TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 33: Chương 033: Lá sớ không được đọc

Mùi hóa chất lưu trữ cũ xộc thẳng vào mũi làm Khánh hắt hơi liên tục. Căn phòng đọc tài liệu cổ của Thư viện Tổng hợp Huế nằm im lìm bên dòng sông Hương.…

Nội dung chương

Mùi hóa chất lưu trữ cũ xộc thẳng vào mũi làm Khánh hắt hơi liên tục. Căn phòng đọc tài liệu cổ của Thư viện Tổng hợp Huế nằm im lìm bên dòng sông Hương. Tiếng máy điều hòa đời cũ chạy rè rè ở góc phòng không đủ xua đi cái ẩm mốc của những tệp hồ sơ lưu trữ lâu năm.

Quang ngồi bên cạnh, hai tay nâng niu bản sao chụp tập nhật ký của Lê Bá Phẩm, một viên quan biên tu thời Nguyễn. Nhờ cái giấy giới thiệu từ Khoa Lịch sử bên trường Đại học Sư phạm nơi Quang đang công tác, hai đứa mới được thủ thư cho phép tiếp cận đống tư liệu chữ Hán cổ này.

Khánh dụi mắt, chỉ ngón tay vào một dòng chữ loang lổ trên màn hình máy đọc microfilm. Hắn không rành chữ Hán, chỉ nhận diện được vài ký tự đơn giản nhờ mấy ngày lục lọi sổ sách ở tiệm Vong Ký.

- Mi tìm giùm tau mấy chữ ni coi. Chữ ni có phải là Tả Vu với Mậu Tý không?

Quang đẩy gọng kính cận lên sát sống mũi, nheo mắt nhìn rồi gật đầu.

- Đúng rồi. Tả Vu và Mậu Tý, tức là năm 1888. Để tau dịch đoạn này cho nghe.

Quang lật cuốn sổ tay cá nhân, dùng bút chì vạch ra vài nét dịch nghĩa. Giọng anh nhỏ lại, vừa đủ cho hai người nghe để tránh làm phiền vị thủ thư đang ngủ gật ở bàn trực phía ngoài.

- Trong đây chép, vào mùa thu năm Mậu Tý, tiết trời hanh hao, trong nội cung xảy ra chuyện lạ. Một cung nhân tên Hồng Hiền, vốn hầu hạ ở điện Càn Thành, bị khép tội nhìn trộm thiên nhan và trù ếm hoàng đế. Biên bản của Bộ Hình ghi rõ, bà ta bị phát hiện khi đang đứng ở hành lang Tả Vu, tay cầm một dải lụa đỏ có thắt nút, miệng lẩm bẩm những lời phạm thượng.

Khánh tỳ cằm lên hai bàn tay đan chéo, mắt vẫn không rời những hàng chữ vuông vức màu đen xám trên màn hình.

- Chỉ vì đứng ở Tả Vu cầm dải lụa mà bị thắt cổ sao? Thời đó mạng người rẻ rúng rứa à?

Quang lắc đầu, lật sang trang tiếp theo của bản chụp. Ngón tay anh run nhẹ khi chạm vào mép giấy mốc.

- Vấn đề nằm ở chỗ này. Lê Bá Phẩm có ghi chép riêng bên lề nhật ký, chuyện đó chỉ là cái cớ bên ngoài. Thực chất, vua Đồng Khánh lúc bấy giờ đang lâm trọng bệnh, tinh thần bất định, lại thêm áp lực từ phía thực dân Pháp. Hồng Hiền là người có Âm nhãn, o nhìn thấy một cái bóng máu đứng sau lưng nhà vua trong một đêm mưa gió ở Tả Vu. O hoảng sợ chạy đến cảnh báo, nói rằng số mệnh của hoàng đế đã tận, có điềm gở từ cõi âm tìm đến đòi mạng.

Khánh khẽ rùng mình. Cái lạnh từ phòng máy lạnh có vẻ đang ngấm sâu vào da thịt hắn. Hắn nhớ lại khuôn mặt nhợt nhạt và đôi mắt rỉ máu của Hồng Hiền trong gương đồng đêm qua. Oan khí của o không đến từ việc bị xử tử, mà đến từ việc lời cảnh báo chân thành bị biến thành tội trù ếm.

- Rồi sao nữa? Còn ông ngự sử Phụng Khanh thì răng?

Quang lật nhanh vài trang giấy chép tay, tìm kiếm những dòng ghi chú bằng mực đỏ của người hiệu đính đời sau.

