TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 7: Chương 007: Mảnh giấy ướt
Mưa phùn xứ Huế vào những ngày cuối năm luôn mang theo cái lạnh buốt da buốt thịt. Những hạt mưa li ti như sương muối bay lất phất qua những kẽ lá, bám…
Nội dung chương
Mưa phùn xứ Huế vào những ngày cuối năm luôn mang theo cái lạnh buốt da buốt thịt. Những hạt mưa li ti như sương muối bay lất phất qua những kẽ lá, bám vào những bức tường rêu phong của khu Gia Hội. Đêm ngày mười sáu tháng Hai năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu, tức ngày hai mươi chín tháng Chạp năm Ất Tỵ, tiệm Vong Ký chìm trong bóng tối tịch mịch. Khánh nằm co quắp trên chiếc phản gỗ kê ở gian giữa, đắp chiếc chăn chiên cũ kỹ đã sờn rách hai bên mép. Hắn cố trùm chăn kín đầu để chặn đứng những âm thanh rầm rì u uất từ dưới kho vọng lên nhưng vô ích.
Tiếng ngân đồng thau u u u cứ đều đặn vang lên, lúc trầm lúc bổng, mang theo hơi lạnh buốt của nước sông Hương mùa lụt. Nó không phải là một bài hát rõ lời, mà giống như tiếng ai oán từ dưới lòng đất sâu vọng lên, len lỏi qua những thớ gỗ của sàn nhà rồi xoáy thẳng vào tai hắn. Mỗi lần âm thanh đó hạ thấp xuống, Khánh lại cảm thấy da gà trên cánh tay mình dựng đứng lên. Hắn tự hỏi không biết thằng Bồi ở gian bên cạnh có nghe thấy gì không. Thằng bé có khả năng nghe được những âm thanh bất thường, chắc chắn nó còn phải chịu đựng nhiều hơn hắn. Khánh thở dài, xoay người trên chiếc phản gỗ kêu lên những tiếng cót két khô khốc. Hắn cố nghĩ về số tiền ba mươi triệu đồng đã đưa cho Bảy Sẹo để phân tán sự chú ý, nhưng cái lạnh lẽo từ góc nhà sau vẫn cứ bám lấy hắn không buông.
Gần ba giờ sáng, tiếng hát mới chịu dứt hẳn, trả lại sự im lặng tịch mịch cho căn tiệm cổ kính. Khánh mệt mỏi thiếp đi được vài tiếng đồng hồ trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê.
Khi ánh sáng ban mai xám xịt của ngày mưa phùn hắt qua khe cửa gỗ, Khánh mới uể oải ngồi dậy. Đầu hắn đau như búa bổ, hai mắt cay xè vì thiếu ngủ. Bước ra gian ngoài, hắn giật mình khi thấy thằng Bồi đã ngồi bó gối ở bậc cầu thang dẫn xuống kho từ lúc nào. Thằng bé mặc chiếc áo khoác nỉ cũ rộng thùng sình của Ông Tư cho, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, gương mặt nhỏ nhắn tái nhợt không còn một giọt máu. Đôi mắt nó thâm quầng, nhìn trân trân xuống nền đất nện ẩm ướt của gian kho dưới nhà.
Khánh đi tới, gõ nhẹ vào đầu thằng bé một cái để nó tỉnh táo lại. Hắn cằn nhằn:
- Mi ngồi đây làm chi từ sáng sớm rứa? Muốn làm ma đói hay răng mà mặt mày xanh lè xanh lét như tàu lá chuối rứa kia?
Bồi ngước mắt nhìn Khánh, đôi môi nó run rẩy.
- Eng Khánh ơi.
Giọng nó nhỏ như tiếng muỗi kêu.
- Đêm qua con nghe tiếng cô ấy hát rõ lắm. Cô ấy không ở trong tủ nữa, cô ấy đứng ngay dưới chân cầu thang ni này. Cô ấy cứ nhìn lên phòng tụi mình rồi hát.
