TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 228: Dấu Cá Hướng Về Tim
Mưa Huế vẫn gõ dồn dập trên mái ngói tiệm Vong Ký, tiếng nước chảy từ máng xối xuống khoảng sân trong nghe rát buốt. Khánh đỡ Cô Bảy nằm xuống chiếc…
Nội dung chương
Mưa Huế vẫn gõ dồn dập trên mái ngói tiệm Vong Ký, tiếng nước chảy từ máng xối xuống khoảng sân trong nghe rát buốt. Khánh đỡ Cô Bảy nằm xuống chiếc chõng tre ở gian ngoài. Người o nhẹ bẫng, vạt áo mưa sũng nước sông Hương chốc chốc lại nhỏ xuống nền gạch hoa cũ những vệt xám xịt. Đôi mắt o Bảy không còn cái nhìn sâu hoắm, sắc lạnh của một Canh Thoải nữa. Tròng mắt o đục mờ, giống như mắt của bao bà già bình thường khác ở Gia Hội.
Khánh lấy chiếc khăn khô lau nước mưa trên mặt o, giọng hắn khản đi:
- O thấy trong người răng rồi? Để con gọi anh Quang sắc ấm thuốc gừng.
Cô Bảy khẽ lắc đầu. Bàn tay nhăn nheo của o run rẩy vịn vào thành chõng, o cố gượng cười nhưng khóe môi cứ trễ xuống:
- Khỏi. O không đau đớn chi hết. Chỉ là... mắt o chừ lạ lắm.
- Lạ răng o?
Khánh hỏi, tay hắn dừng lại trên vai o.
- O nhìn cái bàn, cái ghế, nhìn mặt mi, nhìn thằng Quang đang lóng ngóng ngoài hiên... đều rõ mồn một.
O Bảy thở dài, giọng o nhẹ như hơi khói - Nhưng góc cột kia, cái hũ tro bên cạnh bàn thờ, cả cái khoảng tối dưới gầm chõng... o nhìn vô chỉ thấy một màu đen thui. Không còn bóng người khuất mặt đứng chờ, cũng không nghe tiếng thì thầm dưới nước nữa. Âm nhãn tắt rồi, Khánh nớ.
Khánh im lặng. Hắn biết cái giá của việc o Bảy dùng sẹo chữ X làm bốn điểm neo giữ Cửa Âm Hương ở độ mở tự nhiên cho tới ngày mùng bảy tháng chín. Quyền năng của Canh Thoải cuối cùng đã trả lại cho sông. Từ chừ, o không còn nghe được lời gọi của cõi âm, cũng không còn khả năng nhìn thấu hai cõi. Vong Ký đen vẫn có thể ép thử các điểm neo và gây rò âm dọc bờ, nhưng chưa thể lập tức xóa bỏ chúng.
Quang từ ngoài hiên bước vào, tay bưng chén nước gừng nóng nghi ngút khói. Anh đặt chén nước lên chiếc bàn gỗ bên cạnh chõng, đỡ nhẹ vai o Bảy:
- Cô Bảy uống chút nước ấm cho ra mồ hôi. Con vừa điện cho Phan Khanh, anh ấy đang canh chừng phía ngoài tiệm, phòng hờ người của Âm Vũ lảng vảng.
O Bảy nhấp một ngụm nước gừng, hơi nóng làm đôi má nhăn nheo của o hồng lên chút ít. O nhìn Quang, rồi nhìn Khánh, giọng o trầm xuống:
- Thằng Khanh hắn là cảnh sát, nhưng chuyện ni hắn giúp được chừng đó là hết sức rồi. Khánh, mi vào buồng trong với ông Tư đi. Ông đang đợi mi. Việc của o xong rồi, chừ tới việc của hai cha con mi.
Khánh khựng lại khi nghe hai chữ "cha con" phát ra từ miệng o Bảy. Hắn nhìn vào gian buồng tối phía sau tiệm. Nơi đó, một bóng người già nua đang ngồi lặng lẽ trên chiếc ghế mây cũ, chân trái duỗi thẳng bất động.
Từ trong bóng tối của căn buồng, tiếng ho khục khặc của Ông Tư vang lên, khô khốc và nặng nề:
- Khánh... mi vào đây. Mang theo cái chìa khóa đồng ở ngăn kéo tủ thờ.
Khánh đứng dậy, hắn vuốt vội những giọt nước mưa còn đọng trên tóc. Hắn đi đến chiếc tủ thờ giữa gian nhà chính, mở ngăn kéo nhỏ phía dưới, lấy ra chiếc chìa khóa bằng đồng thau đã xỉn màu xanh gỉ.