- Đây rồi. Ngự sử Phụng Khanh, tên thật là Nguyễn Hữu Phụng, người vùng Hương Thủy. Ông ấy là người duy nhất đứng ra kêu oan cho Hồng Hiền. Trong vòng một tháng trước khi bà ta bị hành hình, Phụng Khanh đã ba lần dâng sớ lên hoàng đế.

Quang dừng lại, nét mặt lộ rõ vẻ tiếc nuối. Anh thở dài một hơi dài.

- Nhật ký ghi rõ Phụng Khanh dâng sớ ba lần. Hai lần đầu đều bị chặn trong đường công văn và không tạo được một cuộc xét lại công khai. Lần thứ ba, ông quỳ trước cửa điện yêu cầu lưu lời kêu oan vào hồ sơ. Lá sớ cuối bị niêm cùng hồ sơ hậu cung, không công bố ra ngoài và dần biến mất khỏi chính sử công khai.

Khánh chống tay lên trán, đầu óc quay cuồng với những thông tin vừa tiếp nhận. Hóa ra Phụng Khanh không hề nuốt lời. Ông đã làm tất cả những gì một vị quan ngự sử có thể làm để giữ lời với một người sắp chết oan.

Nhưng lời kêu oan chỉ bị khóa trong hồ sơ. Hồng Hiền không được nghe nó, còn người đời cũng không biết từng có một vị quan đứng ra làm chứng cho bà.

Quang gõ nhẹ đầu bút chì xuống bàn, giọng trầm ngâm.

- Có một chi tiết rất lạ ở trang cuối cùng của tập nhật ký này. Một học giả thời Bảo Đại khi sắp xếp lại thư tịch hoàng gia có ghi thêm một dòng chú thích nhỏ. Bản án của Hồng Hiền thực ra đã được bãi bỏ kín trên giấy tờ nội bộ của hậu cung vào thời vua Thành Thái. Triều đình thừa nhận việc khép tội o là vội vàng và thiếu chứng cứ. Nhưng vì thể diện hoàng gia, chiếu chỉ bãi án đó không bao giờ được công bố rộng rãi ra dân chúng. Tên của o cũng không được trả lại vào danh sách phi tần chính thức.

Khánh cười nhạt, một nụ cười đầy châm biếm.

- Bãi án trên giấy rồi cất vô hòm, còn người chết dưới đất lạnh thì vẫn mang danh tội đồ suốt trăm năm. Cái danh dự của mấy người làm vua làm quan hồi đó to tát quá hè.

Hắn đứng dậy, trả lại tập tài liệu cho thủ thư rồi cùng Quang bước ra khỏi phòng đọc.

Nắng chiều của xứ Huế rọi xuống sân thư viện, sấy nóng những vệt xi măng xám xịt. Khánh cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại. Sự minh oan đã đến, nhưng nó đến quá muộn và lại được thực hiện một cách lén lút, hèn nhát dưới những lớp bụi của lịch sử. Hồng Hiền dưới cõi âm làm sao biết được mình đã được tha bổng trên giấy tờ. O vẫn ôm cây trâm ngọc bích, vẫn đợi một lá sớ được đọc lên giữa thanh thiên bạch nhật.

Hai đứa đi bộ dọc theo đường Lê Lợi hướng về phía cầu Trường Tiền. Quang hỏi.

- Chừ mi tính răng? Sự thật thì đã rõ rồi, nhưng làm răng để Hồng Hiền chịu buông bỏ oán khí đây?

- Phải cho o thấy bản chép của ba lần dâng sớ cùng dấu bãi án. Bản gốc có thể đã mất, nhưng nhật ký Lê Bá Phẩm và chú thích đời sau đủ chứng minh Phụng Khanh đã giữ lời.

Quang gật đầu, vẻ mặt đăm chiêu.

- Để tau về lục lại đống tư liệu bên phân viện lịch sử xem có thông tin chi về hậu duệ của Nguyễn Hữu Phụng không.

Quang nói rồi vẫy một chiếc xích lô đi ngược về hướng ga Huế.

Khánh đi bộ một mình qua cầu. Bụng hắn bắt đầu đánh trống lảng. Hắn quyết định ghé vào chợ Đông Ba để kiếm cái gì bỏ bụng trước khi về tiệm.

Quán bún bò của mụ Rơi nằm sâu trong một con kiệt nhỏ bên hông chợ, khói nghi ngút mang theo mùi sả và mắm ruốc thơm nồng. Khánh vừa bước vào quán, định gọi một tô gân nạm thì hai gã thanh niên bặm trợn từ đâu bước tới, đứng chặn ngay lối đi. Một gã hất hàm, ra hiệu cho Khánh đi vào phía trong góc quán.

