TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 76: Chương 076: Nén Nhang Không Đứng

Ông Tư chống gậy chắn ngay lối xuống kho. Ánh đèn dầu từ quầy sau hắt lên mặt ông những vệt vàng sẫm, hốc mắt lõm sâu hơn sau một đêm không ngủ. - Bồi,…

Nội dung chương

Ông Tư chống gậy chắn ngay lối xuống kho. Ánh đèn dầu từ quầy sau hắt lên mặt ông những vệt vàng sẫm, hốc mắt lõm sâu hơn sau một đêm không ngủ.

- Bồi, mi lên nhà trên. Ngồi canh bếp lửa cho o Bảy. Dưới ni chẳng phải chỗ con nít.

Bồi lí nhí dạ rồi lủi nhanh lên cầu thang gỗ, đôi dép nhựa kêu lẹp bẹp. Ông Tư quay sang Quang đang ôm xấp giấy tờ ố vàng đứng cạnh cửa kho.

- Đưa danh sách thợ đá đây. Đối chiếu đủ ba mươi mốt tên chưa?

- Đủ rồi.

Quang đặt tập tài liệu xuống bàn, ngón tay dính vết mực photocopy.

- Gia phả làng Mỹ Xuyên với sổ công dịch năm Thiệu Trị đều gạch cùng ba mươi mốt người, không dư thiếu. Nhưng tên Nguyễn Văn Đôi đứng đầu danh sách, không có ghi chú gì về việc ông ấy làm thợ trưởng.

Khánh ngồi trên ghế đẩu, tay phải băng trắng, đầu ngón cái vẫn còn dấu tro đen ăn sâu vào đường chỉ. Hắn nhìn ba lớp vải vàng bọc bàn cờ đặt trên mặt bàn gỗ, rồi nhìn Ông Tư.

- Tay tui run rứa ni, niêm răng được. Ông làm giùm tui một lần đi. Chứ tui vẽ lệch một nét là coi như...

- Không.

Ông Tư gõ mạnh đầu gậy xuống nền gạch ẩm. Giọng khàn mà cứng như sắt nguội.

- Mi tự tay bẻ quân Tướng, tự tay phá nút buộc dưới hầm. Phần ô uế còn lại trên bàn, mi không khóa thì ai khóa? Muốn ba mươi mốt vong thợ phụ quấn lấy mi cả đời à? Người của tiệm Vong Ký làm ra chuyện thì tự dọn.

Khánh nuốt một ngụm nước bọt. Hắn biết tính ông già, một khi đã nghiêm giọng thì có năn nỉ gãy lưỡi cũng vô ích. Hắn kéo ghế lại gần bàn, hít một hơi sâu.

Bọc vải vàng được mở ra. Bàn cờ gỗ trắc nằm im, chín đường dọc mười đường ngang còn nguyên, ba mươi mốt quân xương đã được tách riêng theo tên từ hôm trước. Ba mươi hai ô trên mặt gỗ đều rịn ra thứ nước đen sệt, tanh mùi bùn sông và sắt rỉ. Riêng vị trí quân Tướng đỏ không còn quân cờ nào, chỉ để lại một lỗ cháy đen hình ngón tay cái, khuyết sâu xuống mặt gỗ.

Ông Tư lẳng lặng bày bốn thứ lên góc bàn. Một bó nhang đen ủ trong hũ sành bốn mươi chín ngày, mùi hắc khô. Một xấp giấy vàng chưa vẽ bùa. Một chén nước sông Hương múc lúc rạng sáng, lạnh ngắt. Một đĩa mực son đỏ chói.

Ông cầm cây kim châm đồng, nắm lấy ngón tay cái đã băng của Khánh, chọc nhẹ qua lớp gạc. Một giọt máu tươi rơi vào đĩa mực son, sủi lên vài bong bóng nhỏ rồi chuyển sang màu đỏ sậm như huyết dụ.

- Cần chi phức tạp rứa. Gõ khánh đồng một tiếng rồi dán bùa là xong. Hồi trước tui thấy ông làm nhanh lắm.

Khánh lầm bầm, tay kia thò ra định cầm chiếc khánh đồng nhỏ đặt cạnh.

- Ngu.

Ông Tư nạt khẽ:

- Khánh đồng để giữ nhịp cho hồn khỏi tán khi mi vẽ bùa. Không có tên thật của vong, không có máu của kẻ phá trận làm mỏ neo thì bùa chỉ là giấy lộn. Viết đi.

Khánh nhúng bút vào đĩa mực son pha máu, tay run bần bật đến mức đầu bút lông chấm ra ngoài mép đĩa. Quang trải tờ danh sách ba mươi mốt người ngay dưới ánh đèn, từng tên ghi rõ họ, quê quán và vị trí quân cờ tương ứng.

- Đọc từng tên.

Ông Tư ra lệnh:

- Mỗi tên đúng, một quân xương sẽ nguội. Chỗ Nguyễn Văn Đôi để trống. Ghi lại tên người đã tan là hành vi chiếm giữ ký ức giả, Vong Ký trắng không cho phép.

