TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 39: Chương 039: Trang để dành phản ứng từ xa
Mảnh vườn sau nhà Mụ Năm lúc nào cũng ẩm ướt như vừa trải qua một trận lụt lớn. Những tàu lá chuối lá đỏ to bản rủ xuống sát mặt đất, che khuất cả góc…
Nội dung chương
Mảnh vườn sau nhà Mụ Năm lúc nào cũng ẩm ướt như vừa trải qua một trận lụt lớn. Những tàu lá chuối lá đỏ to bản rủ xuống sát mặt đất, che khuất cả góc tường rào xây bằng gạch vồ cũ kỹ. Khánh dắt chiếc xe Cub dựng sát gốc cây vú sữa ngoài ngõ, một mình đi bộ vào trong. Mùi đất bùn ẩm mốc trộn lẫn với mùi nhang thơm rẻ tiền từ gian thờ của mụ bay ra, tạo nên một thứ không khí ngai ngái, khó thở.
Mụ Năm đang ngồi trên chiếc đòn tre thấp sát giếng nước, tay cầm con dao nhỏ gọt vỏ mấy củ khoai môn. Thấy bóng Khánh bước vào, mụ không ngẩng đầu lên, chỉ có động tác gọt khoai là chậm đi vài nhịp.
- Mi tới tìm mụ có việc chi đó Khánh? Thằng Bảy Sẹo hắn lại kiếm chuyện với mi à?
Khánh không vội trả lời. Hắn bước tới gần thành giếng, nhìn xuống khoảng nước sâu tối thẳm bên dưới rồi mới rút từ trong túi quần ra mảnh giấy giao nhận cổ vật màu vàng ố. Hắn đặt mảnh giấy lên chiếc nong tre đựng khoai bên cạnh mụ.
- Mụ coi cái ni thử. Bảy Sẹo đánh rơi lúc chạy khỏi Tả Vu đêm qua. Trên ni ghi rõ ngày giờ giao trâm ngọc với gương đồng ở bến Bao Vinh. Người ký tên dưới góc chỉ để lại một chữ T viết hoa. Tui muốn hỏi mụ, chữ T ni có liên quan chi tới người đứng sau chỉ điểm cho Bảy Sẹo không?
Mụ Năm dừng hẳn tay dao. Mụ nhìn chằm chằm vào nét chữ nguệch ngoạc bằng mực bi xanh trên mảnh giấy ố nước. Đôi mắt mụ, vốn đã đục mờ vì tuổi tác, bỗng co rút lại. Mụ đặt củ khoai môn xuống nong, thở ra một hơi dài đầy mỏi mệt.
- Mụ đã nói rồi, mụ không biết chữ T ni là ai. Mụ cũng không rảnh đi đưa ba cái giấy lộn ni cho thằng Sẹo. Đứa mô muốn mượn tay mụ để phá cái tiệm của ông Tư đó thôi. Mi đừng có nghe lời khích bác của tụi hắn mà nghi ngờ người trong nhà.
Khánh khoanh tay trước ngực, lưng tựa vào thành giếng đá lạnh ngắt. Hắn nhìn kỹ những nếp nhăn sâu hoắm trên gương mặt Mụ Năm. Hắn biết mụ đang giấu một chuyện chưa rõ, hoặc ít nhất là mụ biết kẻ đứng sau chữ T kia nhưng không dám nói ra vì sợ hãi.
- Tui không nghi ngờ o Bảy hay ông Tư. Nhưng rõ ràng có người biết rất rõ đường đi nước bước của tiệm Vong Ký. Kẻ đó biết cả chuyện trâm ngọc bích đang nằm ở đâu để phái Bảy Sẹo tới cướp. Nếu mụ biết chi thì nói cho tui hay, để tui còn biết đường mà đỡ. Chớ chừ tối mắt tối mũi thế ni, tui chịu không nổi.
Mụ Năm nhặt củ khoai lên gọt tiếp, lưỡi dao sắc lẹm gọt sát vào lớp vỏ tím sẫm. Giọng mụ khàn khàn, trầm xuống như tiếng gió rít qua khe cửa.
- Mi lo mà giữ cái xác của mi trước đi Khánh nợ. Có những chuyện mi không hỏi ông Tư, ông Tư cũng không nói đâu. Nhưng mụ hỏi mi câu ni, mi có bao giờ tự hỏi, răng mấy cái món đồ chết dưới sông Hương, món mô gặp mi cũng nhận ra mi trước khi mi biết tụi nó là chi không?