Khánh nghe vậy thì sống lưng lạnh toát, nhưng ngoài mặt vẫn cố tỏ ra cứng cỏi để thằng bé không hoảng sợ thêm. Hắn cúi xuống, nắm lấy hai bả vai gầy guộc của thằng bé, bắt nó nhìn thẳng vào mắt mình.
- Tau nói cho mi biết nghe Bồi.
Giọng hắn nghiêm khắc.
- Từ chừ trở đi, khi không có tau hoặc chú Tư ở nhà, mi tuyệt đối không được tự ý đi xuống kho, cũng không được lại gần cái gương nớ. Nghe rõ chưa? Mi mà không nghe lời, có chuyện chi xảy ra là tau không cứu được mi đâu.
Bồi gật đầu lia lịa, hai tay vẫn ôm chặt lấy đầu gối. Khánh thở dài, bảo nó lên nhà trên ăn gói xôi khúc hắn mua từ chiều qua để trên bàn, còn mình thì chuẩn bị xuống kho kiểm tra tình hình chiếc gương đồng.
Khánh đi xuống gian sau, lấy cây đèn dầu trên bàn thờ phụ rồi châm lửa. Ngọn lửa vàng vọt khẽ chao đảo khi có luồng gió lạnh thổi qua khe cửa. Cánh cửa gỗ dẫn xuống kho niêm phong dưới tiệm Vong Ký nặng trịch, mỗi lần đẩy ra lại phát ra tiếng kêu kèn kẹt khô khốc nghe rất buốt tai. Khánh từng bước đi xuống cầu thang gỗ. Dưới kho, mùi ẩm mốc của những món đồ cổ lâu năm quyện với mùi đất ẩm tạo nên một bầu không khí ngạt thở. Tiếng mưa ngoài trời gõ lộp bộp trên mái tôn phía sau nhà nghe như tiếng gõ nhịp đều đặn của một kẻ vô hình nào đó.
Khánh đi tới trước chiếc tủ gỗ thường đặt ở góc tối của căn kho. Đây là nơi hắn đã cất chiếc gương đồng thau của Bảy Sẹo ngày hôm qua. Hắn tra chìa khóa vào ổ, xoay một vòng nghe tiếng cạch giòn giã rồi kéo cánh cửa tủ ra. Chiếc gương vẫn nằm im lìm trên bọc vải đen dính đất đỏ như cũ. Tuy nhiên, điều làm Khánh sửng sốt là, dù trần nhà rường và bốn bức vách xung quanh đều khô ráo hoàn toàn, bề mặt chiếc gương đồng thau lại đọng một lớp nước mỏng, mờ đục như sương muối.
Khánh đưa ngón tay chạm nhẹ vào mặt gương để kiểm tra. Cảm giác lạnh buốt lập tiếp truyền từ đầu ngón tay chạy thẳng lên dọc sống lưng, làm hắn khẽ rùng mình. Hắn rút tay lại, lấy vạt áo len của mình lau qua lớp nước đọng trên mặt gương. Lớp nước vừa được lau sạch thì ngay lập tức, từ lòng đồng thau xám xịt lại rịn ra những hạt nước nhỏ li ti khác. Chúng nhanh chóng kết tụ lại thành những giọt lớn hơn rồi chảy tràn xuống bọc vải đen bên dưới, để lại những vệt nước dài trên mặt gương đồng.
Khánh đưa mắt nhìn sâu vào lòng gương. Dưới ánh sáng vàng vọt của cây đèn dầu, mặt gương phản chiếu rõ ràng từng chi tiết của căn kho sau lưng hắn. Hắn thấy chiếc kệ gỗ cũ kỹ xếp đầy những chiếc bình gốm bám bụi, thấy những chiếc hòm gỗ xếp chồng lên nhau ở góc tường, thấy cả những tia sáng nhỏ nhoi hắt ra từ ngọn lửa đèn dầu đang chao đảo. Thế nhưng, tuyệt đối không có hình bóng của Khánh hiện lên trong gương. Khoảng không gian nơi hắn đang đứng hoàn toàn trống rỗng, như thể hắn chưa từng tồn tại ở đó. Khánh nheo mắt nhìn kỹ một lần nữa, nhưng mặt gương vẫn kiên quyết chối bỏ sự hiện diện của hắn.
