TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 29: Chương 029: Bốn lần buộc dây giày

Mùi nước lèo bò béo ngậy quyện với mùi mắm ruốc chưng hăng hắc từ phía chợ Đông Ba bay tới, xộc thẳng vào mũi Khánh. Hắn gắp một cọng hành hoa chần kỹ bỏ…

Nội dung chương

Mùi nước lèo bò béo ngậy quyện với mùi mắm ruốc chưng hăng hắc từ phía chợ Đông Ba bay tới, xộc thẳng vào mũi Khánh. Hắn gắp một cọng hành hoa chần kỹ bỏ vào miệng, nhai chậm rãi, mắt vẫn không rời gã đàn ông ngồi bên thúng xôi xéo phía đối diện đường Trần Hưng Đạo. Giờ này đã quá mười giờ sáng, nắng tháng Ba non choẹt nhưng hanh hao, làm mặt đường nhựa bốc lên cái hơi ẩm khó chịu sau trận mưa phùn đêm qua.

Khánh đặt đôi đũa tre lên miệng bát phở còn dở nước. Hắn thọc tay vào túi quần, rút chiếc điện thoại cũ ra bấm nhanh mấy chữ gửi cho Quang.

> Khu đồ đồng răng rồi? Có thấy động tĩnh chi không?

Chưa đầy nửa phút, màn hình điện thoại đã sáng lên dòng tin nhắn trả lời của Quang.

> Im re. Mấy mệ bán đồ đồng đang ngồi nhặt rau với quét rác. Chưa thấy bóng dáng Bảy Sẹo mô cả.

Khánh cất điện thoại. Hắn nâng chén trà đá nhạt thếch lên nhấp một ngụm, mắt vẫn găm chặt vào gã bán xôi gầy gò mặc chiếc áo khoác công nhân màu xanh sờn rách ở bả vai. Thúng xôi bọc lá chuối của gã vẫn đầy nguyên, sương khói bay lên nghi ngút nhưng gã chẳng thèm cất tiếng rao mời chào khách qua đường. Một kẻ bán xôi thực sự sẽ không bao giờ ngồi im thin thít, mắt cứ láo liên canh chừng ngã tư với vẻ mặt hớt hải như rứa.

Cái đáng ngờ nhất nằm ở đôi giày vải Thượng Đình dưới chân gã. Đôi giày còn mới nguyên, đế cao su chưa bám một vệt bùn đất nào, hoàn toàn lệch tông với bộ quần áo lao động cũ nát và gương mặt phong trần của gã.

Khánh đếm thầm trong đầu. Đúng ba phút trôi qua. Gã gầy gò nớ đã cúi rạp người xuống, tháo nút thắt dây giày ra rồi lóng ngóng buộc lại. Đây đã là lần thứ tư gã lặp lại cái động tác thừa thãi nớ. Cứ mỗi lần thắt xong nút dây, gã lại vờ đứng bóng một lát, mắt liếc xéo về phía con kiệt tối om dẫn ra bờ sông phía sau chợ, tay khẽ đưa lên vuốt tóc.

Không có ai bị tuột dây giày liên tục bốn lần trong ba phút, trừ phi gã đang dùng cái cớ đó để kéo dài thời gian đứng canh đường và làm ám hiệu cho đồng bọn phía trong kiệt.

Khánh rút tờ tiền lẻ đặt dưới đế lọ dấm ớt, đứng dậy bước ra khỏi quán phở gầm cầu. Hắn không đi thẳng về phía gã bán xôi mà rẽ ngược lại hướng tiệm vàng phía góc chợ, giả vờ như một kẻ đi mua sắm thông thường. Khi đã khuất sau bóng chiếc xe tải chở rau quả đang đỗ bên lề đường, hắn mới bấm điện thoại gọi cho Quang.