Khánh khựng lại. Câu hỏi của Mụ Năm đánh trúng vào nỗi thắc mắc bấy lâu nay của hắn. Từ chiếc gương đồng lăng Tự Đức cho đến cây trâm ngọc bích của cung nữ Hồng Hiền, tất cả có vẻ đều có một sự kết nối kỳ lạ với hắn ngay từ lần đầu chạm mặt. Chúng không hề chống cự hay phát tác tà khí mạnh mẽ khi hắn cầm vào, trái lại, chúng giống như những người quen cũ đang chờ đợi hắn đến để nhận mặt.
- Mụ nói rứa là có ý chi?
Khánh hỏi, giọng hắn đã mất đi vẻ bình tĩnh ban đầu.
Mụ Năm lắc đầu, đứng dậy bưng nong khoai môn đi về phía hiên nhà. Mụ không quay lại nhìn hắn, chỉ để lại một câu nói lửng lơ.
- Mụ già rồi, tai điếc mắt mờ, không biết nhiều chuyện của dòng phủ bên sông đâu. Mi muốn biết rõ thì về hỏi ông Tư. Hỏi xem vì sao mấy món đồ âm dưới sông, món mô gặp mi cũng nhận ra mi trước. Mụ vô nhà nghỉ lưng đây, mi về đi kẻo trời sập tối.
Khánh đứng lặng giữa mảnh vườn hoang vắng. Gió chiều từ phía sông Hương thổi thốc vào, làm những tàu lá chuối lá đỏ đập vào nhau phát ra những tiếng xào xạc dồn dập. Hắn nhìn theo bóng lưng còng của Mụ Năm biến mất sau tấm liếp cửa, lòng nặng trĩu những mối hoài nghi không lời giải đáp.
***
Cùng lúc đó, tại tiệm Vong Ký trong ngõ kiệt Gia Hội.
Trời đã ngả sang màu nhập nhẹm tối. Những tia nắng cuối ngày tắt lịm trên những mái ngói lưu ly phủ đầy rêu xanh của dãy nhà bên sông. Trong tiệm, ánh sáng mờ tối bao trùm lấy gian nhà giữa. Bồi đang cầm chiếc chổi tre nhỏ quét dọn những hạt bụi cát bay vào từ cửa chính. Ông Tư vẫn ở trong buồng trong, thỉnh thoảng tiếng ho khan của ông lại vọng ra, nghe khô khốc và mệt mỏi.
Cuốn Vong Ký xám tro lúc này đang được đặt ngay ngắn trên chiếc bàn gỗ lim ở góc phòng. Bình thường, cuốn sổ luôn được cất kỹ trong ngăn tủ khóa hai lớp, nhưng chiều nay, trước khi đi, Khánh đã để nó lại trên bàn sau khi ghi chép xong phần việc của cung nữ Hồng Hiền.
Đột nhiên, bìa cuốn sổ bằng da thuộc xám tro khẽ rung lên.
Bồi đang quét nhà bỗng dừng tay chổi. Cậu bé có âm giác nhạy bén hơn người thường, ngay lập tức cảm nhận được một luồng khí lạnh lẽo, ẩm ướt đang lan ra từ phía chiếc bàn gỗ. Cậu quay đầu lại, hai mắt mở to nhìn chăm chằm vào cuốn sổ.
Bìa cuốn Vong Ký tự động lật mở, tiếng giấy sột soạt vang lên giữa không gian im ắng của tiệm. Những trang giấy lật nhanh như có một bàn tay vô hình đang lướt qua, cho đến khi dừng lại ở trang cuối cùng.
Đó là trang giấy trắng tinh, không hề được đánh số trang.
Trước mắt Bồi, trang giấy trắng đó bắt đầu có sự thay đổi kỳ lạ. Nó không còn phẳng phiu như trước mà phồng lên từng nốt nhỏ, giống như có những giọt nước đang thấm ngược từ mặt dưới của thớ giấy lên trên. Trang giấy căng mọng, xơ ra như thể đã bị ngâm dưới nước sông Hương nhiều ngày, nhưng kỳ lạ là không hề có một giọt nước nào tràn ra mặt bàn gỗ.
Cộc.
Một tiếng gõ khô khốc vang lên từ mặt bàn gỗ lim, ngay phía dưới cuốn sổ.
Bồi giật mình lùi lại một bước, tay nắm chặt cán chổi tre.
Cộc. Cộc.
Hai tiếng gõ nữa tiếp tục vang lên, nhịp điệu rất nhanh và dứt khoát. Rồi sau đó là một khoảng lặng ngắn, trước khi một tiếng gõ thứ tư trầm hơn, kéo dài hơn vang lên: Cộc.
