TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 212: Tủ Khóa Hai Lớp
Tay Khánh vừa chạm vào ổ khóa đồng đen của ngăn tủ thứ hai thì những giọt nước đen đặc quánh như bùn sông bắt đầu rỉ ra nhiều hơn. Mùi bùn non ngai ngái…
Nội dung chương
Tay Khánh vừa chạm vào ổ khóa đồng đen của ngăn tủ thứ hai thì những giọt nước đen đặc quánh như bùn sông bắt đầu rỉ ra nhiều hơn. Mùi bùn non ngai ngái trộn lẫn với mùi nước sông lên men nồng nặc bốc lên từ khe gỗ rường, lấp đầy khoảng không gian chật hẹp của căn hầm niêm phong dưới tiệm Vong Ký. Ngọn đèn dầu trên tay hắn chao đảo mạnh, ánh lửa vàng vọt đột ngột chuyển sang màu xanh lét lạnh lẽo, hắt những cái bóng vặn vẹo của hai cô cháu lên bức tường đá ẩm ướt.
Cô Bảy đứng lùi lại nửa bước, hai bàn tay o đan chặt vào nhau trước ngực. Đôi mắt nhìn đăm đăm vào những vệt nước đen đang ngưng tụ lại thành hình ba vệt nước dài như ba ngón tay đang bấu chặt lấy ổ khóa. O nói, giọng run run nhưng cố kìm nén:
- Khánh, cẩn thận con. Cái khóa ni... ông già mi chưa bao giờ cho ai đụng vô cả. Ngay cả o, nhiều lần dọn dẹp hầm cũng chỉ dám lau bụi bên ngoài.
Khánh không đáp. Hắn đưa tay vào túi quần, những ngón tay chạm vào miếng đồng nhỏ tròn trịa khắc chữ “Tích” vẫn do hắn giữ từ ngoài bến. Miếng đồng lạnh ngắt như một cục nước đá, cái lạnh thấm qua lớp da thịt ở đầu ngón tay rồi chạy thẳng lên bả vai, nơi vết bớt hình cá đỏ đang âm thầm ẩn hiện dưới lớp áo. Hắn rút miếng đồng ra, đặt nó vào hõm khóa tròn trịa bằng đồng đen rỉ sét ở tâm ổ khóa.
Miếng đồng vừa vặn khít khao, không lệch một li, như thể cái hõm khóa này được đúc ra chỉ để chờ đợi duy nhất vật này quay trở lại. Thế nhưng, tiếng chốt nảy mà Khánh mong đợi vẫn không vang lên. Ổ khóa đồng đen vẫn im lìm, những vệt nước đen vẫn tiếp tục rỉ ra từ khe hở, chảy thành dòng xuống mặt gỗ mục nát.
Khánh cau mày, hắn ghé sát tai vào mặt tủ gỗ. Từ phía sau cánh cửa gỗ dày cộp đóng chặt, những tiếng động khô khốc lại vang lên đều đặn:
Ba tiếng cộc lại vang lên từ sau cánh tủ.
Đúng ba tiếng gõ. Nhịp điệu của nó chậm rãi, nặng nề, giống hệt tiếng gõ gậy gỗ mun của Ông Tư mỗi khi ông bước đi trên nền gạch của tiệm Vong Ký vào những đêm mất ngủ. Khánh chợt hiểu ra điều bất thường. Ông già đã tính toán kỹ lưỡng từ trước. Miếng đồng khắc tên chỉ là cái chìa vật lý, còn nhịp gõ này mới là cái chốt vô hình mà ông để lại cho riêng hắn.
Khánh giơ ngón tay trỏ lên, gõ nhẹ vào mặt gỗ rường bên cạnh ổ khóa. Một tiếng cộc. Hắn dừng lại một nhịp thở, gõ tiếng thứ hai, rồi tiếng thứ ba nặng hơn một chút.
Ngay khi tiếng gõ cuối cùng vừa dứt, cái chốt kim loại bật cạch từ sâu bên trong ổ khóa. Chốt đồng đen rỉ sét tự động xoay ngược chiều kim đồng hồ, đẩy miếng đồng khắc chữ “Tích” nhô ra ngoài một phân. Cánh cửa tủ gỗ hai lớp từ từ hé mở, rỉ ra một luồng khí lạnh ngắt mang theo mùi sáp ong lâu năm nứt giòn và mùi tro nhang ẩm mốc.