- Ông Tư cần lấy đồ chi dưới hầm?
Khánh đứng trước cửa buồng hỏi vọng vào.
- Xuống kho niêm.
Giọng Ông Tư vọng ra, nghe như tiếng đất đá sụt lở dưới lòng sông - Mở cái tủ khóa hai lớp không số ở góc trong cùng. Lấy cái hộp gỗ trắc nhỏ, bên trong có miếng đồng khắc chữ "Tích" với tờ bản đồ trấn xác năm 2003. Tiện tay múc thêm một bát nước sông Hương mới gánh chiều ni đặt trên bục đá.
Khánh gật đầu. Hắn cầm đèn pin, một mình đi xuống lối cầu thang hẹp dẫn vào hầm niêm.
Không khí dưới hầm ẩm lạnh, nồng nặc mùi tro hương cũ và mùi gỗ mục. Những chiếc kệ gỗ xếp đầy tà vật cầm cố suốt mấy chục năm qua đứng im lìm trong bóng tối. Khánh đi vòng qua kệ số 11, nơi đặt chiếc đèn thờ Bích Động mới thu nhận, rồi dừng lại trước bức tường gạch vồ ở góc trong cùng.
Cái tủ gỗ hai lớp không số nằm khuất sau một tấm vải liệm cũ. Khánh dùng chìa khóa đồng tra vào ổ, xoay hai vòng ngược chiều kim đồng hồ. Một tiếng cạch khô khốc vang lên. Lớp cửa gỗ thứ nhất mở ra, để lộ một ngăn tủ bằng sắt rỉ sét bên trong. Hắn tiếp tục dùng chiếc chìa khóa nhỏ hơn treo cùng khoen để mở lớp khóa thứ hai.
Bên trong ngăn tủ tối tăm chỉ đặt đúng hai thứ: một chiếc hộp gỗ trắc nhỏ cỡ lòng bàn tay và một cuộn giấy bản đã ố vàng, được buộc lại bằng sợi chỉ đỏ.
Khánh cầm chiếc hộp và cuộn giấy lên. Chiếc hộp gỗ nhẹ nhưng khi chạm vào, đầu ngón tay hắn tê buốt như vừa chạm vào nước đá. Hắn đi ra bục đá gần lối lên xuống, múc một bát nước sông Hương đầy từ chiếc lu sành rồi mang tất cả trở lại phòng sau.
Căn phòng sau của Ông Tư vốn là nơi ông vẫn thường ngồi ngâm chân mỗi sáng để giảm bớt âm khí tích tụ. Giờ đây, chậu nước ngâm chân đã đổ khô, chỉ còn chiếc ghế mây đặt cạnh chiếc bàn tròn bằng gỗ gụ. Trên bàn, ngọn đèn dầu leo lét tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù.
Ông Tư ngồi đó, chiếc áo cộc tay màu chàm của ông ướt sũng một bên vai. Khuôn mặt ông xám ngoét, những đường gân máu ở cổ nổi lên thành từng vệt xanh xao ngoằn ngoèo.
- Đặt đồ lên bàn đi con.
Ông Tư nói, mắt ông vẫn nhắm nghiền.
Khánh đặt bát nước sông, chiếc hộp gỗ và cuộn giấy bản lên mặt bàn gỗ gụ. Hắn kéo một chiếc ghế đẩu lại gần, ngồi đối diện với ông.
- Con lấy đủ rồi.
Khánh nói.
Ông Tư chậm rãi mở mắt. Ông không nhìn vào những món đồ trên bàn, mà nhìn thẳng vào vai trái của Khánh:
- Cởi áo ra.
Khánh im lặng làm theo. Hắn cởi chiếc áo thun ướt sũng ra, để trần nửa thân trên. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, bả vai trái của hắn hiện rõ vết bớt màu đỏ hình con cá.
Vết bớt vốn dĩ từ nhỏ chỉ là một vệt màu hồng nhạt, không rõ hình thù. Nhưng chừ, con cá đỏ hiện lên mồn một dưới da hắn, sống động như được vẽ bằng máu tươi. Đầu cá hướng về phía ngực, phần vây và đuôi kéo dài thành một đường chỉ đỏ mảnh nhưng sắc nét, đang bò dần về phía xương ức.
Mỗi nhịp tim của Khánh đập lên, đường chỉ đỏ đó lại khẽ rung nhẹ, như một sinh vật sống đang tìm đường di chuyển dưới lớp biểu bì.