- Có đuôi canh ở ngã tư chợ. Thằng bán xôi giả danh nớ đang làm ám hiệu vào kiệt. Mi vòng ra lối bến Đập Đá ngay đi. Đừng đi đường thẳng qua khu đồ cũ, tụi nó nhận ra mặt mi đó.

Khánh nói nhanh vào ống nghe, giọng hạ thấp tối đa.

Giọng Quang nhỏ rì rầm qua loa điện thoại, lẫn trong tiếng còi xe máy ồn ào của phố thị.

- Nhất trí. Tau đi ngõ sau bến xe đò cũ. Hẹn gặp ở mé sông.

Khánh cúp máy, kéo sụp chiếc mũ lưỡi trai xuống trán để che bớt khuôn mặt. Hắn lách qua những sạp hàng bán đồ nhựa sặc sỡ, đi vòng theo con đường nhỏ chạy dọc mé sông Hương hướng về phía bến Đập Đá. Nước sông hôm nay đục ngầu do bùn non từ thượng nguồn đổ về sau mấy ngày mưa lớn, mùi tanh nồng của rong rêu bốc lên hăng hắc dưới cái nắng non đầu ngày.

Đường vòng qua lối Hàng Bè dài hơn bình thường, nhưng bù lại, Khánh tránh được tầm mắt của hai kẻ canh gác ở ngã tư. Hắn đi nhanh, bước chân nện xuống nền đất ẩm ướt nghe lộp bộp. Lòng bàn tay trái của hắn bắt đầu có cảm giác tê rần, vết bớt đỏ hình cá trên vai lại ngứa ngáy như có hàng chục con kiến nhỏ đang bò dưới da. Đây là phản ứng cơ thể quen thuộc mỗi khi hắn đến gần một vật chưa rõ mang âm khí nặng nề. Hắn khẽ chửi thề một tiếng trong miệng, cố lờ đi cái cảm giác khó chịu nớ.

Khi Khánh tiếp cận được mép bờ kè đá của bến Đập Đá, điện thoại trong túi quần lại rung lên. Tin nhắn của Quang ngắn gọn gửi tới.

> Thấy Bảy Sẹo rồi. Gã đang đứng nói chuyện với một bà già áo đen ngay sát mép nước. Đi nhanh lên.

Khánh rảo bước, người hơi khom xuống sau những bụi cây dại mọc um tùm sát bờ kè đá cổ. Từ khoảng cách chừng ba mươi mét, hắn nhìn thấy bóng dáng Bảy Sẹo. Gã trộm mộ mặc bộ đồ gió màu xám tro, lưng hơi còng xuống, đang đứng phân bua một chuyện chưa rõ với một người đàn bà lớn tuổi mặc bộ đồ bà ba đen.

Bà ta đàn bà nớ đứng quay lưng về phía Khánh, chiếc nón lá cát che khuất nửa khuôn mặt. Nhưng cái dáng người đậm, hơi thô cùng với cách đứng hơi lệch sang bên sườn trái nớ khiến Khánh khựng lại một nhịp.

Mụ Năm.

Sao mụ lại ở đây vào giờ này? Và tại sao mụ lại quen biết một kẻ chuyên đào trộm mộ như Bảy Sẹo?

Khánh định bước tới thì Bảy Sẹo bất ngờ quay đầu nhìn quanh như cảm nhận được có người đang theo dõi. Gã nói nhanh vài câu với Mụ Năm, rồi không thèm đợi câu trả lời, gã nhảy phốc xuống một chiếc đò dọc đang nổ máy xình xịch đợi sẵn dưới bến. Chiếc đò lập tức rồ ga, rẽ nước chạy xiết về phía cồn Hến, để lại một vệt bọt nước trắng xóa trên mặt sông Hương đục ngầu.

Khánh tặc lưỡi một tiếng, từ trong bụi rậm bước ra. Đúng lúc đó, Quang cũng từ phía con đường đất chạy tới, mặt mũi mồ hôi nhễ nhại.