Ba nhịp ngắn, một nhịp dài. Tiếng gõ không phải phát ra từ ngón tay của ai đó, mà giống như có một lực cản từ dưới thớ gỗ lim đẩy ngược lên, gõ vào bìa cuốn sổ.
Bồi run rẩy thọc tay vào túi quần, định rút chiếc điện thoại cục gạch ra để gọi cho Khánh. Nhưng chưa kịp bấm số, một bàn tay gầy guộc, khô héo như nhánh củi khô đã đặt lên vai cậu từ phía sau.
Ông Tư đã đứng sau lưng Bồi từ lúc nào. Gương mặt ông già nua hằn sâu những vết chân chim, chân trái kéo lê trên sàn nhà phát ra tiếng động kèn kẹt. Ông nhìn cuốn Vong Ký đang tự gõ nhịp trên bàn, đôi mắt đục ngầu không lộ ra một chút kinh ngạc nào, chỉ có vẻ nghiêm nghị đến đáng sợ.
- Cất máy đi Bồi. Không được gọi cho hắn.
Ông Tư gằn giọng, tiếng nói nhỏ nhưng đầy uy lực.
- Nhưng ông Tư, cuốn sổ, trang cuối cuốn sổ tự nhiên bị phồng nước rồi gõ nhịp kìa ông. Con phải báo cho eng Khánh biết chớ?
Bồi lo lắng nói, mắt vẫn không rời khỏi trang giấy trắng đang phồng lên như bong bóng nước.
Ông Tư không trả lời. Ông bước tới sát cạnh bàn, chậm rãi đưa bàn tay gầy gò của mình đặt lên bìa cuốn Vong Ký. Ông dùng lực đè chặt cuốn sổ xuống, ép trang giấy đang phồng nước xẹp lại. Kỳ lạ thay, khi bàn tay của ông chạm vào, những nốt phồng trên trang giấy trắng lập tức lặn xuống, thớ giấy khô ráo trở lại như cũ. Tiếng gõ nhịp dưới mặt bàn cũng tắt hẳn, trả lại sự im lặng cho gian phòng tối.
- Cất máy đi. Chưa biết nhịp gõ này báo chuyện chi thì đừng gọi làm hắn phân tâm giữa đường. Để tau đóng sổ lại, chờ hắn về rồi tự nhìn dấu mà xét.
Bồi nghe vậy thì sợ hãi cúi đầu, vội vàng nhét chiếc điện thoại vào túi quần.
- Con biết rồi ông Tư. Con không gọi nữa. Nhưng răng trang cuối lại tự gõ nhịp khi eng Khánh không có ở tiệm rứa ông?
Ông Tư rút tay lại, đút vào túi áo khoác vải chàm. Ông nhìn ra phía cửa tiệm, nơi bóng tối đã nuốt chửng con đường kiệt trước nhà.
- Tau chưa biết. Trang cuối không có số, cũng chưa từng chịu nhận mực. Chừ nó chỉ để lại bốn nhịp, chưa đủ cho ai kết luận. Mi nhớ đúng ba ngắn một dài, lát hắn về thì kể nguyên như rứa, đừng tự thêm lời giải.
Bồi lí nhí vâng lời rồi cầm chổi đi ra phía sau. Nhưng trong lòng cậu bé vẫn không khỏi thắc mắc về nhịp gõ ba ngắn một dài kỳ lạ kia. Nó giống như một lời cảnh báo, hoặc một tín hiệu liên lạc từ một cõi xa xăm nào đó đang cố truyền tới cho Khánh.
***
Khi Khánh chạy xe về tới tiệm Vong Ký thì trời đã tối mịt. Phố cổ Bao Vinh im lìm dưới ánh đèn đường vàng vọt. Tiếng sóng sông Hương vỗ vào bờ đá sau nhà nghe rì rào, đều đặn như hơi thở của một con quái vật đang ngủ say.
Khánh dắt xe vào góc sân, vừa tắt máy thì thấy Bồi từ trong bếp chạy ra. Cậu bé nhìn ngó xung quanh rồi kéo tay Khánh ra góc tối dưới bóng cây khế, thì thầm.
- Eng Khánh, lúc chiều eng đi nhà Mụ Năm, cuốn Vong Ký ở nhà tự nhiên tự mở ra đó eng.
Khánh nhíu mày, cúi xuống nhìn Bồi.
- Mi nói răng? Nó tự mở à? Có chuyện chi xảy ra không?
