TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 64: Chương 064: Bàn Cờ Dưới Bửu Thành

Khánh đi đầu. Tay trái kẹp khánh đồng nhỏ trong lòng bàn tay. Túi áo trong giữ giấy vàng và lọ nước Sông Hương lấy từ bến sáng nay. Đèn pin rọi thẳng…

Nội dung chương

Khánh đi đầu.

Tay trái kẹp khánh đồng nhỏ trong lòng bàn tay. Túi áo trong giữ giấy vàng và lọ nước Sông Hương lấy từ bến sáng nay. Đèn pin rọi thẳng xuống những bậc đá ướt. Hơi lạnh từ đáy hầm xộc ngược lên mặt, làm da đầu tê ngứa.

Mỗi lần hạ chân, Khánh phải dò mũi giày trước rồi mới dồn trọng lượng xuống. Mặt đá trơn, lạnh xuyên qua đế cao su. Vạt áo quệt vách, kéo theo một lớp bụi ẩm bám vào da cổ. Hắn giữ khuỷu tay sát sườn để lọ nước khỏi va vào thành đá. Tiếng thủy tinh chạm nhẹ trong túi vẫn vang xa hơn mức đáng có, chạy xuống lòng cầu thang rồi dội ngược về.

Phía sau, Quang bám lan can đá bằng một tay, tay kia ôm tập bản chụp sổ công. Phan Khanh đi cuối. Cứ vài bậc anh lại quệt phấn vàng lên vách, đánh dấu cho đội cứu hộ phía trên.

- Đi chậm. Lối ni dốc.

Quang nói khẽ. Giọng hắn khô vì thiếu khí.

- Biết rồi.

Khánh không quay lại. Hắn đếm.

Một. Hai. Ba.

Bậc đá hẹp, vừa một bàn chân người lớn. Giữa mỗi bậc có một vết lõm nhỏ bằng đầu ngón tay cái, nhẵn như bị mài đi mài lại nhiều năm. Rêu không bám trong lòng vết lõm. Chỉ có đất ẩm và mùi sắt tanh nhẹ.

Mười lăm. Mười sáu.

Mùi vôi cũ lẫn bùn đáy sông đặc dần. Không gió. Không tiếng côn trùng. Chỉ còn tiếng thở của ba người và tiếng nước rỉ ở đâu đó rất xa.

Hai mươi tám. Hai mươi chín.

Khi chân Khánh chạm bậc thứ ba mươi hai, hắn dừng.

Đèn pin quét ngang. Đúng ba mươi hai bậc. Không thừa không thiếu.

Hắn bước xuống nền đất nện. Gót giày vừa chạm, vách đá kêu một tiếng mỏng.

Tách.

Giọt nước đỏ rỉ ra từ vết lõm ngay sát mép bậc cuối. Rồi cả dãy cầu thang nổ ra hàng loạt tiếng nhỏ. Ba mươi hai dấu ngón cái đồng loạt rịn nước đỏ thẫm, chảy dài trên mặt đá, bốc mùi tanh như máu pha phèn.

Phan Khanh xuống sau cùng, rọi đèn vào vệt đỏ.

- Máu hả?

Anh đưa tay định quẹt. Khánh gạt ra.

- Đừng. Nước sông pha chu sa. Người ta niêm đất mộ bằng thứ ni. Ai đó muốn tụi mình thấy đường xuống chứ không phải tai nạn sụt nền.

Quang nuốt nước bọt. Hắn vẫn ghi, dù chữ run.

Khánh quét đèn một vòng.

Gian hầm hình vuông, chừng hơn mười mét một cạnh. Vách ghép đá thanh xám xanh. Không khe thông gió. Vậy mà sáu ngọn đèn dầu đất nung trong các hốc tường vẫn cháy. Lửa đứng im. Mùi mỡ cháy khét và dầu cũ đặc đến mức lưỡi có vị đắng.