Khánh đọc tên đầu tiên - một người thợ họ Lê, quê Hương Trà, quân Tốt đen. Tiếng hắn vừa dứt, quân xương tương ứng tối màu, lớp nước đen quanh ô cờ rút xuống như bị thấm ngược vào gỗ. Hắn đọc tiếp. Mỗi tên đọc lên, một quân nguội đi.

Đến tên người thợ thứ bảy, một ông già quê Mỹ Xuyên, chữ "Lợi" có nét móc cuối. Khánh viết, đầu bút lông run lên, nét móc cuối hất thiếu nửa phân. Tờ giấy vàng chưa kịp áp xuống bàn đã bốc khói đen. Nước từ các ô cờ đồng loạt dâng lên, tràn qua mép bàn, lạnh buốt. Khánh mất cảm giác ở ngón cái ngay lập tức, như thể có ai cắt đứt dây thần kinh trong tích tắc.

Ông Tư dùng gậy gạt tờ bùa hỏng ra khỏi bàn, giọng sắc:

- Sai một nét. Làm lại.

Khánh nghiến răng, rút tay về day day ngón cái tê dại. Hắn lấy tờ giấy vàng mới, nhắm mắt một lúc cho nhịp thở đều lại.

Lần thứ hai, hắn giữ đúng chữ, nét mực son thẳng và đủ. Nhưng khi cắm nhang lên bàn, nén nhang nghiêng. Khói tỏa ra loạn hướng, không thành cột đứng. Nhang ủ bốn mươi chín ngày cháy nhanh gấp đôi bình thường. Ông Tư không làm thay, chỉ dùng đầu gậy chỉ vào chén nước sông đặt trên góc bàn.

- Hơi thở mi rối. Ngồi xuống. Nghe cho hết từng giọt nước rơi rồi làm tiếp.

Khánh ngồi bệt xuống ghế. Trong kho chỉ còn tiếng nước rỉ từ mặt bàn, chậm, đều, lạnh. Hắn nhắm mắt, đếm từng giọt một. Một. Hai. Ba. Nhịp tim giảm dần. Hơi thở chậm lại.

Bồi đứng trên cầu thang gỗ, không dám bước xuống nhưng áp tai vào vách. Nó nói vọng xuống, giọng hơi run:

- Eng Khánh, con nghe đủ ba mươi mốt giọng vẫn còn trong bàn, đang đọc tên mình theo eng. Không có giọng chú Đôi, cũng không lẫn thêm giọng lạ nào hết.

Khánh mở mắt. Hắn không trả lời Bồi, chỉ cầm lấy tờ giấy vàng thứ ba.

Lần này, hắn viết chậm từng nét. Mỗi tên một hơi thở ra. Mực son pha máu dính đều đầu bút. Sau khi viết xong ba mươi mốt tên, hắn đặt bút xuống, dùng chính ngón tay cái đang tê liệt ấn vào góc giấy. Cảm giác lạnh từ đầu ngón tay biến mất, thay bằng cơn nóng rát như thể da vừa chạm lửa.

Hắn rút một nén nhang ủ, châm lửa, cắm vào khe giữa bàn - đúng vị trí ô Tướng trống. Nhang đứng thẳng. Khói lên thành cột mảnh, không lay.

Khánh cầm khánh đồng lên, gõ một tiếng. Tiếng đồng ngân trong không khí ẩm, sắc và sạch. Mép giấy vàng rực lên một vòng son mỏng, rồi tắt.

Hắn thở ra, hai tay chống xuống bàn. Bùa đã dán. Các quân xương nằm im, không cử động.

- Được rồi. Đưa vô tủ.

Ông Tư gõ gậy ra hiệu về phía tủ số bốn.

Khánh cùng Quang nhấc bàn cờ đã bọc lại vào ngăn tủ gỗ trắc. Cánh cửa khép lại, Khánh áp tờ bùa vừa viết lên mặt tủ. Mép giấy ẩm, mực son chưa khô hẳn.

Ông Tư nhìn mép giấy, giọng không vui:

- Niêm tạm thôi. Mép giấy còn ẩm là nước đen chưa chịu rút hết. Mỗi đêm phải kiểm tra, thắp một nén nhang trước tủ. Quên một đêm là niêm tự bung.

Khánh vừa buông tay khỏi cánh cửa tủ thì một dòng máu nóng hổi từ mũi chảy xuống môi. Hắn vội quẹt tay, ngón tay cái vẫn tê liệt như khúc gỗ. Đầu óc nặng trịch, trong tai văng vẳng tiếng quân cờ gõ "cạch" đều đặn từ phía tủ - hoặc từ trong chính đầu hắn, hắn không phân biệt nổi.

