TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 237: Xuống Âm Hương
Khánh đặt tờ phiếu tạm xuất kho lên mặt bàn gỗ đã mòn vẹt góc. Hắn dùng ngọn bút lông chấm vào nghiên mực tàu đen đặc, nheo mắt nhìn dòng chữ vừa viết…
Nội dung chương
Khánh đặt tờ phiếu tạm xuất kho lên mặt bàn gỗ đã mòn vẹt góc. Hắn dùng ngọn bút lông chấm vào nghiên mực tàu đen đặc, nheo mắt nhìn dòng chữ vừa viết xong. Trên giấy bản, nét mực chưa kịp khô vẫn còn ánh lên sắc đen ướt át.
'Tạm xuất vật neo: Mô hình ghe bầu gỗ. Mục đích: Dùng thân ghe làm phương tiện di chuyển dưới tầng nước âm. Ghi chú: Chỉ dùng xác gỗ của vật neo, tuyệt đối không gọi lại vong hồn Tôn Thất Liêm đã hoàn tất lời hẹn.'
Khánh đặt bút xuống, thổi nhẹ cho mực nhanh khô. Hắn tự trào một tiếng nhỏ trong cổ họng. Ông Tư đi rồi, giờ mọi việc trong tiệm đều do một tay hắn ký nhận. Cái cảm giác tự mình ký vào tờ giấy quyết định mạng sống của bản thân dưới lòng sông Hương này có chút nực cười, nhưng hắn không còn lựa chọn nào khác. Cửa Âm Hương đã mở được mấy ngày, nước sông mỗi đêm lại dâng lên một tấc nước âm lạnh ngắt, nếu hắn không xuống chừ thì không bao giờ còn cơ hội tìm lại những gì Ông Tư đã để lại.
Hắn bước vào góc kho niêm, nơi đặt chiếc lu sành nhỏ chứa nước sông Hương được múc từ giữa dòng vào đêm rằm tháng Bảy. Hắn bưng chiếc lu ra đặt giữa nền gạch. Mô hình chiếc ghe bầu bằng gỗ mít, chỉ dài chừng một gang tay, nằm im lìm bên cạnh bát hương đã tàn.
Khánh rút ba nén nhang, châm lửa từ ngọn đèn dầu trên bàn thờ rồi cắm vào bát tro. Hắn lấy một tờ giấy vàng mã, dùng ngón tay trỏ đã được châm kim rỉ máu quẹt một đường dài từ đỉnh đến chân tờ giấy.
- Xác gỗ không hồn, mượn đường trôi nước. Tôn Thất Liêm đã đi, ghe này chỉ còn vỏ. Nhận máu làm neo, nhận nước làm đường.
Khánh lẩm nhẩm bài chú nhỏ mà hắn vừa học được từ những ghi chép trong ngăn tủ khóa hai lớp của Ông Tư. Hắn kẹp tờ giấy vàng đã thấm máu vào giữa hai ngón tay, đốt cháy trên ngọn lửa nhang rồi thả tro vào lu nước sành. Ngay sau đó, hắn cầm mô hình ghe bầu thả nhẹ vào trong lu.
Chiếc ghe gỗ vừa chạm nước liền phát ra tiếng động lạ. Nước trong lu sành sủi bọt tăm lên sùng sục như có bếp lửa đun bên dưới, dù thành lu vẫn lạnh ngắt. Xác gỗ hút nước nhanh đến mức người ta có thể nghe thấy tiếng thớ gỗ giãn nở kêu răng rắc bên trong. Tiếng kêu mỗi lúc một lớn, nghe như tiếng xương người bẻ khớp trong đêm thanh vắng.
Khánh lùi lại một bước. Chiếc ghe gỗ trong lu sành bắt đầu phình to ra, lấn sát vào thành lu rồi đột ngột biến mất trong một tiếng *oong* trầm đục.
Ngoài bến nước Kim Long, một bóng đen khổng lồ từ dưới lòng sông trồi lên. Đó là một chiếc ghe bầu trống trơn, dài hơn năm mét, mạn ghe đen xỉn vì ngâm nước lâu ngày, cô độc dập dềnh trên sóng nước sông Hương. Không có bóng người lái, cũng không có tiếng thở dài hay giọng nói quen thuộc của Tôn Thất Liêm. Nó chỉ là một cái xác gỗ rỗng, lạnh lẽo và lặng câm.