Ánh sáng từ sáu hốc không đủ lấp bóng tối ở các góc. Nó chỉ phủ lên nền đất những quầng vàng méo mó, để mép phòng chìm trong màu xám đặc. Khánh hạ đèn pin, quan sát dấu giày của họ in trên lớp bụi mịn. Ngoài ba hàng dấu mới, nền gần bàn cờ phẳng lì. Sự nguyên vẹn ấy khiến hắn bước cẩn thận hơn, tránh kéo lê chân hoặc chạm vào bất cứ vật gì chưa nhìn rõ.

Giữa phòng là một bàn gỗ trắc thấp. Mặt bàn khắc đủ đường cờ tướng. Chín đường dọc. Mười đường ngang. Phần sông giữa hai bên không để trống. Nó bị trám đặc hỗn hợp vôi và tro xám, khô cứng, nứt chân chim.

Khánh lại gần, miết nhẹ đầu ngón lên lớp trám. Tro mịn dính da. Mùi xương cháy cũ xộc lên mũi.

Trên bàn xếp đủ ba mươi hai quân.

Không phải gỗ. Không phải ngà. Mỗi quân được gọt từ một đốt xương ngón tay cái, ngả màu ngà đục. Mặt trên viết tên bằng son đã thẫm đen. Nét chữ nhỏ, thẳng, như người viết vẫn còn giữ thói quen thợ khắc đá.

Khánh nhìn góc trong bên đỏ.

Quân Tướng nằm im. Hai chữ trên mặt xương: Nguyễn Văn Đôi.

- Anh Khanh. Bên đông.

Quang chỉ bằng cằm.

Không có thân người trong ba hốc tường. Hốc trống. Chỉ có đất ẩm và dấu cào cũ. Nhưng từ khe đá thấp phía đông, chỗ sàn sụt xuống một bậc tối, vọng lên ba nhịp thở yếu, lệch nhau. Nóng. Còn sống. Bị nhốt dưới khoang hẹp hơn.

Ba cái bóng mỏng bò từ khe ấy ra nền hầm, dài ngoằn như vệt mực loãng. Đầu mỗi bóng siết một sợi chỉ đỏ mảnh. Ba sợi chạy lên mép bàn, buộc vào ba quân gỗ trắng đặt ngoài biên. Ba quân trắng chưa khắc tên, gỗ mới hơn xương, chờ người.

Mỗi nhịp thở vọng lên, sợi chỉ tương ứng lại căng rồi chùng. Quân gỗ trắng rung rất nhẹ, chân gõ vào mặt bàn thành tiếng cộc nhỏ. Khánh nhìn nhịp rung, buộc mình phân biệt đủ cả ba. Một nhịp ngắn, một nhịp khò khè, nhịp còn lại ngắt quãng lâu đến mức hắn phải đợi mới thấy sợi chỉ động tiếp. Cảm giác cấp bách dồn lên ngực, nhưng chính sự mong manh ấy giữ tay hắn khỏi hành động vội.

Phan Khanh đã rút dao gập, bước tới sợi chỉ gần nhất.

- Còn thở. Tôi cắt chỉ, kéo họ lên.

- Khoan.

Khánh nắm cổ tay anh. Lưỡi dao vừa chạm sợi chỉ, một nhịp thở dưới khe ngừng tụt. Im nửa giây. Rồi mới trở lại, yếu hơn.

Phan Khanh cứng người.

- Vừa rồi...

- Chạm chỉ là chạm mạch họ. Cắt là ngừng. Giữ nguyên. Chưa ai đụng thêm sợi nào.

Anh nhìn Khánh lâu hơn một nhịp, rồi gật. Dao gập lại. Anh không thích bị chỉ bảo trên hiện trường, nhưng cũng không thích giết người vì nóng vội. Anh đánh thêm dấu phấn vàng về phía khe đông, nói vào bộ đàm ngắn:

- Ba tín hiệu sinh tồn dưới khoang phụ phía đông. Chưa tiếp cận được. Giữ oxy và cáng trên miệng hầm. Không ai xuống thêm khi chưa có lệnh.