Khánh đưa tay đỡ lấy cánh cửa tủ, cẩn thận không để lớp nước đen bám trên bề mặt chạm vào da thịt. Dưới ánh sáng xanh lét của ngọn đèn dầu, hắn nhìn thấy bên trong ngăn tủ thứ hai không phải là một khoang chứa đồ rộng rãi, mà chỉ là một ngăn hẹp được lót bằng một lớp sáp ong dày để chống ẩm. Lớp sáp qua hàng chục năm đã khô khốc, nứt nẻ thành những đường rãnh xám xịt như da rắn cổ.
Nằm gọn gàng trong ngăn hẹp đó là một vài vật dụng được gói kỹ trong một tấm vải dầu dày màu xám tro. Khánh thò tay vào, cẩn thận lôi tấm vải dầu ra ngoài. Cái lạnh từ tấm vải dầu truyền qua tay hắn, mang theo mùi của những chuyến đi sông nước xa xôi từ thời trước.
Hắn đặt tấm vải dầu lên chiếc bàn gỗ nhỏ đặt ở góc hầm niêm phong, từ từ mở từng lớp nếp gấp. Bên trong có bốn thứ: một cuộn vải dầu khác nhỏ hơn vẽ bản đồ, ba trang giấy bản sờn mép đã ố vàng nghiêm trọng. Một mảnh ván gỗ mục có bốn lỗ đinh gỉ sét, và cuối cùng là một xấp giấy than mỏng, loại giấy thường dùng để sao chép tài liệu thời trước.
Khánh cầm xấp giấy than lên trước. Hắn lật giở từng tờ dưới ánh đèn dầu. Những tờ giấy than này đã cũ, mặt sáp đen đã bị cào xước nhiều chỗ, nhưng trên đó hiện rõ những đường nét chà lại từ bìa của một quyển sổ. Đó là những đường chỉ khâu sần sùi chạy dọc theo gáy sổ, và một góc khóa kim loại có hình đầu rắn đặc trưng.
- Cái ni là chi rứa Khánh?
Cô Bảy ghé sát đầu vào nhìn, giọng o vẫn chưa hết run.
- Có phải là một quyển sổ khác không con?
Khánh lắc đầu, ngón tay hắn miết nhẹ lên những vết than đen trên giấy:
- Không phải sổ mới đâu o. Đây chỉ là bản chà dấu chỉ khâu và khóa bìa của quyển sổ đen. Ông già chà lại những chi tiết ni để nghiên cứu cách nhận diện nó. Nhìn những vết cào trên giấy than đi, chắc ông đã thử tìm xem cuốn sổ đen nớ được đóng bằng loại chỉ chi, khóa bằng thứ kim loại gì từ trước khi Hồ Vũ mang nó về lại Huế.
Hắn đặt xấp giấy than sang một bên, rồi cầm cuộn vải dầu nhỏ lên, từ từ trải ra trên mặt bàn. Bản đồ này được vẽ rất chi tiết bằng hai màu mực hoàn toàn khác biệt. Màu mực son đỏ chói vẽ những khúc quanh của sông Hương vật lý hiện tại, từ ngã ba Tuần xuống tới cửa Thuận An, với những địa danh quen thuộc như cồn Hến, phố Hàng Bè, và bến Bao Vinh. Nhưng đè lên trên những đường mực son đó là những nét vẽ bằng thứ mực pha tro xám xịt, ngoằn ngoèo và chằng chiu như những mạch máu lộ trên da người chết.
Đó là những tuyến đường của Âm Hương, những dòng chảy ngầm chỉ có vong hồn và những người có giao ước với Thoải Phủ mới nhìn thấy được. Ở góc phía đông Cồn Hến, có một nhánh sông phụ vẽ bằng mực tro xám, chạy vòng qua cồn rồi mất hút vào vùng đầm phá phía dưới. Ngay tại điểm giao giữa nhánh sông cổ này và dòng chảy chính, có một dấu triện màu đỏ thẫm hình tròn. Bên trong khắc hai chữ chữ Hán đã mờ, bên cạnh có nét chữ quốc ngữ viết tay bằng mực tàu đã cũ: "chuyến cuối".
Khánh nhìn chằm chằm vào dấu triện đó. Hắn đưa ngón tay trỏ chạm nhẹ vào vết mực tro vẽ nhánh sông cổ. Cảm giác lạnh buốt từ thớ vải dầu truyền qua đầu ngón tay hắn, lạnh đến mức khiến các khớp xương của hắn đau nhức.