Ông Tư mở Vong Ký trắng, chấm bút lông ghi cẩn thận: *Ngày hai mươi tháng Tư năm Bính Ngọ. Nguyễn Vĩnh Khánh tự niêm bàn cờ gỗ trắc. Trả giá: mất cảm giác ngón cái tay phải, khí huyết hao tổn dẫn đến thổ huyết nhẹ. Niêm phong tạm thời thành công.*

- Ông ghi chi kỹ rứa. Làm như tui sắp chết tới nơi không bằng.

Khánh lau vệt máu mũi dính trên cằm.

- Để mi nhớ cái giá của việc làm liều.

Ông Tư đóng sầm quyển sổ.

- Người trông coi tiệm Vong Ký không phải kẻ ban ơn. Mi cứu ba mươi mốt người, nhưng cũng để mất một người. Đó không phải chiến thắng.

Quang nhìn vào trang sổ vừa đóng, khẽ thở dài:

- Ba mươi mốt tên đã ổn định. Họ không còn bị mực đen kéo khỏi quân, nhưng chưa được trả tự do. Còn dòng của Nguyễn Văn Đôi... chỉ là một vết lõm không có mực. Sổ trắng không nhận tên người đã tan.

Khánh im lặng. Hắn cúi nhìn ngón tay cái của mình - vệt tro đen vẫn còn nguyên.

Bồi từ cầu thang bước xuống vài bậc, rụt rè kéo góc áo khoác của Khánh:

- Eng Khánh... lúc ở dưới hầm, con nghe lão áo đen gọi eng là Tích. Tích là ai rứa eng? Răng lão lại gọi eng bằng cái tên lạ hoắc nớ?

Khánh quay mặt đi, tránh ánh mắt thằng bé. Hắn cố giữ giọng bình thản:

- Lão quỷ đó nói sàm để làm rối đầu tau thôi. Mi đừng có nghe bậy. Trách nhiệm của mi là lo học hành, với tránh xa cái tủ số bốn ra.

Nói rồi, Khánh uể oải bước lên cầu thang. Hắn cần một giấc ngủ, dù biết đêm nay sẽ không thể ngủ được. Tiếng quân cờ gõ vẫn đều đặn trong đầu như máy đếm nhịp.

Quang và Ông Tư cũng lần lượt rời kho. Ngọn đèn dầu trên bàn cháy leo lét, để lại căn phòng dưới gầm nhà rường chỉ còn mùi nhang tàn và hơi ẩm lạnh.

Khánh trằn trọc suốt mấy tiếng. Có cố nhắm mắt thì tiếng "cạch" vẫn vang lên đúng nhịp, như thể có người đang đánh một ván cờ một mình ngay dưới sàn. Hắn ngồi dậy, nhìn ra cửa sổ. Trăng thượng tuần mờ sau lớp mây mỏng. Sông Hương ngoài ngõ lặng tờ.

Không chịu được, hắn lần xuống quầy sau. Đèn điện vẫn tắt, chỉ còn ánh đèn dầu hắt ra từ khe cửa kho. Hắn định kiểm tra tủ số bốn như Ông Tư dặn thì thấy một bóng nhỏ ngồi co ro ngay trước cánh tủ gỗ.

- Bồi!

Khánh quát khẽ:

- Tau đã bảo mi tránh xa cái tủ rồi mà.

Bồi giật mình quay lại. Mặt thằng bé tái nhợt, môi run run. Nó không đứng dậy, chỉ chỉ tay vào cánh tủ gỗ trắc.

- Eng... eng lại đây nghe thử đi.

Khánh bước nhanh tới, định kéo cổ áo Bồi lên, nhưng tay khựng lại giữa chừng. Thằng bé áp tai mình vào khe gỗ, mắt mở to.

- Con nghe thấy... một tiếng đàn ông. Không phải mấy chú thợ. Giọng lạnh lắm, nói từ phía sông Hương.

Nó nuốt nước bọt.

- Nói: "Ta đã tìm đúng người."

Khánh buông tay, đứng im. Trong phút chốc, hắn cũng nghe thấy - không phải qua tai, mà như một luồng lạnh chạy dọc xương sống, vọng lên từ mặt sàn ẩm. Ba tiếng quân cờ gõ liên tiếp, rồi im.

Hắn kéo Bồi đứng dậy, giọng cứng:

- Lên phòng. Ngủ đi. Tau canh.

- Nhưng...

- Lên. Mau.

Bồi lí nhí dạ rồi ôm cầu thang chạy lên. Khánh đứng lại một mình trước tủ số bốn. Hắn không áp tai vào. Hắn nhìn mép bùa giấy vàng vẫn còn ẩm, rồi quay ra cửa sổ nhìn ra mặt sông.

Ngoài ngõ, mặt nước sông Hương vốn phẳng lặng bỗng nổi lên ba vòng xoáy đen. Ba vòng nước nối đuôi nhau, chậm rãi tạo thành hình một con cá dài màu đen, trên mặt nước lấp lánh như mực ướt. Con cá quay đầu, lặng lẽ bơi ngược dòng về phía bờ đất sát hông tiệm Vong Ký, rồi chìm nghỉm vào bóng tối không một tiếng động.

Chương khác

Xem thêm