Cô Bảy đứng trên bến nước, chiếc áo bà ba màu nâu sẫm của bà ướt đẫm sương đêm. Bà không còn Âm nhãn để nhìn thấy những luồng khí âm đen ngòm đang bốc lên từ mạn ghe, nhưng đôi bàn tay thô ráp của người cả đời bán chè ở chợ Bao Vinh vẫn còn nguyên sự nhạy bén. Bà bước xuống bậc đá, cúi người dùng tay sờ nắn dọc theo lườn ghe bầu.
Bàn tay bà dừng lại ở gần bánh lái phía đuôi ghe. Bà miết mạnh ngón tay cái vào một khe hở nhỏ rồi ngẩng đầu lên, giọng khàn khàn gọi:
- Quang ơi! Mi đem cái búa với miếng nẹp gỗ lại đây cho o. Cái lườn ghe ni bị nứt một đường dài bằng ngón tay rồi. Để rứa mà xuống dưới nớ, nước âm nó ép cho rã ra thành từng mảnh củi mục chừ.
Quang đang đứng trên bờ, tay giữ chặt cuộn dây thừng lớn bằng xơ dừa, nghe gọi liền lật đật chạy xuống. Hắn đặt cuộn dây xuống đất, rút từ trong túi đồ ra một chiếc búa sắt nhỏ và vài miếng gỗ thông mỏng.
- O thấy đường nứt nằm đoạn mô?
Quang hỏi, tay sờ soạng theo hướng chỉ của Cô Bảy.
- Đây nè. Ngay dưới chỗ ván lái ba tấc. Mi đóng nẹp dọc theo thớ gỗ cho chắc. Đóng ba cây đinh thôi, đừng đóng nhiều quá kẻo nứt thêm.
Cô Bảy chỉ dẫn, giọng bà bình thản nhưng nét mặt đầy lo âu.
Tiếng búa gõ *cộc cộc* vang lên giữa không gian tĩnh mịch của bến Kim Long. Khánh đứng bên cạnh mạn thuyền, nhìn những nhát búa của Quang găm chặt miếng nẹp gỗ vào thân ghe. Hắn biết Cô Bảy đang cố dùng kinh nghiệm thực tế để bảo vệ hắn, sau khi đã mất phần lớn quyền năng, mất toàn bộ Âm nhãn và không còn gọi được Canh Thoải.
- Xong rồi đó o.
Quang quẹt mồ hôi trán, đứng dậy nhìn Khánh
- Sợi dây thừng lớn tao buộc một đầu vào cọc đá trên bờ, giao đầu bờ cho người của anh Khanh giữ cùng tao. Tao đã luồn nó qua vòng sắt ở trục lái để giữ chiếc ghe trên tuyến mặt nước mà không kéo mày lệch khỏi đường xuống. Còn đoạn dây ngắn này tao buộc riêng vào vòng sắt ấy; mày quấn đầu kia quanh thắt lưng làm dây định hướng khi rời ghe. Dây lớn phải còn nguyên tới lúc mày trở lên. Nếu có biến cố chi, tao sẽ giật dây lớn ba lần làm hiệu.
Phan Khanh từ phía chiếc xuồng máy của cảnh sát đường thủy đậu cách đó không xa bước lại. Anh mặc thường phục nhưng chiếc áo khoác ngoài vẫn cài kín nút để che đi khẩu súng bên hông. Phan Khanh nhìn Khánh, giọng nói lạnh lùng nhưng rành rọt:
- Tôi đã ba trí hai xuồng máy chốt chặn ở mạn hạ lưu gần Cồn Hến. Nếu dây của anh Quang bị đứt hoặc anh bị dòng nước cuốn trôi ra xa, người của tôi sẽ dùng lưới cáp để giữ chiếc ghe lại. Nhưng đó là chuyện trên mặt nước. Còn dưới tầng nước âm kia, chúng tôi chịu chết, không cách chi can thiệp được.
Khánh gật đầu:
- Như rứa là đủ rồi anh Khanh. Cảm ơn anh.
