TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 59: Chương 059: Cái giá của người dạy
Thìa cháo hành nguội trôi qua cổ họng Khánh mà không để lại mùi gì. Hắn chép miệng. Uống thêm ngụm nước lọc. Lưỡi vẫn đắng khô. Cơn sốt đêm qua đã rút…
Nội dung chương
Thìa cháo hành nguội trôi qua cổ họng Khánh mà không để lại mùi gì. Hắn chép miệng. Uống thêm ngụm nước lọc. Lưỡi vẫn đắng khô. Cơn sốt đêm qua đã rút bớt. Chỉ còn hơi nóng âm ỉ dọc sống lưng và bả vai trái ê ẩm.
Hắn đặt bát xuống. Đứng dậy bám thành giường. Người mỏi. Đầu nặng. Vẫn muốn xuống kho coi chuông. Sáu dấu ngón trên ngăn không số đêm qua không cho hắn nằm yên.
Vừa bước xuống thềm gian ngoài, giọng Ông Tư khàn đặc chặn lại.
- Đi mô đó? Vô nằm tiếp đi.
Ông ngồi trên phản gỗ, gậy tre gõ nhẹ nền gạch. Mặt xám. Nếp nhăn khóe mắt sâu hơn. Chân trái duỗi thẳng, phủ vải màn thưa bốc mùi ngải cứu chưng giấm.
- Con xuống coi chuông chút thôi chú. Đêm qua có cái chi lạ ở tủ không số.
Ông Tư không ngước. Đầu gậy chỉ ngược buồng trong.
- Niêm xong rồi. Tên mệ Điểm cũng xong lời hẹn. Mấy dấu trên tủ chưa sập tiệm được đâu. Mi đừng bày đặt chịu đựng rồi coi đó là công. Sức người sống có hạn. Cố quá chỉ tổ bị kéo chân. Vô nằm đi.
Khánh đứng im. Biết tính ông. Cãi vô ích. Bụng rỗng và lưỡi mất vị đang nhắc hắn đã chạm giới hạn. Hắn quay vào giường tre.
Suốt ngày mùng bảy tháng Tư, hắn ngủ chập chờn. Không mơ nước lũ. Không mơ giấy cháy. Chỉ nghe gió rít khe cửa và bước chân Ông Tư nặng nề ngoài kia. Bồi thỉnh thoảng hé nhìn. Thấy eng còn nhắm mắt thì khép hờ cửa, không gọi.
Sáng mùng tám, nắng non trải mái ngói Bao Vinh. Lạnh ẩm mùa xuân còn quyện hơi sông thành sương mỏng quanh tiệm.
Khánh dậy. Người đỡ hơn chút. Vị giác chưa về hẳn nhưng đắng đã bớt. Hắn ra sân sau rửa mặt. Nước giếng buốt. Tỉnh hẳn.
Ngang góc sân sát bờ sông, hắn dừng.
Dưới cây khế già trổ bông tím nhạt, Ông Tư ngồi ghế gỗ thấp. Quần nâu xắn quá gối. Hai ống chân khẳng khiu. Chân phải còn bình thường. Chân trái teo rõ, da tái, gân xanh đen chạy từ bắp xuống mắt cá.
Hai bàn chân ông ngâm trong chậu nhôm đầy nước sông. Nước đục. Rong đen và bùn non lắng đáy. Bên chậu, đồng hồ quả quýt đồng cũ mở nắp. Kim giây tạch tạch đều.
Khánh nép cửa gỗ nhìn. Gân xanh trên chân trái ông như cựa dưới da, hút cái lạnh từ nước. Kim phút nhích hết vạch. Đúng bốn mươi chín phút. Ông Tư thở hắt ra. Nhấc chân khỏi chậu. Bàn chân trái lạnh tái như chân người chết đuối lâu ngày.
Khánh bước tới. Cầm khăn trên cành khế, lau giúp ông.
- Chú ngâm đúng bốn mươi chín phút. Con đếm theo đồng hồ.
Ông Tư không giật khăn. Cũng không cảm ơn. Chỉ nhìn chậu nước đục.
- Nước giữ tau đi được thêm. Hết giờ thì nhấc. Ngâm lâu hơn không thêm ích.
- Cái ni có liên quan cái giá Hương Thuật không chú? Hôm xuống chùa chú quỵ một gối. Chân trái nặng hơn trước.