Hắn quay sang cầm mảnh ván gỗ mục lên. Mảnh ván dài chừng hai gang tay, dày khoảng hai phân, một mặt đã bị nước ăn mòn đến mức xơ cả thớ gỗ, để lộ ra những đường vân gỗ uốn lượn như những con sóng nhỏ. Bốn lỗ đinh ở bốn góc bị rỉ sét ăn rộng ra thành những khoảng trống màu nâu đen. Ở giữa mảnh ván, có những vết khắc bằng dao nhọn, nét chữ nguệch ngoạc nhưng cố sức nhấn sâu vào thớ gỗ mục: "Tôn Thất...". Phần tên phía sau đã bị một vết nứt dọc thân gỗ xé toạc, chỉ còn lại một nét ngang dở dang không thể đọc nổi.
- O có biết cái mảnh ván ni từ đâu ra không o?
Khánh hỏi, mắt vẫn không rời vết khắc.
Cô Bảy lắc đầu, o đưa tay sờ nhẹ vào thớ gỗ mục:
- O chịu. Nhưng nhìn thớ gỗ ni, chắc chắn là gỗ của một chiếc ghe bầu cũ. Thời trước năm bốn lăm, người họ Tôn Thất ở Huế có nhiều ghe bầu đi buôn bán dọc sông Hương lắm. Nhưng mảnh ván ni nằm dưới hầm niêm lâu rứa rồi, o cũng chưa bao giờ thấy ông già nhắc tới.
Khánh im lặng một lúc, rồi hắn cầm ba trang giấy bản ố vàng lên. Ba trang giấy này có vẻ được xé ra từ một cuốn sổ hộ tịch hoặc gia phả cổ, chất giấy thô ráp, sờ vào thấy sần sùi và dễ rách. Hắn cẩn thận trải từng trang ra. Trên trang thứ nhất, dòng chữ viết bằng mực tàu ghi rõ: “Tích, sinh năm Quý Hợi (1923)”. Tên của Tích nằm trong cùng hộ tịch với Ông Chính, tức Ông Tư trước khi mang thân phận hiện tại.
Khánh nheo mắt nhìn vào mép giấy bên phải của trang thứ hai. Mép giấy này không phải bị rách tự nhiên, mà đã bị cắt đứt một đường thẳng băng bằng kéo hoặc dao bén. Phần ghi chép về mối quan hệ giữa hai cái tên Ông Chính và Tích đã hoàn toàn biến mất. Không có bất kỳ ký hiệu nối thế hệ hay chữ viết nào thể hiện Tích là con đẻ, con nuôi, hay là cháu họ được nhận vào nhà.
Hắn lật mặt sau của trang giấy, phát hiện ra xung quanh cái tên "Nguyễn Vĩnh Tích" ở mặt trước có một vòng tròn vẽ bằng mực son đỏ. Nét mực son này đã xỉn màu theo thời gian, nhưng nét bút đi rất dứt khoát, phần đuôi hơi hất lên về phía bên phải. Khánh rút miếng đồng khắc chữ "Tích" trong túi ra, lật mặt sau để đối chiếu. Trên mặt sau miếng đồng cũng có một nét khắc chìm có hình dạng y hệt cái hất đuôi của nét son kia.
Ông già tự tay khoanh cái tên này, rồi tự tay khắc dấu lên miếng đồng. Ông cất hai vật chứng này cùng một chỗ, dưới lớp khóa bảo mật nhất của tiệm Vong Ký. Ông biết rõ mọi thứ về linh hồn của hắn, nhưng ông đã chọn cách im lặng suốt hai mươi ba năm qua.
- Lên trên thôi o.
Khánh cuộn bản đồ lại, kẹp mảnh ván gỗ vào nách rồi cầm ba trang giấy bản đi lên cầu thang.
- Dưới ni lạnh quá, đèn dầu sắp lụi rồi.
Khi hai người bước lên đến gian thờ phía trên, ánh sáng ban ngày của ngày rằm tháng Bảy xám xịt vì mưa dầm hắt qua khung cửa gỗ tiệm Vong Ký, tạo nên những vệt sáng tối loang lổ trên nền gạch. Phan Khanh và Quang đang đứng đợi bên bàn đối chiếu tài liệu. Thấy Khánh bước lên với đống đồ trên tay, Phan Khanh lập tức rút từ trong túi áo khoác ra một đôi găng tay cao su y tế đeo vào, rồi bước lại gần.
- Để tôi xử lý những thứ này cho.
Phan Khanh nói, giọng anh rành rọt và chuyên nghiệp của một cảnh sát hình sự.