- Dạ có. Trang cuối cùng trắng tinh nớ tự nhiên phồng lên như ngấm nước sông rứa. Rồi dưới mặt bàn gỗ lim phát ra tiếng gõ cộc cộc. Con nghe rõ lắm, ba tiếng ngắn rồi một tiếng dài. Ông Tư từ trong buồng ra đè cuốn sổ lại, bảo con nhớ nguyên nhịp gõ rồi chờ eng về kể, đừng tự đoán thêm.
Khánh nghe xong, lồng ngực thắt lại một nhịp. Hắn chưa hiểu phản ứng của trang cuối khi mình vắng mặt. Bốn nhịp gõ cũng chưa có lời giải. Mọi câu hỏi vẫn đứng trước hắn như một bức tường đá.
- Ông Tư chừ đang làm chi trong nhà?
Khánh hỏi, giọng cố kìm nén sự bực bội.
- Ông đang ngồi uống trà bên bàn gỗ nớ eng. Eng vô đừng nói con kể nghe, không ông mắng con chết.
Bồi lo lắng dặn dò.
- Được rồi, mi vô bếp dọn cơm đi. Để tau lo.
Khánh bước vào gian nhà giữa. Ánh đèn dầu trên bàn tỏa ra thứ ánh sáng vàng tù mờ, hắt bóng Ông Tư dài ngoằng lên bức tường rào phía sau. Ông già vẫn ngồi im lặng, tay cầm tách trà nguội, đôi mắt đục ngầu nhìn đăm đăm vào khoảng không trước mặt. Cuốn Vong Ký đã được cất vào ngăn kéo tủ khóa hai lớp, chiếc tủ gỗ lim đứng im lìm trong góc tối.
Khánh kéo ghế ngồi đối diện với Ông Tư. Hắn định hỏi thẳng ông về chuyện trang cuối tự gõ nhịp lúc chiều, nhưng khi nhìn thấy gương mặt già nua. Đầy vẻ mệt mỏi và chân trái đang run rẩy dưới gầm bàn của ông, câu hỏi của hắn bỗng nghẹn lại nơi cổ họng. Hắn biết, dù có hỏi thì Ông Tư cũng sẽ dùng những lời mắng mỏ hoặc sự im lặng đáng sợ để lảng tránh.
Khánh hít sâu, quyết định chuyển hướng câu hỏi sang chuyện thực tế hơn.
- Ngày mai mình niêm cây trâm ngọc bích của cung nữ Hồng Hiền phải không ông? Tui cần chuẩn bị những chi?
Ông Tư khẽ liếc nhìn Khánh qua làn khói trà nhạt. Ánh mắt ông có chút dịu đi khi thấy Khánh không gặng hỏi về chuyện lúc chiều. Ông đặt tách trà xuống bàn, giọng khàn khàn.
- Ngày mai chuẩn bị một nén nhang ủ đủ hạn bốn mươi chín ngày. Với lại, cần một giọt máu của mi để làm dấu niêm trên dòng chữ ghi tên trong sổ. Cây trâm nớ oán khí tuy đã tan nhưng duyên nợ vẫn còn nặng, phải dùng máu của Khánh để định vị nó trong tủ khóa.
Khánh gật đầu.
- Dạ, tui biết rồi. Nhang ủ thì tui đã chuẩn bị sẵn trong kho từ tháng trước. Còn chuyện niêm tủ, tui có cần học câu chú chi không ông?
Ông Tư lắc đầu, tay gõ nhẹ xuống mặt bàn gỗ.
- Mi chưa cần học mấy cái nớ. Việc niêm phong tủ cứ để tau lo. Mi chỉ cần làm đúng phận sự của mi là ghi tên và nhỏ máu vào sổ. Những chuyện khác, từ từ rồi tau sẽ bày cho. Chừ mi đi tắm rửa rồi ăn cơm đi, nhìn mặt mi phờ phạc lắm rồi đó.
Khánh đứng dậy, định quay lưng đi thì Ông Tư bỗng nói thêm một câu, giọng trầm xuống.
- Khánh nợ, có những chuyện trên đời ni, biết sớm quá cũng không phải là tốt. Cái mạng của mi chừ đang yên ổn, thì cứ lo mà sống cho tốt phần của mi đi. Đừng có tò mò đào bới mấy cái chuyện cũ dưới sông làm chi cho mệt xác.
Khánh khựng lại một lát, hắn không quay đầu lại nhìn ông già, chỉ khẽ ừ một tiếng rồi bước nhanh về phía nhà tắm sau vườn. Hắn biết Ông Tư nói thế là có ý bảo vệ hắn, nhưng sự bảo vệ bằng cách giấu giếm này chỉ làm hắn cảm thấy ngột ngạt và bất an hơn mà thôi.