Ông lặng một nhịp. Lấy khăn tự lau nốt mắt cá.
- Mi hỏi nhiều. Tau trả lời ít. Nước sông giữ chân tau còn bước quanh tiệm. Ngoài ra mi chưa cần biết.
- Chú giấu.
- Giấu thì giấu. Mi sốt vừa dứt đã lo moi chuyện người già. Mặc quần vô. Đừng đứng chân không trên gạch ướt.
Khánh muốn hỏi thêm. Nhìn chân trái ông tái hơn hôm qua thì nuốt lời. Hỏi lúc này chỉ tổ ông gạt bằng gậy.
Gần trưa, Cô Bảy ghé. Bà xách nồi chè đậu xanh nhỏ, bước vào sân như người hàng xóm chứ không như ai cầm việc lớn. Áo bà ba nâu sờn. Tay xắn đến khuỷu. Sẹo chữ X trên cổ tay lộ rõ dưới nắng nghiêng.
- O nấu dư. bip cho hai chú cháu. Ăn nóng kẻo đóng váng.
Bồi bưng chén ra. Khánh húp thử. Vẫn gần như không vị. Chỉ cảm được nóng và đậu bở. Cô Bảy nhìn hắn một cái, không hỏi nhiều.
- Học chậm là tốt. Người học nhanh thường trả giá trước khi biết mình mất chi. Mi đừng ghen với tay ông già kia. Ông ấy trả giá từ chừ đến già rồi.
Khánh để chén xuống. Liếc sẹo chữ X rồi nhìn chỗ khác. Thói quen cũ. Thấy dấu lạ là né.
- O... sáu dấu tay trên ngăn không số. Đêm chuông vô tủ nó rời vai con sang gỗ. Răng vậy?
Cô Bảy xắn tay thêm một nhịp, buộc lại miệng nồi bằng sợi rafia. Không che sẹo. Cũng không giải sẹo.
- Kẻ ngoài đang dò đường tới đồ trong kho. Nó bám mi một đoạn. Bùa tiệm chặn, chưa bước vô được. Nên nó in dấu ngoài gỗ cho mi sợ. Sợ thì đừng tự mở. Cứ để ổ khóa ông Tư lo.
- Kẻ đó là ai?
- Chưa cần tên. Biết nó dò là đủ. Mi còn mất vị, đừng thèm gọi lại chi từ ngăn đó.
Bà đứng dậy, vỗ nhẹ đầu Bồi.
- Chiều nhớ rửa chén. Đừng để eng Khánh rửa. Tay hắn còn run.
Khánh nhìn theo lưng bà ra ngõ. Muốn cười vì bị coi như bệnh nhân. Cười không thành. Vai vẫn nhớ cảm giác sáu ngón lạnh dù da đã sạch.
Chiều cùng ngày, Quang xách cặp tài liệu ghé. Áo sơ mi nhăn. Mắt hơi thâm. Hắn ghé bến Đoan Hùng đo mực nước từ sáng.
- Sông hạ rồi. Đúng ba ngày dâng sớm rồi về mức thường. Cọc đo của bên thủy văn cũng khớp. Không còn tràn bậc đá như bữa trước.
Khánh gật. Nhớ giấy vàng từng trôi ngược. Nhớ rêu Cồn Hến. Không nói ra.
- Rứa là hết dị thường?
- Hết ở tầng số liệu. Còn vì sao nó dâng đúng ba ngày thì tau không có câu trả lời. Không có bão. Không có xả lũ thượng nguồn đủ lớn. Coi như một nhịp nước lạ rồi im.
Ông Tư từ trong quầy ngó ra, chỉ gật một cái nghe được chuyện. Không bình luận. Quang để lại bản ghi mực nước trên bàn rồi đi dạy bù buổi tối.
Tối mùng tám, thư sư Minh Không tới theo đường xe ôm từ phía chùa. Phong bì mỏng. Chữ thẳng. Bên trong một tờ cảm ơn viết tay và bản sao trang sổ đã phục hồi tên Nguyễn Thị Điểm. Sư viết ngắn: ông đã xuất viện. Hồ sơ mất tích phía công an khép theo lời khai sập nền. Ông xin giữ pháp danh Minh Không. Không bỏ đi. Sẽ trông kho kinh và không để trang tên nào bị xé thêm lần nữa.