Chỉ còn Mụ Năm đứng lại bên mép nước. Mụ chậm rãi quay người lại, tay vẫn giữ chặt vành nón lá. Khi nhìn thấy Khánh và Quang đứng trước mặt, khuôn mặt nhăn nheo của mụ không hề tỏ ra ngạc nhiên. Mụ chỉ khẽ thở dài, đôi mắt đùng đục nhìn xuống hai bàn tay đang dính đầy thứ đất đỏ quánh.

- Mụ Năm. Mụ đi đâu mà để đất đỏ bám đầy kẽ móng tay rứa ni? Đất này đâu phải đất cát bến sông.

Khánh bước tới gần, mắt dòm chằm chằm vào bàn tay mụ.

Mụ Năm từ từ hạ tay xuống, giấu hai bàn tay vào sau vạt áo bà ba đen. Mụ nhìn Khánh, giọng nói khàn khàn đặc trưng của người vùng ngoài.

- Tui đi kiếm ít đất về trồng cây chuối sau vườn thôi cậu Khánh. Đất trên đồi thông lăng tẩm tốt lắm, trồng cây chi cũng nhanh bén rễ.

- Mụ đừng gạt tui. Đất đỏ bazan pha sỏi cuội này chỉ có ở khu vực đồi thông phía sau lăng Tự Đức. Mụ gặp Bảy Sẹo làm chi? Cây trâm ngọc bích đang ở đâu?

Khánh gằn giọng, bước thêm một bước ép sát.

Mụ Năm im lặng. Gió sông Hương thổi lồng lộng qua bến đá, làm vạt áo đen của mụ bay phần phật. Mụ nhìn ra dòng sông đục ngầu, rồi đưa một bàn tay ra trước mặt Khánh. Trong lòng bàn tay thô ráp của mụ là một mẩu giấy bản đã cũ, bị xé nham nhở ở các góc. Trên mặt giấy vẽ những đường mực tàu uốn lượn ngoằn ngoèo, kèm theo vài chữ Hán viết vội đã bị nhòe đi vì nước mưa.

- Gã đó hỏi đường tui. Gã bảo có món đồ cần giấu ở chỗ không ai ngờ tới. Gã đưa tui cái này để hỏi xem ngôi mộ phi tần nào phía sau lăng Tự Đức còn nguyên vẹn chưa bị người ta san lấp. Tui chỉ nói cho gã biết chỗ, ngoài ra tui không biết chi hết.

Mụ Năm nói nhỏ, giọng run run.

Khánh giật lấy mẩu giấy từ tay Mụ Năm. Hắn đưa lên cho Quang nhìn. Quang nheo mắt, ngón tay miết nhẹ lên thớ giấy bản đã ngả màu vàng ố.

- Đây là sơ đồ một góc khu lăng mộ phi tần bên ngoài la thành lăng Tự Đức. Chữ viết trên này là chữ chỉ hướng. Chỗ này ghi "Tả phần", nghĩa là phía bên trái ngôi mộ chính.

Quang nói, giọng trầm xuống đầy vẻ chuyên môn.

Khánh quay sang định hỏi thêm Mụ Năm, nhưng người đàn bà nớ đã lẳng lặng quay lưng đi bộ ngược lên bờ dốc dẫn ra đường lớn. Dáng đi của mụ chậm chạp, cô độc dưới bóng những cây phượng vĩ già chưa đến mùa trổ bông. Khánh định gọi giật lại, nhưng Quang đã giữ vai hắn lại lắc đầu.

- Để mụ đi đi. Mụ không nói thêm chi đâu. Có hỏi nữa cũng vô ích. Cái chúng ta cần là mẩu sơ đồ này.

Hai người quay trở lại một quán cà phê cóc gần chợ để tránh sự chú ý của những kẻ canh gác. Quang trải mẩu giấy bản lên mặt bàn gỗ cáu bẩn, rồi rút từ trong cặp táp ra một tập hồ sơ dày cộp chứa các bản sao tài liệu lịch sử và bản đồ địa chính cũ của thành phố Huế. Anh lật giở từng trang, ngón tay dò theo các đường ranh giới vẽ bằng mực đỏ.