Khánh nhìn sợi chỉ đỏ kéo từ chiếc khánh nhỏ treo ở mũi ghe, men theo đường dẫn đã lập rồi chìm vào hướng Gia Hội. Bồi vẫn ở nguyên tại tiệm Vong Ký như lời hắn dặn, ngồi trước Vong Ký trắng và tờ danh sách dài dằng dặc những cái tên được đánh chấm son đỏ chót. Từ đó, tiếng em đọc tên và nhịp dùi gõ khánh sẽ truyền theo đường dẫn xuống tầng nước âm, không cần đứa nhỏ phải ra bến sông.
Một tiếng *coong* thử vang lên từ phía tiệm, mảnh nhưng rõ. Khánh đặt tay lên chiếc khánh nhỏ ở mũi ghe và nói khẽ, như thể Bồi có thể nghe qua sợi chỉ:
- Cứ bình tĩnh mà làm. Chỉ cần nghe tiếng khánh của con, eng sẽ biết đường mà về.
Hắn bước lên ghe bầu, đặt tờ danh sách phụ mà Bồi đã chép lại dưới tấm ván lái gỗ. Hắn ngồi vào vị trí người chèo, hai tay nắm chặt hai mái chèo gỗ nặng trịch.
Chiếc ghe bầu từ từ rời bến Kim Long, trôi dần ra giữa dòng sông Hương. Đêm nay nước sông tĩnh lặng một cách kỳ lạ, không có một gợn sóng nhỏ, mặt nước đen thẫm như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời không sao của xứ Huế. Nhưng Khánh biết, sự tĩnh lặng này chỉ là lớp vỏ bọc bên ngoài. Dưới sâu kia, dòng nước âm đang cuộn chảy dữ dội để chuẩn bị cho ngày Cửa khép.
Tiếng *coong* đầu tiên từ tiệm Vong Ký truyền theo sợi chỉ đỏ, xuyên qua màn sương đêm rồi dội thẳng vào tai Khánh. Ngay lập tức, hàng tên đầu tiên trên tờ danh sách đặt dưới ván lái sáng lên một sắc đỏ nhạt như màu máu loãng.
Sợi chỉ đỏ nối đường truyền từ khánh đồng ở tiệm đến chiếc khánh nhỏ treo ở mũi ghe bầu căng ra, phát ra những tiếng rung nhẹ. Khánh bắt đầu chèo ghe hướng về phía Cồn Hến. Chiếc ghe đi theo một lộ trình rất kỳ lạ, không đi thẳng mà lượn sóng theo những điểm sáng đỏ vừa hiện lên trên danh sách. Đó là những điểm mà các vong hồn thật sự đang tồn tại dưới lòng sông, tạo thành một tuyến đường dẫn an toàn giúp hắn tránh khỏi những vùng ký ức rỗng tuếch do Âm Vũ tạo ra để đánh bẫy người sống.
Khi chiếc ghe đến giữa đoạn Cồn Hến, nước sông xung quanh đột ngột đổi màu. Lớp nước trong xanh ban ngày biến mất, thay vào đó là một màu nước đen ngòm, đặc quánh như bùn loãng và bốc lên mùi trầm khét lẹt xen lẫn mùi rêu mục.
Khánh buông mái chèo. Hắn kiểm tra nút buộc của đoạn dây định hướng ngắn quanh thắt lưng, rồi kéo thử chỗ dây đi qua vòng sắt ở trục lái. Sợi dây thừng lớn nối chiếc ghe với cọc đá Kim Long vẫn căng về phía thượng lưu, còn Quang và người của Phan Khanh giữ đầu bờ. Khánh chỉ dùng dao cắt bỏ phần xơ dừa thừa đang mắc vào mái chèo, tuyệt đối không phạm vào hai đường dây. Từ giây phút này, tiếng gọi từ bờ không thể theo hắn xuống tầng nước âm, nhưng liên hệ vật lý để kéo ghe và dẫn đường trở lại vẫn còn nguyên.
Hắn thọc tay vào túi áo, lấy ra miếng đồng khắc chữ 'Tích'. Miếng đồng chừ đã nguội lạnh như một cục băng, nhưng bảy vạch nước khắc trên mặt đồng vẫn còn hằn sâu sắc nét. Khánh cúi người, áp mạnh mặt khắc của miếng đồng xuống mặt nước sông đang cuộn xoáy bên mạn ghe.