Khánh đọc hai lần. Gấp thư lại. Không biết đáp chi cho vừa. Người sống sót mà chỉ hứa giữ sổ. Nghe giản. Cũng nặng.
- Viết trả lời mai cũng được, Ông Tư nói. Đừng thức viết đêm. Chữ đêm dễ run.
Mùng chín tháng Tư, tiệm trở lại nhịp cầm đồ ban ngày. Khách thật vài người. Chẳng ai hỏi chuông. Những vật trong kho vẫn kín sau cửa khóa. Khánh ngồi quầy nửa buổi rồi bị Ông Tư đuổi vào nghỉ vì mặt còn trắng.
Chiều hắn lén xuống kho. Tủ số ba im. Bùa ngoài then khô. Hắn không mở. Chỉ nhìn ngăn không số. Sáu dấu ngón đã nhạt hơn đêm đầu, như hơi ẩm đang rút. Vẫn còn. Vẫn hướng ra ngoài.
- Eng đừng lại gần lâu, Bồi nói từ cửa. Con nghe trong đó có người gõ nhịp. Không gọi tên. Chỉ gõ.
- Gõ cờ hả?
- Chưa ra bàn. Mới như thử quân. Eng ra. Ông Tư kêu.
Khánh ra. Không cãi.
Tối mùng chín, sau khi Bồi ngủ, Khánh mở Vong Ký dưới đèn dầu. Ba dòng tà vật đã thu nằm đó. Gương. Trâm. Chuông. Dòng tên Mệ Điểm đỏ nhạt. Lời hẹn xong. Hắn lật tới lật lui. Không tìm thêm dòng mới. Cũng chẳng dám mong có.
Ông Tư ngồi bên bàn nhỏ mài thỏi son trên đá. Động tác chậm. Đỏ son loáng dưới lửa đèn.
Khánh ngập ngừng. Bao nhiêu lần suýt hỏi. Âm “T” đêm chuông. Âm “T” trong đường ngầm. Âm bị hắn cắt bằng khánh. Hắn há miệng.
Rồi nhìn vai ông khom và chân trái duỗi cứng dưới gầm bàn. Hắn đổi câu.
- Chú... chỉ con cách mài ngòi bút son với. Ngòi của con viết hay loang. Không sắc như của chú.
Ông Tư ngước lên. Vẻ căng trên mặt dịu một nấc. Đặt thỏi son xuống. Cầm bút lông ngòi dẹt của Khánh.
- Không phải đè mạnh là được. Mài một chiều. Lực đều. Mạt phải mịn, không vón. Chữ bùa cần nét dứt. Mực đứt thì hỏng.
Khánh cầm thỏi son. Nặng. Lạnh. Cho ít nước giếng lên đá. Mài theo vòng như ông dặn. Tiếng sột soạt đều trong phòng.
Mạt son đỏ hiện ra, hòa nước thành đặc. Hắn mài một lúc. Định thử độ mịn bằng đầu ngón.
Gió từ phía sông lọt khe cửa. Đèn dầu chao. Bóng hai người trên vách nghiêng ngả.
Khánh nheo mắt. Lửa ổn lại. Hắn cúi nhìn mặt bàn sát phiến đá.
Mạt son khô chưa kịp tan bị gió thổi ra ngoài đá, rơi trên gỗ tối. Chúng không vãi loạn. Từng hạt xê dịch, ghép lại dưới ánh đèn.
Một nét “T” hiện ra. Đỏ. Rõ. Như son mới điểm.
Khánh nín thở. Vai trái twinge một cái. Hắn cúi gần hơn, muốn xem nét sau kéo đi đâu.
Bàn tay gầy Ông Tư đã đưa quạt nan quét một nhát.
Xoạt.
Mạt son văng tung. Rơi xuống gạch. Mặt bàn trống.
- Mài mực để gió thổi lung tung là hư. Dọn đi. Ngủ. Mai còn việc.
Khánh nhìn mặt gỗ sạch. Nhìn ông. Ông đã cúi mài lại thỏi son như chưa có gì xảy ra. Hắn gật. Thu bút. Không hỏi lại âm “T”.
Trong óc hắn, nét son đỏ vẫn còn treo lửng. Chưa trọn. Bị quét mất trước khi thành chữ.