Ngay bên cạnh chiếc tủ thường là một ngăn tủ gỗ dày, không hề được đánh số thứ tự như những ngăn tủ khác trong kho. Ngăn tủ này có kích thước nhỏ hơn, được đóng bằng loại gỗ kiền kiền đen bóng, các đường vân gỗ uốn lượn như những sợi chỉ đen đan xen vào nhau. Bên ngoài ngăn tủ được trang bị hai ổ khóa khác kiểu. Một ổ khóa đồng kiểu cổ có khắc hoa văn mây nước đã rỉ xanh mét, ổ còn lại là loại khóa sắt hiện đại hiệu Việt Tiệp sáng loáng. Ông Tư chưa bao giờ đưa chìa khóa hai ổ này cho Khánh, cũng chưa từng nhắc đến những thứ được cất giữ bên trong ngăn tủ này.
Khánh tiến lại gần ngăn tủ gỗ kiền kiền. Hắn để ý thấy từ khe hở nhỏ ở mép cánh cửa tủ, một mảnh giấy vàng mã mềm nhũn, ướt sũng đang thò ra ngoài một nửa. Nét mực đen trên mảnh giấy đã bị nước làm nhòe nhoẹt, để lại một vệt dài ngoằn ngoèo không rõ hình thù gì. Khánh đưa tay lên gãi đầu, trong lòng dấy lên sự tò mò tột độ. Làm sao một mảnh giấy ướt lại có thể thò ra từ một ngăn tủ được khóa chặt bằng hai lớp khóa như thế này?
Hắn thử lục lọi trong chùm chìa khóa Ông Tư để lại trên bàn thờ phụ, tìm những chiếc chìa có kích thước tương đồng để thử mở khóa. Hắn tra chiếc chìa đồng nhỏ vào ổ khóa cổ nhưng không vừa, chiếc chìa sắt hiện đại cũng không thể đút lọt vào ổ khóa Việt Tiệp kia. Khánh cằn nhằn một mình:
- Ông Tư giấu kỹ quá, không biết cất chìa khóa ở mô rồi.
Hắn thử lay mạnh cánh cửa tủ nhưng nó vẫn im lìm, chắc chắn như bàn thạch. Không thể mở được tủ, Khánh đành quay lại xử lý mảnh giấy vàng mã đang thò ra ngoài. Hắn dùng hai đầu ngón tay, cẩn thận kẹp lấy mép mảnh giấy rồi từ từ rút ra. Mảnh giấy ướt sũng, mỏng manh đến mức hắn phải nín thở vì sợ chỉ cần mạnh tay một chút là nó sẽ rách nát ngay lập tức. Khi mảnh giấy hoàn toàn được rút ra khỏi khe tủ, một mùi hương kỳ lạ lập tức tỏa ra trong không gian chật hẹp của căn kho.
Mùi hương này rất đặc trưng. Nó không phải mùi nước mưa thanh sạch của những cơn mưa đầu mùa, cũng không phải mùi nước máy nồng nồng clo thường ngày. Đó là một mùi nước lợ tanh tao, nồng đượm mùi bùn non và rong rêu thối rữa dưới đáy sông sâu. Mùi vị này làm Khánh cảm thấy ngột ngạt, lồng ngực hắn như bị đè nặng bởi một áp lực vô hình.
Thằng Bồi lúc này đã lén đi xuống cầu thang gỗ từ lúc nào mà Khánh không hay biết. Nó đứng nép sau lưng Khánh, mũi khẽ hít hà cái mùi vị đang lan tỏa trong không khí. Nó khẽ kêu lên, giọng đầy ngạc nhiên:
- Eng Khánh ơi.
Thằng bé gọi giật giọng.
- Mùi ni giống mùi nước ở đầm Cầu Hai quê con lắm nờ. Mỗi lần nước lụt lên, bùn non tràn vào nhà là có cái mùi y hệt rứa ni đó eng.
Khánh quay lại nhìn thằng bé, nhíu mày hỏi:
- Mi chắc không Bồi? Nước đầm lợ có mùi khác nước sông Hương răng được?