Ông Tư chỉ tay vào chiếc hộp gỗ trắc:
- Mở ra. Lấy miếng đồng đặt lên vết bớt trên vai mi.
Khánh mở nắp hộp. Bên trong là một miếng đồng hình chữ nhật dẹt, rìa cạnh bị mài mòn, mặt trên khắc một chữ "Tích" bằng lối chữ triện cổ. Hắn cầm miếng đồng lên, áp mặt có khắc chữ vào vết bớt trên bả vai trái.
Một luồng lạnh buốt chạy dọc từ bả vai xuống sống lưng, khiến Khánh rùng mình một cái. Hắn nghe thấy tiếng nước chảy rì rầm bên tai, dù xung quanh chỉ có tiếng mưa rơi trên mái ngói.
- Nhìn vào miếng đồng.
Ông Tư nhắc.
Khánh cúi đầu nhìn xuống vai mình qua chiếc gương mờ treo trên vách. Trên mặt miếng đồng xỉn màu, bảy vạch khắc nhỏ chạy dọc theo cạnh bên từ từ đỏ lên. Màu đỏ của nước đồng sáng rực như máu tươi, tương phản hoàn toàn với màu xám xịt của kim loại cổ. Đồng thời, đường chỉ đỏ dưới da hắn như bị hút bởi miếng đồng, nó nổi rõ hơn, kéo dài thêm một khoảng nhỏ chừng nửa đốt ngón tay hướng về phía xương ức.
Ông Tư trải cuộn giấy bản ố vàng ra bàn. Đó là bản đồ trấn xác vẽ từ năm 2003.
Trên tờ giấy bản, nét mực tàu vẽ hình hài một đứa trẻ ba tuổi nằm ngửa. Tại vị trí bả vai trái của đứa trẻ, người vẽ đã dùng chu sa đỏ vẽ một trận pháp hình con cá. Các đường chỉ đỏ từ trận pháp đó chạy dọc khắp các kinh mạch trên cơ thể đứa trẻ, tụ lại ở vùng ngực.
Khánh đối chiếu những đường vẽ trên giấy với các vệt đỏ đang hiện trên người mình. Chúng trùng khớp nhau hoàn toàn, không sai một ly.
- Đây là sơ đồ trấn xác năm đó.
Khánh nói, giọng hắn trầm xuống - Đứa trẻ chết đuối năm 2003... chính là cái xác ni.
Ông Tư khẽ gật đầu. Ông nhúng hai ngón tay vào bát nước sông Hương đặt trên bàn. Nước sông lạnh ngắt. Ông đưa ngón tay run rẩy chạm vào bả vai Khánh, lần theo đường chỉ đỏ đang bò về phía ngực hắn. Ngón tay ông thô ráp, đầy vết chai sạn của người cả đời làm việc với cõi âm.
Nhưng khi ngón tay ông di chuyển đến gần xương ức, cách tim Khánh chừng hai thốn, ông đột ngột dừng lại. Ông rụt tay về, không tiếp tục miết nữa.
- Răng ông không làm phép che nó đi?
Khánh hỏi - Giống như những lần trước, ông vẫn dùng tro hương với nước sông để niêm nó lại mà.
Ông Tư nhìn bát nước sông Hương đang gợn sóng nhẹ trên bàn, giọng ông khàn đặc:
- Không niêm được nữa. Cái xác ni đã nhận quá nhiều âm khí từ chuyến đi trên ghe bầu của chú Liêm. Giao ước trấn xác năm xưa đã đến giới hạn của nó. Mỗi lần mi chạm vào nước âm, hoặc bị kéo sâu xuống lòng sông Hương, con cá ni lại bơi thêm một đoạn.
Ông chỉ vào vùng ngực trái của Khánh, nơi đường chỉ đỏ đang dừng lại:
- Khi đầu con cá chạm vào tim mi, hồn mang căn nguyên Tích sẽ bị đẩy ra khỏi thân xác Nguyễn Vĩnh Khánh. Lúc đó, cái xác ni sẽ rã ra thành nước bùn. Đó là cái chết lần hai, và không có cách chi trấn lại vào chính cái xác ni nữa. Hồn mi sẽ bị cuốn xuống Thoải Phủ; nó còn đi về đâu thì không ai dám bảo chắc, chớ không thể nói cứ chạm tim là nhất định tan hoàn toàn.
