TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 231: Ngày Đầu Không Có Ông Tư
Tiếng mưa rỉ rả trên mái ngói liệt của tiệm Vong Ký đánh thức Khánh khi trời còn chưa sáng rõ. Hắn ngồi dậy trên chiếc chõng tre đặt sát gian thờ ngoài,…
Nội dung chương
Tiếng mưa rỉ rả trên mái ngói liệt của tiệm Vong Ký đánh thức Khánh khi trời còn chưa sáng rõ. Hắn ngồi dậy trên chiếc chõng tre đặt sát gian thờ ngoài, đầu óc nặng trĩu sau một đêm dài không ngủ. Không khí trong tiệm lạnh và ẩm, mang theo mùi nước lụt non đang mấp mé ngoài ngõ kiệt Gia Hội.
Khánh bước xuống chõng, nhìn sang chiếc ghế mây quen thuộc kê bên góc bàn thờ. Chiếc ghế trống không. Cây gậy gỗ mun Khánh mang từ bến sau về tựa vào thành ghế, đầu gậy vẫn mẻ một góc và xơ thớ gỗ. Chậu đất nung dùng để ngâm chân vẫn đặt dưới gầm, bên cạnh là đôi dép cao su mòn gót của Ông Tư. Mọi thứ vẫn nằm nguyên vị trí cũ, chỉ có người sử dụng chúng đã nằm lại phía sau tấm bình phong gỗ ở gian phòng trong.
Quang và Phan Khanh đã thức từ lúc nào. Họ đang đứng lặng lẽ bên tấm bình phong, nét mặt mỏi mệt dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu. Phan Khanh vừa cất chiếc điện thoại vào túi quần, khẽ gật đầu với Khánh khi thấy hắn bước vào.
- Tôi đã liên hệ bên nhà đòn. Nhưng nước sông đang dâng nhanh quá, đường kiệt ngoài kia ngập qua đầu gối rồi. Họ bảo phải đợi đến trưa mới chuyển quan tài vào được.
Khánh không đáp, hắn đi vòng qua tấm bình phong. Trên chiếc giường gỗ, thi thể Ông Tư được phủ một tấm vải liệm trắng tinh. Khánh quỳ xuống bên mép giường, đưa tay tìm mạch cổ tay của cha. Da thịt ông đã lạnh ngắt, cứng đờ, không còn một chút hơi ấm hay nhịp đập nào của sự sống. Hắn ghé sát tai vào lồng ngực gầy guộc của ông, xung quanh chỉ có tiếng mưa rơi đều đặn trên mái nhà, tuyệt đối không có tiếng tim đập hay tiếng thở thào thào của những ngày trước.
Khánh đứng dậy, đi ra gian bếp lấy một bát nước sông Hương đục ngầu vừa múc lúc sáng. Hắn bưng bát nước vào, đặt cẩn thận lên ngực Ông Tư rồi chăm chú quan sát. Mặt nước trong bát phẳng lặng như tờ, không hề có một gợn sóng nhỏ, cũng không có luồng khói lạnh hay bóng đen nào tách ra từ thân xác. Giao ước Thoải Phủ giữ xác ông suốt tám mươi mốt năm qua đã thực sự tan biến. Không còn dấu hiệu nào cho thấy phần hồn của ông bị giữ lại dưới tầng nước Âm Hương.
- Ông đi thật rồi.
Quang bước lại gần, vỗ nhẹ lên vai Khánh - Không còn sợi dây nào buộc ông lại với cõi ni nữa. Mi cũng nên nhẹ lòng.
Khánh bưng bát nước đặt lại lên bàn thờ, giọng hắn khản đặc:
- Tau biết. Đi được rứa là tốt cho ông. Tám mươi mốt năm gánh vác cái tiệm ni, ông mệt mỏi nhiều rồi.
Ở gian ngoài, Bồi đang ngồi gục đầu trên chiếc bàn gỗ lớn, ngay bên cạnh quyển Vong Ký trắng. Đứa nhỏ mười tuổi áp sát tai xuống mặt bàn gỗ dày, hai mắt sưng húp vì khóc nhiều. Khánh bước ra, ngồi xuống chiếc ghế đối diện em.
