TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 221: Dòng Tên Bị Xé
Sợi dây thừng bện bằng xơ dừa sũng nước rít lên một tiếng khô khốc khi mạn ghe bầu ma va mạnh vào vách đá ngầm bên dưới Cồn Hến. Nước sông âm màu chì…
Nội dung chương
Sợi dây thừng bện bằng xơ dừa sũng nước rít lên một tiếng khô khốc khi mạn ghe bầu ma va mạnh vào vách đá ngầm bên dưới Cồn Hến. Nước sông âm màu chì luồn qua những khe ván mục, dâng lên ngập mắt cá chân Khánh. Cái lạnh từ lòng sông không giống cái lạnh của nước đá thông thường, nó buốt thấu xương và mang theo mùi bùn non vây hãm.
Phía trên mạn thuyền, sợi dây bảo hiểm buộc vào hông Khánh bỗng giật mạnh ba ngắn một dài. Đó là tín hiệu của Phan Khanh từ phía bờ đá. Sức căng của dòng nước đang kéo lệch chiếc ghe bầu ra xa điểm neo. Nhịp giật dồn dập báo hiệu họ không còn nhiều thời gian. Thủy triều âm đang rút dần về phía cửa phá Tam Giang, mang theo tất cả những gì chưa kịp định hình dưới đáy sông.
Cô Bảy đứng chắn ngay lối cửa khoang hẹp. Gương mặt o xám ngoét dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu bão treo trên xà gỗ. Tay o nắm chặt một nắm tro hương cũ, môi liên tục lẩm nhẩm những câu chú cổ của Canh Thoải để giữ cho những bóng đen ngoài mạn thuyền không tràn vào. O không quay đầu lại, chỉ nói vọng vào bằng giọng Huế khàn khàn:
- Khánh, nhanh lên con. Dây neo sắp chịu không nổi rồi. Một lượt nước lên xuống ni nữa thôi, nếu không tháo được xích cho lão Tư, cả ghe lẫn người đều bị hút xuống đáy vực Cồn Hến đó.
Bên trong khoang giữa, Trần Quang đang cố sức đỡ Ông Tư ngồi tựa vào một chiếc hòm gỗ cũ bọc da đã bong tróc. Bộ quần áo bà ba của Ông Tư ướt sũng, dán chặt vào khuôn ngực gầy guộc. Ba vòng xích giấy vàng quấn quanh người ông vẫn siết chặt, mỗi nhịp thở của ông đều khiến những chữ bùa son đỏ rực lên, ăn sâu vào da thịt và để lại những vệt máu đen sẫm.
- Đưa chú Tư sang đây lánh nước dâng đã.
Quang lau mồ hôi trên trán, hơi thở hổn hển:
- Nước âm chạm tới ngực là xích giấy tự hủy, lúc đó có muốn cứu cũng không kịp.
Khánh không nói lời nào. Hắn quỳ một chân xuống sàn gỗ ướt, đặt chiếc hòm da làm bàn viết tạm thời. Hắn cẩn thận trải bản sao gia phả Nguyễn Tộc mà Quang mang theo lên mặt hòm. Những trang giấy photocopy hiện đại phẳng phiu, đối lập hoàn toàn với ba trang giấy cũ kỹ màu vàng ố mà hắn vừa lấy ra từ ngăn tủ khóa hai lớp ở tiệm Vong Ký.
Quang run rẩy đặt ba trang giấy lên những khoảng trống bị xé trong bản gia phả. Những mép giấy xơ xác, nham nhở từ gần một thế kỷ trước từ từ xích lại gần nhau. Khi mép xé cuối cùng khớp khằn khịt với phần giấy còn lại của nhánh Nguyễn Tộc giai đoạn 1920 đến 1945, một tiếng tạch nhỏ vang lên trong đầu Khánh. Giống như một khớp xương bị trật vừa được nắn lại đúng vị trí.
- Khớp rồi.