- Trong lúc điều tra, chúng ta không được để lẫn lộn dấu vết của người sống bây giờ với những thứ đã nằm dưới hầm hàng chục năm. Tôi sẽ niêm riêng mẫu sáp ong và các thứ này lại, chụp ảnh lưu hồ sơ trước.
Phan Khanh đặt mảnh ván gỗ và ba trang giấy bản lên một tấm giấy lót sạch, rồi dùng điện thoại chụp ảnh từng mặt dưới nhiều góc sáng khác nhau. Anh cẩn thận dùng nhíp gắp một mẩu sáp ong nứt giòn rơi ra từ tấm vải dầu, cho vào một túi ni lông nhỏ rồi đánh số thứ tự rõ ràng.
Quang thì bước lại gần ba trang giấy bản ố vàng, anh rút chiếc kính lúp cầm tay trong túi ra, cúi xuống soi kỹ vào mép giấy bị cắt của trang thứ hai.
- Mất phần ghi quan hệ rồi Khánh ơi.
Quang nói, ngón tay anh chỉ vào đường cắt thẳng băng.
- Ở đây chỉ ghi Tích sinh năm 1923, cùng hộ tịch với Ông Chính tại Bao Vinh. Nhưng đường chỉ nối thế hệ ở góc này đã bị cắt mất. Có ai đó đã cố tình không muốn người sau biết được mối quan hệ thực sự giữa hai người họ.
Khánh nhìn Quang, giọng hắn trầm xuống:
- Quang, mi còn giữ cuốn gia phả Nguyễn Tộc chép tay mà mi mượn được hồi đầu năm không?
- Còn, tao cất ở nhà trong Kinh Thành.
Quang ngẩng đầu lên.
- Ý mày là sao?
- Chạy về lấy sang đây đối chiếu ngay đi. Tui muốn xem bản của mi có đoạn ni không.
Quang không nói một lời, anh lập tức quay người, lao thẳng ra ngoài màn mưa trắng xóa hướng về phía Kinh Thành mà không kịp che ô.
Trong lúc chờ Quang, không gian trong tiệm Vong Ký trở nên im ắng lạ thường, chỉ còn tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái ngói và tiếng nước chảy xiết ngoài đường phố Bao Vinh. Từ gian buồng phía sau, Bồi lầm lũi bước ra. Thằng bé đã bịt tai bằng hai cục bông gòn nhỏ như lời Khánh dặn, gương mặt nó vẫn còn xanh xao nhưng đôi mắt âm giác đã lấy lại chút thần sắc. Nó nhìn chằm chằm vào mảnh ván gỗ mục đặt trên bàn, rồi bước lại gần Khánh.
- Eng Khánh...
Bồi thì thào, giọng nó nhỏ như tiếng gió.
- Cái ni... có tiếng chèo.
Khánh ngồi xổm xuống ngang tầm với thằng bé, hắn khẽ hỏi:
- Tiếng chèo răng con? Con nghe thấy chi từ mảnh ván ni?
Bồi nhắm mắt lại, hai tai nó khẽ động đậy dưới lớp bông gòn:
- Tiếng mái chèo gõ vào mạn ghe. Nhưng họ đâu có chèo đi đâu eng. Họ đang cố gõ để kêu ai đó trên bờ cứu. Con nghe thấy họ gọi Tôn Thất hai lần, rồi tiếng nước chảy xiết quá, cuốn mất chữ sau rồi.
Phan Khanh đứng bên cạnh ghi chép lại lời của Bồi vào cuốn sổ tay nhỏ. Anh nhìn Khánh, nét mặt nghiêm nghị:
- Họ Tôn Thất ở Huế thời trước năm 1945 rất đông, đặc biệt là những người làm việc trong các cơ quan quản lý đường sông hoặc có ghe thuyền riêng. Nếu mảnh ván này thuộc về một chiếc ghe bầu bị đắm hoặc bị bỏ lại trong "chuyến cuối" vào năm 1945, chúng ta cần phải tìm được danh sách những người đi trên chuyến đó.
Chưa đầy hai mươi phút sau, Quang quay lại tiệm Vong Ký, người ướt sũng nước mưa. Anh ôm khư khư một cuốn sổ bìa da màu nâu cũ kỹ dưới nách để tránh bị ướt. Quang đặt cuốn sổ lên bàn, lật nhanh đến những trang ghi chép về chi họ Nguyễn Vĩnh ở Bao Vinh vào những năm 1940.
- Đây rồi.
Quang chỉ ngón tay vào một dòng chữ viết bằng mực tím.