- Tích về nguồn nước, mở lối âm hương.
Khánh hét lớn giữa tiếng gió rít.
Một tiếng nổ trầm đục vang lên dưới đáy sông. Lớp nước sông Hương vật lý đột ngột rẽ ra làm đôi, tạo thành một khe hở sâu hoắm chạy dọc theo lườn ghe. Khe nước rẽ ra lộ ra một khoảng không gian tối tăm, sâu hút bên dưới, nơi dòng nước âm đang chảy xiết ngược chiều với dòng chảy trên bề mặt.
Chiếc ghe bầu gỗ bầu không hề bị lật hay ngập nước. Nó từ từ trượt theo khe nứt nớ, chìm dần xuống tầng nước âm bên dưới. Đoạn dây định hướng ngắn đi cùng Khánh và chiếc ghe; sợi dây lớn vẫn chạy qua vòng sắt, xuyên ranh nước như một đường căng lạnh nối về cọc đá Kim Long. Khi chiếc ghe hoàn toàn chìm vào lòng nước, khe nứt phía trên lập tức khép lại quanh đường dây mà không cắt nó, trả lại mặt sông Hương sự tĩnh lặng như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Cùng lúc đó, một cơn đau buốt nhói đột ngột truyền đến từ bả vai trái của Khánh. Vết bớt hình con cá đỏ trên vai hắn như có sự sống, nó nóng rực lên rồi bò thêm một đoạn dài chừng hai đốt ngón tay về phía xương ức.
Khánh rên lên một tiếng, hắn khuỵu gối xuống sàn ghe. Máu nóng từ hai lỗ mũi hắn chảy ra ròng ròng, nhỏ xuống mặt ván gỗ kêu *xèo xèo* rồi bốc lên một làn khói xám nhạt. Hắn vội vàng rút một tờ giấy vàng mã có đóng dấu mộc của tiệm, áp chặt vào vai trái để chặn cơn đau và giữ cho đầu óc mình không bị ngất đi. Sức ép của tầng nước âm này quá lớn đối với một thân xác người sống, nếu không nhờ có miếng đồng 'Tích' làm mỏ neo giữ hồn, có lẽ xương cốt hắn đã bị nước âm bóp nát từ lâu.
Xung quanh chiếc ghe bầu giờ đây là một thế giới hoàn toàn khác. Nước ở đây lạnh đến thấu xương nhưng kỳ lạ là nó không làm ướt quần áo hay tóc của Khánh. Nó bao bọc lấy chiếc ghe như một lớp khí đặc quánh, mang theo mùi của những ngôi mộ cổ lâu ngày bị khai quật.
Dưới tầng nước này, Khánh nhìn thấy hàng nghìn dải chữ đen dài như những sợi dây câu, chăng chịt khắp nơi từ lòng sông sâu hướng thẳng về phía Cồn Hến. Mỗi dải chữ đen nớ đều được cấu thành từ vô số những cái tên viết bằng chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ cổ. Ở đầu mỗi dải chữ là bóng dáng mờ ảo của một vong hồn.
Họ đứng im lìm trong nước, mặt mũi mờ căm không rõ nhân dạng, nhưng tà áo dài hay manh áo vải của họ vẫn khẽ đung đưa theo nhịp chảy của nước âm. Họ bị những dải chữ đen này buộc chặt vào cổ chân hoặc cổ tay, không thể quay đầu lại, chỉ biết lững lờ trôi theo một hướng duy nhất về phía Cửa Âm Hương đang mở hé.
Khánh nhìn thấy một dải chữ đen trôi sát mạn ghe. Hắn định đưa tay ra chạm vào nhưng lập tức rụt lại. Hắn nhớ lời dặn trong cuốn sổ tay cũ của Ông Tư. Khi chưa tìm được sổ gốc, hắn tuyệt đối không được tự ý cắt dây tên của vong hồn dưới nước. Làm vậy sẽ xé rách tên họ, khiến vong hồn tan biến thay vì được giải thoát.