Khánh nhận ra ngay hai kẻ này chính là những đứa bám theo mình từ sáng. Hắn không tỏ ra hoảng hốt, lẳng lặng đi vào nhưng không ngồi vào góc tối theo ý tụi nó. Khánh chọn một chiếc ghế nhựa ngay bàn giữa của quán, nơi có đông tiểu thương đi ngang qua lối kiệt chính nhất, rồi thản nhiên ngồi xuống.

- Mụ Rơi cho con tô bún nhiều gân, ít bún nghe mụ.

Khánh gọi to. Mụ Rơi vẫn lầm lũi múc nước lèo, coi như không thấy sự xuất hiện của những kẻ lạ mặt.

Từ phía sau tấm liếp che nắng, Bảy Sẹo bước ra. Vết sẹo dài chạy từ thái dương xuống má gã co giật nhẹ dưới ánh nắng xiên khoai của buổi chiều. Gã ngồi xuống đối diện Khánh, hai tay khoanh trước ngực. Ngón tay gã gõ nhịp cộc cộc lên mặt bàn gỗ loang lổ vết dầu mỡ.

- Mi gan to gớm hè. Gặp tau mà vẫn còn tâm trạng ăn bún à?

- Đói thì phải ăn thôi chú. Có chuyện chi thì chú cứ nói lẹ đi, bún ra ăn nguội mất ngon.

Bảy Sẹo rướn người về phía trước, giọng gã thấp xuống nhưng đầy đe dọa.

- Cây trâm ngọc bích mất năm 1995. Mi biết nó đang ở đâu đúng không? Đừng có chối. Thằng nhóc ở tiệm mi đã khai hết rồi.

Khánh cầm đôi đũa tre lên, gõ nhẹ hai đầu vào nhau cho đều. Hắn nhìn thẳng vào mắt Bảy Sẹo, giọng bình thản.

- Thằng Bồi nhà tui mới mười tuổi, nó biết cái chi mà khai với không khai. Mà chú nói cây trâm mất năm 1995 là sai rồi.

Bảy Sẹo nheo mắt, vết sẹo giật mạnh.

- Sai cái chi?

Khánh nhìn tô bún bò bốc khói vừa được bưng ra, để mặc cho nó nguội dần chứ không cầm đũa. Hắn nói tiếp.

- Chú nói chú biết rõ cây trâm mất khỏi Đại Nội năm 1995, nhưng chú lại nói sai giờ chiếc hộp được chuyển khỏi kho và sai cả lối vào ngôi mộ phía thượng nguồn. Hồ sơ ghi cửa kho mở về phía đông, còn chú cứ khăng khăng người ta đi lối bờ tả. Chú chỉ nghe kẻ khác kể lại rồi đi tìm, chứ bản thân không biết trọn hành trình của món đồ.

Khánh dừng lại một chút để quan sát nét mặt Bảy Sẹo, rồi bồi thêm.

- Nếu chú thực sự là kẻ lấy trâm năm đó, chú đã không phải hỏi đường Mụ Năm. Chú cũng chẳng cần lục từng ngôi mộ sau lăng Tự Đức. Kẻ thuê chú mới nắm đầu mối; chú chỉ bị đẩy ra trước để gánh họa.

Sắc mặt Bảy Sẹo thay đổi rõ rệt. Gã không ngờ một thằng trẻ tuổi như Khánh lại có thể quan sát tỉ mỉ và nắm rõ địa lý vùng sông nước đến thế. Sự tự tin của gã bắt đầu lung lay. Gã nhận ra mình chỉ là kẻ nghe ngóng tin tức từ người khác rồi đi đòi đồ, chứ bản thân không hề biết rõ ngọn ngành nguồn gốc của tà vật.

Bảy Sẹo đập mạnh tay xuống bàn, làm mấy lọ gia vị nảy lên bôm bốp.

- Mi đừng có giở giọng chữ nghĩa ra đây dọa tau. Tau không cần biết đất cát chi hết. Tau chỉ biết có người trả tiền cho tau để lấy cây trâm đó về. Nếu mi không đưa, tiệm Vong Ký của mi đừng hòng yên ổn. Thằng nhóc nhà mi đi học đường mô tau biết rõ lắm đó nghe con.

Nghe đến câu này, ánh mắt Khánh lạnh đi rõ rệt. Hắn không sợ Bảy Sẹo tìm đến mình, nhưng đụng đến thằng Bồi là chạm vào giới hạn của hắn. Hắn từ từ buông đôi đũa xuống bàn, tạo ra một tiếng cạch khô khốc.