- Mi nhìn kỹ chỗ này xem. Khu vực phía sau la thành lăng Tự Đức có một cụm mộ cổ của các phi tần triều Nguyễn. Hầu hết đã bị bỏ hoang và cỏ dại phủ kín từ lâu. Theo hồ sơ lưu trữ của ngành khảo cổ, vào giữa thập niên 1990, từng có một vụ đào trộm mộ trái phép xảy ra ngay tại ngôi mộ không tên nằm ở góc phía đông nam khu này.

Quang gõ ngón tay vào một điểm trên bản đồ địa chính năm 1995.

Khánh ghé mắt nhìn vào tấm bản đồ. Điểm khoanh tròn bằng mực đỏ trùng khớp với ký hiệu uốn lượn trên mẩu giấy bản mà Mụ Năm vừa đưa.

- Ý mi là Bảy Sẹo đã giấu cây trâm ngọc bích vào chính ngôi mộ bị đào trộm nớ?

Khánh hỏi, lông mày nhíu chặt lại.

- Khả năng cao là rứa. Kẻ trộm mộ thường có thói quen giấu đồ ở những nơi chúng quen thuộc. Ngôi mộ nớ đã bị đào một lần, nghĩa là cấu trúc gạch đá bên trong đã bị phá vỡ, tạo ra những khe hở rất dễ để nhét một hộp đồ nhỏ vào mà không làm thay đổi hình dáng bên ngoài. Người ngoài nhìn vào sẽ nghĩ đó chỉ là một ngôi mộ hoang đổ nát, không ai thèm để ý tới.

Quang gật đầu, vẻ mặt nghiêm nghị.

Khánh dựa lưng vào thành ghế tre, thở ra một hơi dài mệt mỏi. Đầu hắn bắt đầu đau nhức. Vụ chiếc gương đồng lăng Tự Đức vừa mới tạm lắng xuống chưa được bao lâu, giờ lại đến cây trâm ngọc bích này. Hắn cảm thấy mình như đang bị cuốn vào một vòng xoáy không có lối thoát, nơi các tà vật cứ lần lượt xuất hiện như một sự sắp đặt định sẵn từ trước.

- Chiều ni tụi mình lên đó một chuyến. Phải lấy được cây trâm nớ trước khi có kẻ khác ra tay. Tui có cảm giác Bảy Sẹo đang bị dồn vào đường cùng rồi. Gã bán xôi ở chợ ban sáng chắc chắn là người của kẻ đang truy tìm gã.

Khánh quyết định.

Quang thu dọn giấy tờ bỏ vào cặp táp, gật đầu đồng ý.

- Được. Khoảng hai giờ chiều tau qua đón mi. Nhớ mang theo ít nhang với giấy vàng mã. Đi vào khu mộ hoang lúc chiều tà không giỡn được đâu.

Khánh chia tay Quang rồi đi bộ về tiệm Vong Ký ở phố Bao Vinh. Lúc này trời đã quá trưa, nắng bắt đầu hanh hao gắt gỏng. Con phố cổ Bao Vinh nằm im lìm bên dòng sông Hương, những ngôi nhà rường mái ngói liệt âm dương cũ kỹ đứng san sát nhau như những chứng nhân của thời gian.

Khánh đẩy cánh cửa gỗ của tiệm bước vào trong. Cái lạnh quen thuộc của gian nhà cổ lập tức bao trùm lấy hắn, làm dịu đi cái nóng hầm hập ngoài đường. Ông Tư vẫn đang ngồi ở chiếc ghế mây quen thuộc bên bàn thờ, tay cầm chiếc tẩu thuốc bằng đồng đã tắt lửa từ lâu. Đôi mắt ông lim dim như đang ngủ, nhưng khi nghe tiếng bước chân của Khánh, ông khẽ mở mắt ra nhìn.