Khánh nhìn vệt đỏ trên ngực mình. Hắn không thấy sợ hãi, chỉ thấy một nỗi mệt mỏi dâng lên. Hắn đã sống hai mươi ba năm với danh tính Nguyễn Vĩnh Khánh, chừ đột ngột biết được mình chỉ là một linh hồn mượn xác, và cái xác đó đang đếm ngược từng ngày để rã ra.
Từ phía cửa buồng, tiếng bước chân nhỏ nhẹ vang lên. Bồi bước vào, trên người em vẫn mặc chiếc áo tơi lá ướt sũng. Đôi mắt em nhìn chằm chằm vào bả vai Khánh, rồi em đi lại gần, áp tai vào sát ngực trái của hắn.
Khánh để yên cho em nghe. Hắn biết Bồi có âm giác nhạy bén hơn người thường.
Bồi nhắm mắt lại, lông mày em nhíu chặt. Sau một hồi im lặng, em ngẩng đầu lên, giọng run run:
- Eng Khánh... con nghe tiếng nước chảy trong miếng đồng trên vai eng. Tiếng nước đó nghe rè rè, chậm hơn nhịp tim của eng đúng một phách. Con cá dưới da eng... nó đang thở. Mỗi lần tim eng đập, nó lại há miệng hút một chút máu.
- Còn bao lâu nữa hả Bồi?
Khánh hỏi nhỏ.
Bồi lắc đầu, nước mắt em chực trào ra:
- Con không biết. Tiếng nước dưới sông nghe hỗn loạn lắm. Con chỉ biết khoảng cách từ đầu cá tới tim eng ngắn lắm rồi, nhưng nước sông cứ dâng lên hạ xuống, con không đo được thành số ngày cụ thể.
Khánh đưa tay vỗ nhẹ đầu Bồi, bảo em ra ngoài phụ o Bảy. Bồi sụt sịt quay đi, bóng nhỏ của em khuất sau tấm màn che buồng.
Trong phòng chỉ còn lại Khánh và Ông Tư. Tiếng mưa ngoài kia vẫn rơi không dứt, nước từ mái hiên nhỏ xuống nền đất nghe như tiếng gõ nhịp của cõi âm.
Khánh nhìn miếng đồng khắc chữ "Tích" đặt trên bàn, rồi nhìn Ông Tư:
- Hồi trước... khi ông trấn hồn Tích vào xác con, ông có từng nghĩ sẽ dùng giao ước để chết thay con, hoặc giữ con mãi mãi trên bờ không?
Ông Tư im lặng. Ngọn đèn dầu chập chờn chiếu lên những nếp nhăn sâu hoắm trên khuôn mặt già nua của ông. Đôi mắt ông, vốn luôn đục mờ và né tránh ánh nhìn của Khánh, giờ đây lại nhìn thẳng vào hắn, chứa đựng một nỗi đau đớn khôn cùng tích tụ suốt tám mươi mốt năm qua.
- Có.
Ông Tư thừa nhận, giọng ông run lên - Tau từng nghĩ sẽ gánh hết cho mi. Tau đã sống kéo dài cái xác chết trôi ni suốt tám mươi mốt năm bằng giao ước Thoải Phủ, cũng chỉ để chờ ngày mi lớn lên, để canh giữ cho mi không phải chạm vào nước sông Hương. Tau muốn mi làm một người bình thường, học hành ra trường, làm ăn trên bờ, không liên quan chi đến tiệm Vong Ký ni nữa.
Ông dừng lại, ho một tràng dài, lồng ngực phập phồng dữ dội:
- Nhưng sông Hương không tha cho nhà ta. Âm Vũ đã tìm ra mi. Cửa Âm Hương đã mở. Chừ tau có muốn gánh, sông cũng không cho gánh nữa. Mọi cách trì hoãn của tau từ trước tới chừ đều phải đổi bằng sinh mạng hoặc ý chí của người khác. Tau đã ích kỷ giữ mi lại bên mình, nhưng chừ... tau không quyết định thay mi nữa.
Ông Tư đẩy miếng đồng khắc chữ "Tích" về phía Khánh:
- Giữ lấy cái ni. Đi tiếp hay dừng lại, xuống nước đối mặt với Âm Vũ hay bỏ trốn khỏi Huế... là quyền của mi. Tau không bắt mi phải nhận lại cái tên Tích, cũng không bắt mi phải làm đứa con trai đã chết năm 1945 của Ông Chính. Mi là Nguyễn Vĩnh Khánh, mi có quyền tự quyết.