Tắt đàm. Mồ hôi lạnh ướt thái dương anh dù hầm lạnh.

Quang đã quỳ bên bàn, đèn kẹp giữa răng và vai, đối tên trên quân với bản chụp sổ công.

- Trần Văn Tý... Phạm Văn Cừ... Hoàng Văn Kỷ...

Hắn lật trang, ngón tay chạy từng dòng bị gạch.

- Đủ. Ba mươi hai người mất tích năm 1843. Trùng hết. Không sót tên nào trên bàn, cũng không thừa.

Ngón hắn dừng ở dòng Nguyễn Văn Đôi. Bên lề có chữ nhỏ hơn, nét khác tay người chép chính:

Giữ cửa, nhận ván cuối.

- Chữ ni không cùng nét sổ công. Ai đó viết thêm sau.

Khánh không trả lời ngay. Hắn mở lọ nước sông, nhỏ một giọt lên quân Tướng. Nước không trôi. Nó thấm vào nét son như bị hút.

- Nguyễn Văn Đôi.

Tên được gọi đủ, rõ, không nuốt chữ.

Không khí trước ghế đối diện bàn cờ đặc lại. Bóng một người đàn ông ngồi dần hiện ra trên ghế gỗ trống. Áo nâu thợ, vạt rách ở gấu. Mặt dài, râu thưa, mắt trũng. Hai bàn tay đặt trên đầu gối. Không còn ngón cái. Cổ tay hằn dấu dây thừng cũ, da hồn mờ đúng chỗ từng bị trói.

Đôi nhìn đống quân xương, rồi nhìn ba sợi chỉ đỏ.

- Các anh xuống trễ hơn tui nghĩ một chút. Mà cũng đủ.

Giọng ông khàn, như đá cọ đá trong họng khô.

Phan Khanh đứng thẳng, tay vẫn gần nơi gài dao nhưng không rút.

- Ông giữ ba người dưới đó?

- Tui không giữ. Bàn giữ.

Đôi giơ hai bàn tay cụt ngón lên gần ánh đèn. Xương cụt ló mờ trong lớp hồn.

- Ba người tê phá lớp vôi niêm trên tấm đá ngoài. Bàn thức. Nó bày thêm chỗ ngoài biên. Ba quân trắng ở đó là chỗ chờ, không thay quân nào trên bàn. Họ chưa thành quân. Chỉ bị buộc hơi thở.

Quang nuốt lời, vẫn không nhịn được:

- Ai nhốt các ông năm ấy? Trong hồ sơ chỉ ghi mất tích sau đợt tu bổ nền. Có phải quan giám công...

Đôi lắc đầu.

- Tụi tui xây xong khoảng hầm. Có lệnh truyền xuống bảo vào nhận công. Cửa đá khép. Vôi và nước đổ từ trên. Trước khi tắt thở, từng đốt ngón cái bị lấy làm quân. Ai ban lệnh cuối... bàn cắt sạch. Tui nhớ đau. Nhớ lạnh. Không nhớ mặt.

Khánh nhìn lớp tro xương trám sông cờ. Hắn hiểu đủ để sợ. Không cần thêm chi tiết lịch sử bịa thêm.

- Ba người dưới khoang. Làm sao gỡ? Luật của bàn ni là chi?

Đôi chưa kịp trả lời. Sáu ngọn đèn dầu đồng loạt nghiêng về phía chiếc ghế trống đối diện, dù trong hầm không có gió. Bụi vôi rơi từ trần, bám trắng vai áo ba người.

Từ mặt gỗ trắc vọng lên giọng người đàn ông áo đen, lạnh và rõ như nói sát vành tai Khánh:

- Ngồi xuống đi, Tích. Ta muốn xem lần này ngươi cứu quân nào.

Khánh siết khánh đồng trong lòng bàn tay.

- Tui tên Khánh.

Chương khác

Xem thêm