Giọng Quang run lên vì phấn khích xen lẫn lo sợ - Mép giấy, thớ sợi và cả những đường vân gỗ của giấy bản thời xưa đều trùng khít. Ba trang này chính là phần bị khuyết của gia phả dòng trưởng Thoải Phủ.
Khánh rút từ trong túi áo ra một nén nhang trầm chưa đốt. Hắn đưa cho Quang:
- Châm đi. Theo lời ông Tư dặn, dùng hơi ấm để chảy lớp son.
Quang bật lửa. Đốm lửa nhỏ bùng lên, soi rõ những đường nét mỏi mệt trên gương mặt hai người trẻ tuổi. Mùi trầm hương thanh khiết nhanh chóng lan tỏa trong khoang ghe chật hẹp, át đi phần nào mùi bùn ẩm mốc của sông âm. Quang cầm nén nhang, tay anh giữ khoảng cách chừng hai phân, bắt đầu hơ nhẹ mặt sau của trang giấy thứ nhất.
Dưới sức nóng âm ỉ của đầu nhang đỏ rực, lớp son dày cộm màu đỏ xỉn phủ trên mặt trước tờ giấy bắt đầu biến dạng. Nó không cháy thành tro mà từ từ chảy ra, hóa thành những giọt chất lỏng màu đen kịt như mực tàu, lăn dài xuống mép giấy rồi nhỏ xuống sàn gỗ. Lớp son đen chảy đến đâu, những nét chữ Hán ẩn giấu bên dưới hiện ra đến đó. Nét mực đỏ cũ kỹ nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng sắc sảo của người viết.
Quang nheo mắt, đọc nhỏ từng chữ:
- Nguyễn Vĩnh Chính... tự Chưởng môn Thoải Phủ Sông Hương... tiếp nhận ấn tín vào năm Canh Thân 1920...
Khánh nhìn chằm chằm vào dòng chữ. Dòng chữ này trùng khớp hoàn toàn với những văn thư cổ mà họ tìm thấy trong hang đá trước đó. Ông Tư chính là Ông Chính. Người đàn ông cộc cằn, chân đi khập khiễng mỗi ngày ở tiệm Vong Ký, thực chất là vị Chưởng môn danh tiếng của dòng Thoải Phủ từ hơn tám mươi năm trước.
Quang chuyển nén nhang sang trang giấy thứ hai. Quá trình hơ lửa diễn ra chậm rãi. Lớp son thứ hai chảy xuống, lộ ra dòng chữ ghi chép về một đời người ngắn ngủi:
- Nguyễn Vĩnh Tích... sinh năm Quý Hợi 1923... tạ thế năm Ất Dậu 1945... hưởng dương hai mươi hai tuổi...
Đầu óc Khánh ong lên. Hai mươi hai tuổi. Độ tuổi trùng khớp với những mảnh ký ức vụn vỡ mà hắn đã thấy dưới đáy sông Hương trong những ngày diễn ra vụ ấn ngọc Bảo Đại. Hồn Tích đã chết vào năm 1945, cái năm mà cả đất nước này chìm trong đói nghèo và loạn lạc.
- Còn trang cuối cùng.
Quang nói, giọng anh lạc đi. Anh đưa nén nhang lại gần trang thứ ba.
Trang giấy này có một vết cắt sâu, chạy chéo từ góc trên bên trái xuống dưới, cắt đứt cả phần chỉ xơ dừa dùng để đóng gáy sách. Khi lớp son đen chảy hết, một hàng chữ Hán hiện ra rõ mồn một:
- Tích... đích tử của Vĩnh Chính...
Bên cạnh dòng chữ đó, có một dấu tay nhỏ xíu của trẻ con sơ sinh được in bằng máu đã chuyển sang màu nâu xỉn. Ngay dưới gan bàn tay nhỏ ấy là một hình vẽ cá đỏ được phác họa bằng những nét mực mảnh nhưng sắc nét.