- Bồi. Con nghe thấy chi không?
Bồi ngước khuôn mặt lấm lem nước mắt lên, lắc đầu quầy quậy:
- Con không nghe thấy tiếng nước chảy của Ông Tư nữa eng Khánh ơi. Dưới gầm bàn thờ cũng im re, không có tiếng gậy gõ cộc cộc của ông nữa.
Em sụt sịt, chỉ tay về phía cửa sổ hướng ra sông:
- Nhưng ngoài kia... từ phía Cồn Hến, tiếng lao xao đông lắm. Vô số tiếng người gọi nhau dưới nước, họ cứ kêu tên réo gọi liên tục. Con nhức tai quá.
Khánh biết đứa nhỏ có Âm giác nhạy bén đang phải chịu đựng những âm thanh hỗn loạn từ khi Cửa Âm Hương mở tự nhiên ngày 27 tháng Tám. Đến sáng nay, Cửa đã mở sang ngày thứ sáu. Hắn với tay lấy hộp nhang thường đặt trên kệ gỗ, rút ra một nén nhang chân tre màu đỏ. Hắn không dùng máu đầu ngón tay để châm nhang, cũng không đọc bất kỳ câu chú Hương Thuật nào. Khánh chỉ châm lửa từ ngọn đèn dầu, cắm nén nhang vào bát hương chính giữa bàn thờ.
Khói nhang tỏa ra mùi thơm dịu của gỗ trầm thường, bay thẳng lên trần nhà rồi tan vào không khí ẩm ướt. Nén nhang cháy một đường thẳng tắp, tàn nhang rơi xuống thành những hạt bụi xám mịn màng. Chẳng có vong hồn nào xuất hiện để nhận nhang, cũng không có hiện tượng kỳ quái nào xảy ra. Đây là nén nhang tiễn biệt một người sống bình thường, giống như trăm ngàn tang lễ khác ở đất Huế này.
Tiếng bước chân chậm chạp ngoài thềm cắt ngang sự tĩnh lặng của căn nhà. Cô Bảy bước vào, người o ướt đẫm nước mưa dù có che chiếc nón lá cũ. Chỉ sau một đêm, mái tóc của o đã bạc trắng hoàn toàn, những nếp nhăn trên trán và khóe mắt hằn sâu rõ rệt. O đi đứng có phần lảo đảo, tay phải phải vịn vào cánh cửa gỗ để giữ thăng bằng.
Khánh vội bước ra đỡ lấy o:
- O Bảy. Trời mưa to rứa o qua làm chi cho cực.
Cô Bảy bỏ nón lá ra, để lộ khuôn mặt nhợt nhạt không còn chút huyết sắc. O nhìn quanh gian nhà một lượt, ánh mắt o đờ đẫn, không còn cái thần sắc sắc sảo của một Canh Thoải ngày trước. O nhìn về phía cửa tiệm, nơi có vài bóng đen mờ ảo đang đứng lảng vảng ngoài ngõ kiệt dưới mưa, nhưng ánh mắt o đi qua họ như đi qua khoảng không vô hình.
- Khánh đó hả con?
Cô Bảy hỏi, giọng o run run:
- Bát hương của ông Tư đặt hướng mô rồi? Chỉ cho o với, mắt o chừ nhìn mọi thứ cứ nhòe thành nhân ảnh, chẳng thấy rõ chi cả.
Bồi chạy lại, dắt tay Cô Bảy dẫn đến trước bàn thờ. O Bảy đón lấy nén nhang từ tay Khánh, cắm vào bát hương rồi khẽ thở dài:
- Âm nhãn của o mất sạch rồi con ơi. Đêm qua dùng cái sẹo chữ X ni làm mỏ neo giữ Cửa, o đã mất phần lớn quyền năng, không gọi được Canh Thoải nữa. Mắt tai người thường của o vẫn còn, nhưng những thứ thuộc Âm Hương thì o không thấy, không nghe được như trước. Chừ o chỉ có thể giúp mi bằng kinh nghiệm cũ thôi.