- Con sống ở Làng Chuồn từ nhỏ nên con rành cái mùi ni lắm.
Bồi gật đầu khẳng định.
- Nước lợ ở đầm phá hắn có mùi tanh tao của rong đen với bùn non, không giống nước sông ngọt bình thường đâu eng nờ. Mảnh giấy ni chắc chắn là bị ngâm dưới nước đầm phá rồi mới đem cất vô đây.
Khánh im lặng, đưa mảnh giấy lên gần mũi ngửi lại một lần nữa. Lời thằng Bồi nói làm hắn phải suy nghĩ. Tại sao một mảnh giấy mang mùi nước đầm phá lại xuất hiện trong ngăn tủ khóa hai lớp của Ông Tư ở phố Bao Vinh này?
Đúng lúc đó, tiếng ngân đồng thau từ chiếc gương bên cạnh bỗng nhiên thay đổi tần số. Âm thanh u u u của đêm qua biến mất, thay vào đó là một tiếng động trầm đục, ngắt quãng nghe như tiếng gõ nhịp. Thằng Bồi đột ngột đứng sững lại, hai tai nó vểnh lên hướng về phía chiếc gương. Đôi mắt nó mở to, đờ đẫn nhìn vào khoảng trống tối đen ở trung tâm mặt gương đồng.
Giọng thằng Bồi cất lên, đều đặn và lạnh lẽo theo một nhịp điệu vô hình:
- Một... hai... ba... bốn...
Khánh giật mình, nắm lấy vai thằng bé lay mạnh:
- Bồi! Mi đếm cái chi rứa? Tỉnh lại mau!
Nhưng thằng Bồi có vẻ không nghe thấy tiếng Khánh gọi. Nó vẫn tiếp tục đếm với tông giọng phẳng lặng như một cỗ máy:
- ...mười lăm... mười sáu... mười bảy.
Đến con số mười bảy, giọng thằng Bồi đột ngột dừng lại. Không gian dưới kho lập tức rơi vào sự im lặng tịch mịch, chỉ còn tiếng mưa rơi lộp bộp bên ngoài mái tôn. Thằng Bồi khẽ chớp mắt, gương mặt ngơ ngác nhìn Khánh như không biết mình vừa làm gì. Khánh cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Con số mười bảy này làm hắn nhớ đến một chi tiết nhỏ trên chiếc gương đồng thau.
Hôm qua, khi lau chùi lớp bụi đất đỏ bám trên mặt gương, Khánh có lật mặt sau của nó lên xem. Ở phần lưng gương bằng đồng thau xù xì, hắn có thấy một dòng chữ Hán khắc rất mờ, bên cạnh có một ký hiệu nhỏ trông giống như số mười bảy viết theo kiểu cổ. Lúc đó hắn không để ý lắm vì bận đối phó với Bảy Sẹo, nhưng giờ đây con số mười bảy lại xuất hiện qua giọng đếm của thằng Bồi. Hắn tự hỏi hai thứ này có liên quan gì đến nhau.
Khánh lấy từ trong túi quần ra một cái phong bì thư màu trắng bằng giấy dày mà hắn thường dùng để đựng hóa đơn tiệm. Hắn cẩn thận đặt mảnh giấy vàng mã ướt sũng vào bên trong phong bì để tránh làm nó rách nát. Hắn lấy cây bút bi giắt trên túi áo, ghi rõ ngày tháng tìm thấy mảnh giấy lên mép phong bì: "16/02/2026 - Ngăn tủ không số". Hắn không vứt mảnh giấy đi, bản năng mách bảo hắn rằng đây là một manh mối quan trọng liên quan đến món nợ của Bảy Sẹo và những bí mật mà Ông Tư đang giấu kín.
Hắn cất phong bì vào túi áo khoác, quay sang vỗ vai thằng Bồi:
- Thôi, đi lên nhà trên. Dưới ni lạnh quá, ở lâu lại cảm lạnh thì khổ. Để tau lên nấu ấm nước chè xanh uống cho ấm người.
