt cửa phòng, không hề bước ra ngoài một bước.
Khi Khánh vừa bước đến trước hành lang dẫn vào căn phòng phía sau của Ông Tư, bước chân hắn bỗng khựng lại. Dưới ánh sáng mờ tối của dãy hành lang ẩm ướt, chín lá Bùa Giáp Hương màu vàng được dán dọc theo mép cửa phòng Ông Tư bỗng nhiên thay đổi. Không có một ngọn gió nào thổi qua hành lang, nhưng từ mép dưới của cả chín lá bùa, một vệt màu đen kịt bắt đầu loang ra. Vệt đen loang nhanh như thể có một dòng nước vô hình, lạnh ngắt và bẩn đục dưới đáy sông Hương vừa liếm qua chân giấy bùa. Chỉ trong vài nhịp thở, phần chân của chín lá bùa đã hóa đen hoàn toàn, bốc lên một mùi bùn sông nồng nặc và ẩm mốc. Khánh đứng sững người nhìn những lá bùa đang dần bị nhuộm đen. Hắn cảm nhận được một luồng âm khí quen thuộc nhưng dữ dội hơn bao giờ hết đang bao trùm lấy căn phòng của Ông Tư.