Khánh nhìn vết sẹo chữ X trên cổ tay Cô Bảy đã chuyển sang màu trắng bệch, không còn rỉ máu hay phát ra luồng khí lạnh nào nữa. Hắn đỡ o ngồi xuống ghế mây:
- O giữ được mạng sống là tốt rồi. Việc còn lại ở tiệm, con tự lo được.
Cô Bảy lắc đầu, mắt o hướng về phía phòng trong, nơi đặt thi thể Ông Tư:
- Ông Tư đi thanh thản chứ? Ông ấy giữ cái xác đó lâu quá rồi, chừ buông ra được cũng là giải thoát. Mi đừng có buồn quá mà làm ảnh hưởng đến việc lớn. Cửa mở rồi, thời gian của chúng ta không còn nhiều đâu.
Khánh gật đầu. Hắn quay lại phòng trong, cùng với Quang và Phan Khanh chuẩn bị thay áo liệm cho Ông Tư. Bộ quần áo cũ của ông đã sờn rách ở gấu quần do những ngày lê lết cái chân bại liệt. Khi Khánh cẩn thận lục tìm trong túi chiếc áo bà ba màu nâu của cha để dọn dẹp các di vật cá nhân, ngón tay hắn chạm phải một vật kim loại nhỏ nằm sâu dưới đáy túi.
Hắn rút tay ra. Đó là một chiếc chìa khóa đồng cũ kỹ, xỉn màu vì thời gian. Trên phần răng khóa có khắc đúng bảy khía sâu hoắm, đều đặn. Khánh khựng lại, lấy từ túi áo ra miếng đồng khắc chữ 'Tích' mà hắn đã tự tay cất lại từ chiếc bàn cạnh giường sau khi cha tắt thở. Khi đặt chiếc chìa khóa đồng cạnh miếng đồng, bảy khía trên răng khóa hoàn toàn khớp với bảy vạch nước khắc trên miếng đồng 'Tích'.
- Cái ni là chìa khóa mở ngăn tủ dưới bàn thờ.
Quang đứng bên cạnh quan sát, khẽ nói - Ông Tư từng nhắc đến một ngăn tủ khóa hai lớp mà ông chưa bao giờ cho mi chạm vào. Có lẽ chừ là lúc ông muốn mi mở nó ra.
Khánh cầm chiếc chìa khóa đi ra gian ngoài. Hắn cúi người xuống dưới gầm bàn thờ chính, nơi có một hộc gỗ nhỏ được sơn son thếp vàng nhưng đã bong tróc hết lớp sơn. Hộc gỗ này bình thường không hề có lỗ khóa, chỉ có một khe hở nhỏ vừa khít với miếng đồng 'Tích'.
Khánh đặt miếng đồng vào khe hở trước. Một tiếng 'cạch' khô khốc vang lên từ bên trong thớ gỗ cổ thụ. Lớp khóa thứ nhất đã mở. Sau đó, một lỗ khóa nhỏ bằng đồng mới từ từ lộ ra từ phía dưới hộc gỗ. Khánh tra chiếc chìa khóa đồng bảy khía vào, xoay nhẹ nửa vòng.
Ngăn kéo gỗ từ từ trượt ra. Mùi gỗ mục và mùi giấy bản ẩm mốc xộc thẳng vào mũi Khánh.
Bên trong ngăn kéo không có nhiều đồ đạc. Chỉ có một tấm bản đồ vẽ tay trên nền giấy da dê đã ngả màu vàng ố. Bên cạnh là ba sợi chỉ đen thô ráp tháo từ gáy một quyển sổ cổ xưa và vài tờ ghi chép bằng mực tàu đã phai. Khánh lục lọi kỹ góc ngăn kéo nhưng không tìm thấy thêm bất kỳ bức thư nào khác.
Hắn đứng thẳng người dậy, rút phong thư duy nhất mà Ông Tư đã trao tận tay cho hắn từ đêm hôm trước trên chiếc ghe bầu. Phong thư ấy vẫn được hắn cất kỹ trong túi áo ngực, lớp sáp niêm phong màu tro xám đã bị nứt một đường dọc từ lúc đưa Ông Tư về tiệm.