***
Đêm đó, gió sông Hương thổi mạnh hơn thường lệ. Tiếng sóng vỗ oàm oạp vào bờ đá sau tiệm Vong Ký vọng lên tận căn gác xép nhỏ của Khánh, nghe như tiếng ai đó đang ra sức đập cửa đòi vào.
Khánh nằm trên chiếc chiếu cói đơn sơ, hai tay gối sau đầu, mắt nhìn đăm đăm lên những thanh xà gồ gỗ đã mục ruỗng của mái nhà. Đầu óc hắn quay cuồng với hàng loạt câu hỏi không có lời giải. Trang cuối của cuốn Vong Ký vì sao lại tự phồng nước và gõ nhịp khi hắn ở xa? Nhịp gõ ba ngắn một dài đó có ý nghĩa gì? Và tại sao Mụ Năm lại bảo hắn nên hỏi Ông Tư về việc các món đồ âm luôn nhận ra hắn trước?
Trong bóng tối tĩnh mịch, vết bớt hình cá đỏ trên vai Khánh bỗng ngứa râm ran. Hắn đưa tay lên gãi nhẹ, cảm giác da thịt chỗ đó nóng ran lên như có một dòng nước ấm đang chảy qua. Hắn thở dài, xoay người nhắm mắt lại, cố gắng gạt bỏ những suy nghĩ ngổn ngang để tìm kiếm giấc ngủ.
Nhưng khi vừa chìm vào giấc nồng, Khánh lại thấy mình bước vào một giấc mơ kỳ lạ.
Trong mơ, hắn đang đi bộ trên một con đường dốc đứng dẫn lên một ngôi chùa cổ kính. Xung quanh sương mù dày đặc, trắng xóa như một tấm lụa khổng lồ bao phủ lấy những rặng thông già hai bên đường. Không khí lạnh buốt, ẩm ướt đến mức mỗi hơi thở của hắn đều hóa thành những luồng khói trắng.
Từ phía trên đỉnh dốc, tiếng chuông chùa vang lên từng nhịp trầm ấm, lan tỏa khắp không gian tĩnh mịch.
Tiếng chuông nghe rất gần, nhưng kỳ lạ là hắn không thể nhìn thấy mái chùa hay bất kỳ bóng dáng người nào xung quanh. Rồi đột nhiên, từ trong màn sương mù dày đặc phía trước, có tiếng ai đó đang gọi hắn. Giọng nói thanh tao, trầm thấp nhưng đầy vẻ u uất, vang lên giữa màn sương lạnh.
Khánh giật mình, bước nhanh hơn về phía phát ra tiếng gọi. Hắn muốn cất tiếng trả lời, muốn hỏi xem người đó là ai và vì sao lại gọi hắn. Nhưng khi hắn vừa mở miệng, một luồng nước đục ngầu, lạnh ngắt từ đâu bỗng tràn tới.
Nước sông Hương cuồn cuộn, mang theo mùi bùn non và rong rêu thối rữa, dâng lên nhanh chóng ngập cả lối đi. Luồng nước tràn vào hốc tai, lấp đầy khoang miệng của Khánh, khiến tiếng gọi của người đàn bà kia bị tiếng nước chảy át đi, chỉ còn lại những tiếng ục ục vô nghĩa dưới lòng sông sâu. Hắn cố gắng vùng vẫy để ngoi lên mặt nước, nhưng dòng nước đục ngầu cứ kéo ghì lấy chân hắn, nhấn chìm hắn xuống đáy sâu tối tăm của dòng nước âm.
Khánh giật mình tỉnh giấc, người ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Hắn ngồi bật dậy trên chiếc chiếu cói, lồng ngực phập phồng thở dốc. Gió lạnh từ cửa sổ gỗ thổi vào làm hắn khẽ rùng mình. Ngoài trời vẫn còn tối đen, chỉ có vài tia sáng yếu ớt của buổi sớm mai bắt đầu le lói ở phía chân trời xa bên kia sông.
Khánh bước đến bên cửa sổ, định khép cánh cửa gỗ lại để tránh gió lạnh. Nhưng khi tay hắn vừa chạm vào khung cửa, hắn bỗng khựng lại.
Trên mặt kính cửa sổ phủ đầy hơi nước ngưng tụ mờ ảo, xuất hiện bốn dấu tròn rõ mòn một. Ba dấu tròn đầu tiên nằm sát nhau, tạo thành một hàng ngang ngắn, còn dấu tròn thứ tư nằm cách quãng hẳn ra phía bên phải.