Khánh nhìn miếng đồng xỉn màu nằm lặng lẽ trên mặt bàn gỗ. Hắn đưa tay cầm lấy nó, cảm giác lạnh buốt ban nãy đã biến mất, chỉ còn lại sự thô ráp của kim loại cổ. Hắn nói, giọng bình thản nhưng dứt khoát:
- Con là Nguyễn Vĩnh Khánh. Con sinh ra ở Huế, lớn lên ở cái tiệm ni. Con không biết Tích của năm 1945 là người răng, con chỉ biết mình là đứa con được ông nuôi nấng hai mươi ba năm qua. Miếng đồng ni... con sẽ giữ. Không phải vì con muốn làm Tích, mà vì đây là đồ của cha để lại cho con.
Hai chữ "cha" phát ra từ miệng Khánh rất nhẹ, nhưng nó làm bả vai Ông Tư khẽ run lên. Ông cúi đầu, hai bàn tay đan chặt vào nhau để giấu đi sự run rẩy.
- Được... được rồi...
Ông Tư thào thào - Mi hiểu rứa là tốt. Nguyễn Vĩnh Khánh... mi cứ làm Nguyễn Vĩnh Khánh.
Nói rồi, Ông Tư chậm rãi đưa tay trái lên, bắt đầu tháo lớp khăn vải xám quấn quanh cổ tay. Lớp khăn ướt sũng nước sông, khi tháo ra, một mùi bùn non ẩm mốc lẫn mùi máu tanh nồng lập tức tỏa ra trong căn phòng hẹp.
Khánh nhìn vào cổ tay của Ông Tư và khựng lại.
Xung quanh cổ tay ông, nơi đáng lẽ là vết sẹo bình thường, giờ đây xuất hiện một vòng chỉ đen kịt như mực tàu. Vòng chỉ đen này không nằm dưới da, mà nó như một sợi xích vô hình siết chặt vào da thịt ông, khiến phần thịt xung quanh chuyển sang màu tím đen, có chỗ đã bắt đầu hoại tử.
- Dấu giao ước... răng lại thành màu đen thế này?
Khánh hỏi, lòng hắn dấy lên một nỗi bất an tột cùng.
Ông Tư vuốt nhẹ vòng chỉ đen trên cổ tay mình, nét mặt ông nghiêm trọng:
- Giao ước giữ xác của tau với Thoải Phủ đã bị Âm Vũ dùng tà thuật tác động khi hắn bắt tau ở Cồn Hến. Hắn không giết tau ngay, là vì hắn muốn biến cái thân xác được giữ khỏi mục suốt tám mươi mốt năm ni thành một cái mỏ neo phụ. Nếu tau không tự tay phá cái giao ước ni trước khi Cửa đóng, Âm Vũ có thể dùng chính thân xác của tau làm khóa để giữ cho vết rách của Cửa Âm Hương không thể khép lại. Lúc đó, vong hồn dưới sông sẽ tràn lên bờ, Huế sẽ thành đất chết.
Khánh siết chặt hai nắm tay:
- Phải phá giao ước răng? Ông sẽ bị ảnh hưởng chi không?
Ông Tư không trả lời câu hỏi của Khánh. Ông chỉ nhìn ra phía cửa sổ, nơi những giọt mưa vẫn không ngừng đập vào lớp kính mờ bụi.
Đột nhiên, vòng chỉ đen quanh cổ tay Ông Tư tự siết chặt thêm một vòng. Tiếng da thịt bị co kéo nghe ghê rợn vang lên trong phòng. Máu đen rỉ ra, nhỏ xuống bát nước sông Hương trên bàn, làm nước trong bát lập tức chuyển sang màu đục ngầu.
Cùng lúc đó, ở góc phòng tối tăm, chiếc gậy gỗ mun bị mẻ một góc đầu của Ông Tư - cây gậy Khánh đã mang về tiệm sau chuyến xuống Âm Hương và dựng nghiêng vào vách tường - bỗng nhiên tự đứng thẳng dậy.
*Cộc.*
Đầu gậy gõ mạnh xuống nền gạch hoa cũ kỹ một tiếng khô khốc. Không có ai chạm vào nó, không có một luồng gió nào thổi qua, nhưng chiếc gậy vẫn tự chuyển động.
*Cộc. Cộc. Cộc.*
Tiếng gõ vang lên đều đặn, nhịp nhàng nhưng lạnh lẽo, vang vọng khắp căn nhà cổ giữa đêm mưa gió của Gia Hội. Khánh đứng bật dậy, tay hắn nắm chặt miếng đồng khắc chữ "Tích", mắt nhìn trừng trừng vào chiếc gậy gỗ đang tự gõ xuống nền nhà đúng bốn mươi chín tiếng.