Khánh dùng ngón tay bẻ gãy lớp sáp niêm phong, rút tờ giấy bản bên trong ra. Chữ viết của Ông Tư trên giấy rất nguệch ngoạc, nét bút run rẩy của một người đã cạn kiệt sinh lực, nhưng từng lời viết ra lại vô cùng dứt khoát.
Khánh lặng lẽ đọc những dòng chữ của cha:
'Khánh.
Khi mi đọc được những dòng ni thì tau đã nằm sâu dưới đất rồi.
Những chuyện cần nói về thân phận của mi, về cái tên Tích và giao ước năm xưa, tau đã nói hết trên ghe. Tau không giấu mi chi nữa.
Tiệm Vong Ký ni từ nay thuộc về mi. Mi không phải là Tích của năm 1945, mi là Nguyễn Vĩnh Khánh của hiện tại.
Vì rứa, tau không để lại mệnh lệnh nào bắt mi phải xuống Âm Hương để chịu chết thay cho ai. Tau cũng không bắt mi tiếp tục giữ cái tiệm ni nếu mi không muốn. Lựa chọn là ở mi.
Nhưng nếu mi chọn tiếp tục con đường ni, hãy nhớ kỹ ba điều luật bất biến của tiệm:
Một, không được bán người. Hai, không nhận sinh mạng của người sống làm vật cầm hay vật thế. Ba, tuyệt đối không mở Cửa Âm Hương vì tư lợi.
Ngoài ba điều cấm ấy, con phải nhớ lời tau đã nói. Ghi tên để gìn giữ lời hẹn và trả tự do, không ghi tên để chiếm hữu. Người chết đến hạn phải đi thì đừng giữ lại chỉ để người sống bớt đau. Không để bất kỳ quyển sổ nào quyết định thay người mang tên trong đó; người trông tiệm không làm chủ linh hồn của ai.
Đừng dùng tình thương của mi đối với tau làm một thứ xiềng xích khác để giam giữ bản thân mình.
Con hãy sống cuộc đời của con.'
Khánh nhìn chằm chằm vào cách xưng hô ở dòng cuối cùng của bức thư. Ông Tư chưa từng gọi hắn dịu dàng như rứa khi còn sống. Ông luôn xưng 'tau', gọi 'mi', thỉnh thoảng mắng hắn lười biếng, sợ ma. Nhưng đến lúc chết đi, ông chỉ dùng danh phận một bậc sinh thành bình thường để dặn dò đứa con duy nhất của mình. Bức thư không hề nhắc đến món nợ kiếp trước, cũng chẳng có lời oán hận nào về việc hắn đã làm vỡ giao ước giữ xác ông.
Khánh xếp bức thư lại, cẩn thận đút vào túi áo. Hắn quay sang nhìn Quang và Phan Khanh đang đứng đợi câu trả lời của mình:
- Ông Tư không bắt tau làm chi cả. Ông bảo tau tự chọn.
Quang thở phào một hơi:
- Rứa là tốt. Ông Tư cả đời bị giao ước trói buộc, ông ấy không muốn mi cũng bị trói như rứa. Nhưng chừ Cửa đã mở, chúng ta phải tính tiếp răng đây?
Bồi lúc này đang cầm chiếc khánh đồng nhỏ trên bàn thờ. Em áp tai vào thành đồng, nhắm mắt lại để lắng nghe những tiếng rung siêu nhỏ từ dòng nước sông Hương truyền qua nền đất của tiệm.
- Bốn... năm... sáu... bảy.
Bồi lẩm bẩm đếm, rồi ngước lên nhìn Khánh:
- Eng Khánh, con nghe thấy bảy nhịp nước lệch nhau gõ vào khánh đồng. Cửa Âm Hương đã mở tự nhiên từ ngày hai mươi bảy tháng Tám; hôm ni đã sang ngày thứ sáu. Tính cả hôm ni, vẫn còn đủ bảy ngày từ mùng một đến hết mùng bảy tháng Chín; đến cuối ngày mùng bảy, Cửa mới khép lại.