- Nhìn kỹ đi Khánh. Trong bản sao gia phả của tao, đến đoạn năm 1923 và 1945, nét chữ đột ngột bị chuyển sang một lối viết khác, tròn trịa hơn và không dùng mực tàu cũ nữa. Và ở đây... hoàn toàn thiếu ký hiệu nối thế hệ giữa Ông Chính và những người sinh sau đó. Có ai đó đã cố tình chép đè hoặc xóa bỏ mối liên hệ này trong các tài liệu lưu truyền ra ngoài từ trước rồi.
Khánh nhìn dòng chữ trên cuốn sổ của Quang, rồi nhìn lại ba trang giấy bản bị xé từ dưới hầm. Hai tài liệu hoàn toàn khớp nhau về khoảng trống thông tin. Ông già đã chủ động xóa bỏ dấu vết của Tích trong gia phả dòng họ để lại cho đời sau, đồng thời cất giấu ba trang giấy gốc này dưới hầm niêm.
Quang tiếp tục di chuyển kính lúp sang góc bản đồ vải dầu, nơi có dấu triện tròn màu đỏ thẫm.
- Dấu triện ni thuộc về "Kho vận Đường sông Thừa Thiên", một cơ quan quản lý ghe thuyền tồn tại từ thời Bảo Đại đến trước tháng Tám năm 1945 thì giải thể. Muốn đọc được đúng tuyến nước âm vẽ bằng mực tro này, chúng ta phải tìm được sổ bến hoặc danh mục ghe hoàng tộc cùng thời. Nếu không, những khúc quanh này dưới Âm Hương sẽ là những cái bẫy chết người. Nước chảy dưới đó không giống nước trên mặt đất đâu, nó chảy xiết và có nhiều luồng vong dữ lắm.
Khánh nhìn bản đồ vải dầu, rồi nhìn ba trang giấy bản ố vàng. Hắn biết những trang giấy này chứa đựng câu trả lời cho câu hỏi hắn thực sự là ai, mối liên hệ giữa hắn và Ông Tư kiếp trước là gì. Nhưng lúc này, mạng sống của ông già đang bị treo trên chiếc ghe bầu ma ngoài kia. Mỗi phút trôi qua là một phút Ông Tư phải chịu đựng sự ăn mòn của giao ước Thoải Phủ.
- Quang.
Khánh nói, giọng hắn lạnh và dứt khoát.
- Mi giữ ba trang gia phả ni với cuốn sổ của mi. Cứ đối chiếu tiếp đi. Tìm xem năm 1945 có chuyện chi xảy ra với chi họ này, và tìm danh sách ghe thuyền họ Tôn Thất thời đó cho tui. Còn tui, tui phải ưu tiên cái bản đồ ni để đi tìm ông già trước. Tui không thể để chuyện kiếp trước kiếp này làm chậm việc cứu người sống bây giờ.
Quang gật đầu, anh hiểu tính Khánh một khi đã quyết định thì không ai cản được. Anh cẩn thận cho ba trang gia phả vào túi ni lông chuyên dụng của Phan Khanh rồi cất vào túi xách của mình.
- Được rồi, tao sẽ về nhà lục lại các tài liệu về kho vận đường sông năm 1945. Có thông tin gì mới về danh sách ghe thuyền họ Tôn Thất, tao sẽ báo ngay cho Phan Khanh qua bộ đàm.
Phan Khanh quay sang Khánh, anh đặt tay lên vai hắn:
- Tôi sẽ đi cùng anh ra bến. Nhưng trước hết, chúng ta cần phải xác định rõ điểm xuất phát trên bản đồ này.
Khánh trải rộng bản đồ vải dầu ra giữa chiếc bàn gỗ bên gian thờ. Bồi bước lại gần, thằng bé nhìn chăm chằm vào dấu triện đỏ có chữ "chuyến cuối" ở phía đông Cồn Hến. Như bị một lực hút vô hình dẫn dắt, em đưa ngón tay nhỏ nhắn, hơi run rẩy chạm nhẹ vào vệt mực tro xám của dấu triện đó.
Ngay khi ngón tay Bồi vừa chạm xuống, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra. Từ điểm chạm dưới ngón tay em, nước bắt đầu rỉ ra, ướt đẫm một vùng vải dầu. Vệt nước đen ngòm nhanh chóng lan rộng, chảy xiết dọc theo tuyến đường mực tro từ phía đông Cồn Hến đi thẳng vào trong lòng bản đồ. Hướng về phía vị trí của tiệm Vong Ký, giống như có một mũi ghe vô hình dưới lòng sông sâu vừa rẽ nước, lao thẳng về phía hai người đang đứng.