- Đi đâu từ sáng tới chừ mới về con?

Giọng Ông Tư khàn khàn, chân trái ông co lại gác lên bục gỗ nhỏ để giảm đau.

- Con đi quanh chợ Đông Ba kiếm ít đồ thôi chú Tư.

Khánh trả lời qua loa, không muốn ông lo lắng về vụ cây trâm ngọc bích. Hắn đi thẳng vào gian nhà trong để tìm nước uống.

Thằng Bồi đang ngồi trên chiếc phản gỗ nhỏ, tay cầm một chiếc phong bì bằng giấy vàng thô ráp, loại giấy người ta hay dùng để bọc tiền vàng mã gửi cho người âm. Thấy Khánh vào, thằng bé lập tức đứng dậy, đưa chiếc phong bì ra trước mặt hắn.

- Eng Khánh. Có người gửi cái này cho eng.

Khánh khựng lại, tay cầm cốc nước lơ lửng giữa chừng. Hắn đặt cốc xuống bàn, đón lấy chiếc phong bì từ tay Bồi. Phong bì không hề ghi tên người gửi, cũng không có địa chỉ nhận. Mặt ngoài của nó hơi ẩm ướt, tỏa ra một mùi trầm khét lẹt trộn lẫn với mùi bùn non ẩm ướt của sông nước.

- Ai đưa cái này cho mi?

Khánh hỏi, mắt nhìn đăm đăm vào phong bì.

- Một người đàn ông mặc áo mưa đen, đội nón sụp che kín mặt. Ông ta nớ không nói chi hết, chỉ đưa cái này cho con rồi đi thẳng ra phía bờ sông. Con thấy chân người nớ đi không chạm đất, bước đi nhẹ tênh như bông rứa.

Bồi kể lại, giọng nó hơi run lên vì sợ.

Khánh nhíu mày. Hắn xé nhẹ mép phong bì giấy vàng. Bên trong chỉ có một tờ giấy bản mỏng dính, trên đó viết một dòng chữ bằng mực tàu đen nhánh, nét chữ nguệch ngoạc nhưng rõ ràng.

> Trâm ở mộ phi tần sau lăng Tự Đức. Đến trước khi đất bị đào lần nữa.

Khánh đọc đi đọc lại dòng chữ nớ ba lần. Ai là người đã gửi bức thư này? Kẻ đó tại sao lại biết rõ vị trí của cây trâm ngọc bích, và tại sao lại thúc giục hắn phải đến đó trước khi đất bị đào lần nữa? Có phải Bảy Sẹo gửi để cầu cứu, hay là một cái bẫy của kẻ đứng sau vụ này đang chờ sẵn hắn ở khu mộ cổ?

Hắn lật ngược chiếc phong bì giấy vàng lại để tìm kiếm thêm manh mối.

Ở mặt sau của phong bì, không hề có chữ viết nào khác. Nhưng ngay chính giữa khoảng giấy trống, có một sợi tóc dài, màu đen nhánh và mảnh như tơ, được ép chặt vào thớ giấy thô ráp bằng một chất keo trong suốt đã khô cứng. Sợi tóc uốn lượn ngoằn ngoèo, tạo thành hình một mũi tên sắc nhọn.

Khánh nheo mắt nhìn kỹ hướng chỉ của mũi tên sợi tóc nớ.

Mũi tên không hề hướng lên phía trên, nơi tượng trưng cho khu lăng tẩm đồi thông phía thượng nguồn sông Hương. Nó uốn cong một vòng kỳ lạ, rồi chỉ thẳng xuống góc dưới cùng của chiếc phong bì, hướng thẳng xuống mặt đất nơi Khánh đang đứng.

Đầu mũi tên sợi tóc chỉ thẳng xuống nền gạch hoa cũ kỹ của gian kho phía sau tiệm Vong Ký.

Chương khác

Xem thêm