Khánh không dùng đến bất kỳ bùa chú nào; hắn chỉ dựa vào lời nói và những chi tiết đã quan sát. Hắn chỉ nghiêng người tới trước, nói bằng giọng trầm và lạnh.

- Chú Bảy này. Chú có nhớ cái gương đồng ở lăng Tự Đức không?

Bảy Sẹo khựng lại, mắt gã hơi co rụt.

- Cái gương đó vẫn còn nhớ mặt kẻ đã cầm nó chạy đi trong đêm mưa đó. Người bình thường cầm gương cổ thì không sao, nhưng kẻ có tâm tà, lại mang vết máu của người chết trên tay thì gương sẽ ám. Chú có thấy dạo ni ban đêm ngủ hay nghe tiếng bước chân đi vòng quanh giường không? Có thấy mỗi lần soi gương là cái bóng của mình trong gương cứ chậm hơn mình một nhịp không?

Bảy Sẹo biến sắc. Hai bàn tay gã đang đặt trên bàn bỗng run nhẹ. Những lời Khánh nói trúng phóc vào những hiện tượng kỳ lạ mà gã gặp phải suốt một tuần qua, kể từ khi gã tham gia vào vụ cướp cái gương đồng ở lăng Tự Đức rồi bán lại cho người khác. Gã cứ nghĩ mình bị suy nhược cơ thể do thiếu ngủ, không ngờ lại liên quan đến cái gương đó.

- Mi... mi nói bậy nói bạ cái chi rứa?

Bảy Sẹo lắp bắp, cố giữ vẻ hung hăng nhưng giọng đã lạc đi.

- Tui không nói bậy. Gương đồng Tự Đức nhớ mặt chú. Còn cây trâm ngọc bích này thì nhớ máu của kẻ đã đào mộ o lên. Chú chỉ là người đi làm thuê lấy tiền, có cần phải bán cả mạng mình cho mấy thứ dưới sông dưới đất đó không? Về nói với kẻ đứng sau chú, muốn lấy cây trâm thì tự đi mà tìm o Hồng Hiền ở Tả Vu mà đòi. Để coi oán khí trăm năm của o có bóp chết kẻ đó trước khi kịp chạm vào ngọc không.

Khánh đứng dậy, rút tờ tiền đặt xuống bàn để trả tiền bún cho mụ Rơi rồi quay lưng đi thẳng ra khỏi quán.

Hai tên đàn em của Bảy Sẹo định bước ra cản đường nhưng Bảy Sẹo đã giơ tay ra hiệu dừng lại. Gã ngồi thẫn thờ ở bàn, mồ hôi hột rịn ra trên trán dù gió chiều từ sông Hương đang thổi vào lồng lộng.

Khánh bước ra khỏi con kiệt nhỏ, hướng về phía cầu Gia Hội để đi bộ về tiệm. Đầu óc hắn chừ chỉ còn nghĩ cách đưa bản chép ba lần dâng sớ và dấu bãi án tới trước Hồng Hiền. Chứng cứ đã có, nhưng phải để chính o nhìn thấy Phụng Khanh từng giữ lời thì nút oan mới có cơ hội tháo. Nếu thất bại, oán khí sẽ tiếp tục tích tụ và người gánh hậu quả đầu tiên sẽ là Hằng đang nằm mê man trong bệnh viện trung ương.

Đang đi trên vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, Khánh bỗng cảm thấy có một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Đó không phải là cái lạnh của gió chiều, mà là cái lạnh quen thuộc của cõi âm khi có vong hồn cận kề.

Hắn dừng bước, nhìn sang bên kia đường.

Dưới bóng một cây phượng vĩ già bên cạnh bờ kè sông Hương, một dáng người già nua đang đứng lặng lẽ. Mụ Năm.

Mụ mặc bộ quần áo bà ba màu nâu sồng quen thuộc, tay cầm xâu chuỗi đá đen bóng loáng. Mụ không nhìn dòng xe cộ ngược xuôi trên đường, mà đôi mắt đục ngầu của mụ đang nhìn chằm chằm vào Khánh.

Khánh nheo mắt nhìn kỹ hơn. Trời chiều tuy đã nhạt nắng nhưng ánh sáng vẫn còn đủ để soi rõ vạn vật.

Bên kia đường, Mụ Năm đứng nhìn với xâu chuỗi đá đen trong tay; dưới chân bà không có bóng dù trời còn sáng.

Chương khác

Xem thêm