Đứa nhỏ nhíu mày, vẻ mặt đầy lo lắng:
- Nhưng nhịp gõ sáng ni ngắn lắm, dồn dập hơn đêm qua nhiều. Con nghe như có tiếng ai đó đang dùng búa gõ vào vách đá dưới lòng sông rứa. Tiếng gõ cứ bình bịch, bình bịch liên tục.
Phan Khanh bước lại gần bàn, nét mặt anh đăm chiêu:
- Đó là do Vong Ký đen của Âm Vũ đang hoạt động. Hắn đã gom gần đủ chín nghìn chín trăm chín mươi chín cái tên. Mỗi cái tên bị xướng lên là một lần ranh giới cõi âm bị xé rộng ra. Nếu hắn hoàn thành việc gom tên trước khi Cửa đóng tự nhiên, vết rách dưới sông Hương sẽ tồn tại vĩnh viễn, lúc đó vong hồn sẽ tràn lên đất liền không cách chi cản nổi.
Khánh không nói gì. Hắn trải tấm bản đồ vẽ tay của Ông Tư ra mặt bàn gỗ. Tấm bản đồ vẽ chi tiết các tuyến nước ngầm, các dòng chảy xiết và các điểm tụ âm xung quanh khu vực Cồn Hến. Có những nét vẽ bằng mực đỏ đã phai, đánh dấu các vị trí mỏ neo mà Cô Bảy từng canh giữ.
Hắn cầm ba sợi chỉ đen thô ráp tìm thấy trong ngăn tủ lên. Ba sợi chỉ ni có vẻ ngoài xù xì, không giống chỉ khâu quần áo thông thường, mà giống như được bện từ một loại xơ cây mọc dưới nước sâu, có mùi tanh nồng của bùn đáy sông.
- Ba sợi chỉ ni để làm chi đây Khánh?
Quang tò mò hỏi, anh đưa tay định chạm vào nhưng Khánh đã ngăn lại:
- Đừng đụng vào. Chỉ ni có âm khí nặng lắm. Ông Tư ghi chú đây là chỉ tháo từ gáy của một quyển sổ cổ. Có lẽ nó liên quan đến cách tháo gáy quyển Vong Ký đen của Âm Vũ.
Khánh cẩn thận đặt ba sợi chỉ đen lên trên mặt tấm bản đồ giấy da dê.
Mưa ngoài trời đột ngột nặng hạt hơn, tiếng nước gõ chan chát vào mái hiên tôn của nhà bên cạnh. Hơi ẩm từ sông Hương theo gió luồn qua khe cửa sổ, mang theo cái lạnh buốt xương của cõi âm thổi vào gian phòng.
Ngay khi ba sợi chỉ vừa chạm vào bề mặt tấm bản đồ, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra.
Mặt giấy da dê vốn khô ráo bỗng nhiên tự rịn ra những giọt nước nhỏ li ti, như thể nó đang hút lấy toàn bộ hơi ẩm trong không khí ẩm ướt của căn phòng. Ba sợi chỉ đen nằm trên giấy bắt đầu động đậy. Chúng tự động hút lấy những giọt nước ấy, chuyển từ màu đen xỉn sang màu đen bóng ướt át.
Khánh, Quang và Phan Khanh đều nín thở quan sát.
Ba sợi chỉ tự co rút lại, uốn lượn như ba con giun nhỏ trên mặt bản đồ. Chúng từ từ di chuyển, trượt qua các tuyến nước ngầm vẽ trên giấy, rồi dừng lại ngay tại vị trí trung tâm của Cồn Hến - nơi dòng sông Hương chia làm hai nhánh bao bọc lấy dải đất nổi.
Tại điểm đó, ba sợi chỉ tự cuộn tròn lại, tạo thành ba vòng khóa đen đồng tâm, siết chặt lấy điểm đánh dấu Cồn Hến trên bản đồ như một cái gông vô hình.