Hắn kiềm chế ý định cứu người, chỉ lẳng lặng rút từ trong túi ra những mẩu giấy vàng nhỏ có đóng dấu mộc của tiệm Vong Ký. Cứ đi được một đoạn ngắn, hắn lại thả một mẩu giấy xuống nước. Những mẩu giấy vàng chạm vào nước âm liền phát ra ánh sáng vàng nhạt, lơ lửng giữa dòng nước tối tăm như những ngọn đèn lồng nhỏ, đánh dấu con đường trở về cho hắn.
Tiếng khánh đồng từ trên bờ vẫn thỉnh thoảng vang lên bên tai Khánh, dẫn dắt chiếc ghe bầu đi qua những khúc quanh tối tăm nhất của lòng sông.
Sau hơn một giờ trôi nổi, chiếc ghe bầu đột ngột dừng lại.
Nước xung quanh không còn chảy nữa. Chiếc ghe đi vào một vùng nước đứng hoàn toàn lặng ngắt, không có một chút gợn sóng hay luồng chảy nào. Nơi đây tối đến mức Khánh không thể nhìn thấy mũi ghe của mình nếu không có ánh sáng từ chiếc khánh đồng phát ra.
Ngay giữa vùng nước đứng nớ, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mắt hắn.
Đó là một vết rách khổng lồ màu đen ngòm, có hình dạng giống như một quyển sách đang mở ra, găm thẳng phần gáy vào mép Cửa Âm Hương. Vết rách này lớn đến mức nó nuốt trọn cả một khoảng không gian dưới lòng sông, từ bên trong vết rách phát ra tiếng gầm rú ghê người của hàng vạn vong hồn đang bị giam cầm.
Đây chính là Vong Ký đen của Âm Vũ. Nó không phải một quyển sổ giấy thông thường như sổ trắng ở tiệm. Đó là pháp trận cưỡng mở khổng lồ, dùng tên tuổi người chết làm gạch đá xây nên một lối đi trái phép sang thế giới bên kia.
Phía trước gáy của quyển sổ đen khổng lồ nớ, có một lớp màng chắn mỏng màu đỏ sậm đang bao bọc lấy nó. Đó là lớp niêm của Thoải Phủ từ năm 1945. Trên mặt lớp niêm có khắc bảy vạch nước song song nhau, giống hệt bảy vạch nước trên miếng đồng khắc chữ 'Tích' mà Khánh đang cầm trong tay.
Khánh nhận ra lớp niêm này chính là phong ấn cuối cùng mà Ông Chính (tức Ông Tư kiếp trước) đã dùng để khóa chặt quyển sổ đen sau khi Tích bị giết giữa biến cố năm 1945. Những gì còn lại không cho biết ai trực tiếp xuống tay, cũng không nói cái chết ấy là một sự tự nguyện tạo ấn. Lớp niêm chỉ chấp nhận mở khi nhận diện đúng căn nguyên linh hồn của Tích.
Khánh bước ra mũi ghe, tay cầm chặt miếng đồng 'Tích'. Hắn cảm nhận được sự cộng hưởng mạnh mẽ giữa miếng đồng và lớp niêm phía trước. Bảy vạch nước trên lớp niêm bắt đầu sáng đỏ rực như lửa. Những vạch trên miếng đồng trong tay hắn cũng nóng lên, tỏa hơi ấm che chở hắn trước cái lạnh thấu xương của vùng nước đứng.
Nhưng ngay khi Khánh định tiến lại gần để đặt miếng đồng vào lớp niêm, một tiếng động lớn vang lên từ phía sau gáy của quyển sổ đen khổng lồ.
Nước âm xung quanh đột ngột cuộn lên dữ dội. Từ trong bóng tối sâu thẳm của vết rách đen ngòm, một bóng người cao lớn mặc áo dài sẫm màu từ từ bước ra. Gương mặt của người nớ mờ ảo dưới làn nước âm, nhưng đôi mắt sắc lạnh như dao của hắn thì không thể nhầm lẫn vào đâu được.
Đó là bóng vong Hồ Vũ.
Hắn đứng trên mặt nước đứng, nhìn chằm chằm vào Khánh bằng cặp mắt không có tròng trắng. Từ phía sau gáy quyển sổ đen, giọng nói trầm lạnh, vang vọng của hắn cất lên, gọi duy nhất một cái tên đã bị chôn vùi suốt tám mươi mốt năm qua:
- Tích.