Khánh đứng lặng người. Hắn cảm giác như có một luồng điện chạy dọc sống lưng, làm tê liệt mọi cảm xúc. Hắn đưa tay vào túi áo ngực, lấy ra miếng đồng nhỏ khắc chữ "Tích" mà Ông Tư đã lén để lại cho Bồi. Khi hắn đặt miếng đồng lên trên trang giấy, mặt dưới của miếng đồng khớp hoàn toàn với dấu tròn in chìm trên thớ giấy bản cổ. Bảy vạch nước khắc trên rìa miếng đồng trùng khớp với bảy nét gạch đánh dấu ngày lập tên cho đứa trẻ sơ sinh trong gia phả.
- Đây là thật.
Quang thì thầm, anh hạ nén nhang xuống, nhìn Khánh với ánh mắt đầy phức tạp - Ba nguồn độc lập đều khớp. Bản sao gia phả của dòng họ Nguyễn ở Huế, ba trang giấy bị xé giấu trong tủ hai lớp của tiệm Vong Ký, và miếng đồng gia truyền này. Âm Vũ không thể nào làm giả được ngần ấy thứ trong thời gian ngắn như vậy để lừa mi. Khánh... Tích là con trai ruột của Ông Chính.
Khánh nhìn chằm chằm vào hình cá đỏ trên giấy. Dấu vết ấy giống hệt vết bớt trên vai hắn, thứ bớt đỏ vẫn luôn nóng ran lên mỗi khi hắn chạm vào những tà vật dưới nước sông Hương.
Chỉ còn một sự thật hiển nhiên hiện ra trước mắt hắn. Ông Tư không phải chỉ giữ hồn một người cùng dòng Phủ vì nghĩa vụ. Ông đã dùng giao ước Thoải Phủ để giữ lại linh hồn của chính con trai mình sau cái chết năm 1945. Rồi đến năm 2003, ông đã đặt linh hồn ấy vào thân xác một đứa trẻ ba tuổi vừa chết đuối trên sông Hương. Đứa trẻ đó chính là Nguyễn Vĩnh Khánh.
- Khánh... mi ổn không?
Quang lo lắng hỏi khi thấy Khánh im lặng quá lâu.
Khánh không trả lời. Hắn cẩn thận nhặt ba trang giấy gia phả lên, xếp chúng lại ngay ngắn. Hắn không cần Quang phải phân tích hay giải thích thêm bất cứ điều gì nữa. Mọi chứng cứ vật chất đã bày ra trước mắt, rõ ràng và lạnh lùng như những tảng đá ngầm dưới lòng sông.
Hắn quay người, bước qua khoang hẹp để trở lại nơi Ông Tư đang nằm. Nước dưới sàn ghe đã dâng lên sát đầu gối. Cô Bảy nhìn thấy ba trang giấy trong tay Khánh, o khẽ thở dài, quay mặt đi chỗ khác để tránh ánh mắt của hắn.
Khánh đứng trước mặt Ông Tư. Người đàn ông già nua ấy đang tựa đầu vào vách gỗ, đôi mắt đục ngầu nhìn chằm chằm vào những trang giấy trên tay Khánh. Những vòng xích giấy vàng trên ngực ông khẽ lay động, phát ra những tiếng xột xoạt khô khốc.
- Mi... mi đọc được rồi à?
Ông Tư thào thào hỏi, giọng ông khàn đặc.
Khánh không trả lời ngay. Hắn từ từ cúi xuống, đặt ba trang gia phả lên đầu gối Ông Tư. Dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu bão, dòng chữ "Tích, đích tử của Vĩnh Chính" hiện rõ mồn một bên cạnh hình vẽ cá đỏ.
Hắn nhìn thẳng vào mắt người đàn ông đã nuôi nấng hắn suốt hai mươi ba năm qua, cất giọng bình thản nhưng lạnh ngắt:
- Năm 2003, ông đưa con ông vào thân xác tui, phải không?