Bồi gật đầu, đi trước Khánh vài bước để lên cầu thang. Khánh đi sau, tay cầm cây đèn dầu soi đường. Nhưng ngay khi hắn vừa quay lưng đi được hai bước, thằng Bồi đứng ở bậc cầu thang phía trên bỗng hét lên một tiếng thất thanh:
- Eng Khánh! Nhìn kìa! Có người trong gương!
Khánh giật nảy mình, lập tức quay ngoắt người lại, hướng cây đèn dầu về phía chiếc tủ gỗ thường. Mặt gương đồng thau vẫn nằm im lìm trên bọc vải đen. Hắn đi nhanh tới gần, rọi đèn sát vào mặt gương để quan sát kỹ hơn. Tuy nhiên, tất cả những gì hắn thấy chỉ là hình ảnh phản chiếu mờ ảo của căn kho sau lưng hắn với cây đèn dầu trên tay và gương mặt hốt hoảng của thằng Bồi phía sau. Tuyệt đối không có hình bóng của Khánh hiện lên trong gương, và cũng chẳng có bóng người nào khác.
Khánh quay lại nhìn thằng Bồi, giọng hơi gắt vì giật mình:
- Mi nhìn quầng rồi Bồi ơi. Làm chi có ai trong gương. Đêm qua mất ngủ nên mắt mũi mi kèm nhèm đó thôi. Đi lên nhà mau!
Nhưng thằng Bồi vẫn đứng chôn chân tại chỗ, mặt mày cắt không còn giọt máu. Nó run rẩy chỉ tay vào chiếc gương, giọng nói đứt quãng:
- Con thề là con thấy rõ lắm eng nờ. Chẳng phải bóng của tụi mình đâu. Trong gương hiện ra một cái hành lang bằng đá xám xịt, sâu hun hút như đường hầm dưới lăng mộ rứa. Rồi có bóng một người đàn bà mặc áo dài trắng đang quỳ sụp xuống đất, đầu tóc rũ rượi hướng về phía tụi mình. Cô ấy vừa biến mất khi eng quay lại đó.
Khánh nghe thằng Bồi tả chi tiết như vậy thì lòng cũng dấy lên sự nghi hoặc, nhưng hắn không muốn làm thằng bé hoảng sợ thêm nên đành xua tay:
- Thôi thôi, đi lên nhà. Đừng có đứng dưới ni mà nói bậy bạ. Lên uống nước chè cho tỉnh táo rồi tính tiếp.
Hắn đẩy thằng Bồi đi lên cầu thang, sau đó khóa chặt cửa dẫn xuống kho lại. Hơi ấm của gian nhà trên làm Khánh đỡ run hơn một chút. Hắn đi vào bếp nhóm lửa nấu nước, tay vẫn đút trong túi áo khoác chạm vào chiếc phong bì giấy dày.
Khi nước bắt đầu reo vui trên bếp lò, Khánh rút chiếc phong bì màu trắng ra để kiểm tra xem nước từ mảnh giấy vàng bên trong có thấm ra ngoài làm hỏng túi áo hắn không. Hắn đưa phong bì lên dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu ở gian giữa.
Một cảnh tượng kỳ lạ đập vào mắt Khánh. Trên bề mặt giấy trắng tinh của phong bì, phần nước thấm từ mảnh giấy vàng bên trong đang tự loang ra thành những vệt màu nâu nhạt. Những vệt nước này không loang rộng ra thành hình tròn như bình thường, mà tự uốn lượn. Kết nối với nhau tạo thành một đường nét mềm mại, dài ngoằn ngoèo trông giống hệt như một mái tóc dài của phụ nữ đang rũ xuống.
Khánh sửng sốt nhìn chằm chằm vào vết nước loang. Hắn định đưa ngón tay lên chạm thử xem có còn ướt không, nhưng ngay trước mắt hắn, vết nước loang hình mái tóc đó bỗng nhiên khô ráo hoàn toàn trong nháy mắt. Mặt giấy phong bì trở lại khô ráo, phẳng phiu như chưa từng bị thấm nước, chỉ để lại một vệt màu nâu nhạt hình mái tóc in hằn trên thớ giấy.