Trấn Long Huyệt - Chương 10: Ma Đầm
Làng chài ven đầm U Minh có tên là làng Vọng Nguyệt, một cái tên đẹp nhưng cuộc sống ở đây thì không đẹp chút nào. Trực và Hải Đao đến nơi lúc trời đã…
Nội dung chương
Làng chài ven đầm U Minh có tên là làng Vọng Nguyệt, một cái tên đẹp nhưng cuộc sống ở đây thì không đẹp chút nào.
Trực và Hải Đao đến nơi lúc trời đã nhá nhem tối. Làng chỉ có chừng ba chục nóc nhà lụp xụp dọc theo bờ đầm, đa số làm nghề chài lưới. Không có nhà nghỉ, không có quán ăn. Hai người phải gõ cửa từng nhà xin trọ, mãi mới có một gia đình chịu cho thuê gian nhà kho với giá cắt cổ.
- Đắt thế? Hải Đao càu nhàu khi trả tiền. Gian nhà kho rách nát này mà cũng đòi giá khách sạn?
- Thôi, có chỗ ngủ là may rồi. Trực nói. Mai chúng ta vào đầm sớm.
Đêm đó, hai người ăn cơm với gia đình chủ nhà. Chủ nhà là một người đàn ông trung niên tên Bảy, vợ ông ta tên Tư. Trong bữa cơm, Trực khéo léo hỏi về đầm U Minh.
- Chú Bảy này, cháu nghe nói đầm này có... chuyện lạ?
Ông Bảy và bà Tư nhìn nhau, rồi ông Bảy hạ giọng:
- Cậu hỏi về "ma đầm" phải không? Có đấy. Đầm này có ma thật.
Hải Đao bật cười.
- Ma cò gì hả chú? Cháu không tin ma đâu.
- Chú cũng không tin, cho đến khi chú tận mắt thấy. Ông Bảy nói, giọng trầm xuống. Mười năm trước, có một người đàn ông từ thành phố đến, trạc tuổi chú bây giờ, cũng hỏi về đầm như hai cậu. Ông ta thuê thuyền của chú ra "mắt đầm", chỗ nước sâu nhất. Rồi ông ta không bao giờ quay về.
Trực cảm thấy tim mình đập mạnh. Mười năm trước. Người đàn ông từ thành phố. Có phải là cha anh?
- Chú còn nhớ ông ta trông thế nào không?
- Nhớ chứ. Ông ta cao gầy, mắt sâu, lúc nào cũng mang theo một cái la bàn đồng. Lạ lắm, la bàn của ông ta không chỉ hướng bắc như la bàn thường.
Trực và Hải Đao nhìn nhau. La bàn đồng. Không chỉ hướng bắc. Đó chính là cha anh, Lâm Kính.
- Rồi sao nữa chú? Trực hỏi, giọng run run.
- Thì mất tích chứ sao. Tìm mấy ngày không thấy. Người nhà ông ta cũng đến tìm, khóc lóc mấy ngày rồi về. Từ đó, dân làng đồn rằng "ma đầm" bắt ông ta đi. Ông Bảy lắc đầu. Thật ra chú nghĩ ông ta bị lún xuống bùn, đầm này nhiều chỗ bùn lún lắm, sảy chân là mất xác.
- "Ma đầm" là gì vậy chú? Hải Đao hỏi.
Bà Tư, nãy giờ im lặng, bỗng lên tiếng, giọng run run:
- Là những người chết đuối trong đầm, hồn không siêu thoát, cứ lảng vảng trong sương mù. Đêm nào sương dày, người ta cũng nghe thấy tiếng khóc, tiếng gọi tên. Ai mà đáp lại... thì sẽ bị dẫn xuống nước.
- Bà đừng dọa khách. Ông Bảy gạt đi, nhưng giọng ông ta cũng không được tự nhiên. Thôi, ăn cơm đi. Mai hai cậu định vào đầm thì nhớ thuê người dẫn đường, đừng tự đi. Đầm này nguy hiểm lắm.
Bữa cơm kết thúc trong không khí nặng nề. Trực và Hải Đao ra gian nhà kho ngủ. Nằm trên chiếc chiếu rách, Trực không sao ngủ được.
Cha anh đã đến đây mười năm trước. Đã thuê thuyền của ông Bảy ra "mắt đầm". Và đã không bao giờ quay về.
"Mắt đầm". Đúng là nơi ông Tào vớt được thanh kiếm. Đúng là nơi có tọa độ trong chuôi kiếm chỉ đến.
Mọi manh mối đều hội tụ về một điểm: vũng nước sâu dưới chân núi Hắc Thạch.
- Này chú em, Hải Đao thì thầm trong bóng tối. Mày có nghĩ cha mày... vẫn còn sống không?
Trực im lặng một lúc lâu.
- Tao không biết. Nhưng tao phải tìm ra sự thật. Dù sự thật đó là gì.
Sáng hôm sau, hai người dậy sớm. Ông Bảy giới thiệu cho họ một người thông thạo đầm nhất làng: bà lão mù tên Mù Sáu.
- Sao lại là bà lão mù? Hải Đao thắc mắc. Mù thì dẫn đường kiểu gì?
- Bà ấy mù mắt nhưng không mù đường. Ông Bảy giải thích. Bà sống ở đây bảy mươi năm, nhắm mắt cũng đi được khắp đầm. Với lại, bà ấy có cái "linh cảm" đặc biệt, chỗ nào nguy hiểm là bà biết ngay.
Trực và Hải Đao tìm đến nhà bà Mù Sáu, một túp lều tranh cuối làng. Bà lão ngồi trước cửa, tay lần tràng hạt, mắt nhắm nghiền. Nghe tiếng bước chân, bà ngẩng lên.
- Ai đó?
- Dạ chào bà, chúng cháu từ thành phố đến, muốn hỏi thăm về đầm U Minh ạ. Trực nói.
Bà Mù Sáu nghiêng đầu, như đang "nhìn" anh bằng một giác quan khác.
- Giọng cậu... Bà lẩm bẩm. Giọng cậu nghe quen lắm. Như giọng của một người mà bà từng gặp, lâu lắm rồi.
Trực quỳ xuống trước mặt bà lão.
- Bà ơi, mười năm trước có phải một người tên Lâm Kính đã đến đây không? Ông ấy là cha cháu.
Bàn tay lần tràng hạt của bà Mù Sáu khựng lại.
- Lâm Kính... Bà thì thào. Phải rồi. Ông Lâm Kính. Ông ấy cũng quỳ trước mặt bà như cậu bây giờ, cũng hỏi về đầm. Rồi ông ấy ra "mắt đầm", không bao giờ quay về.
- Bà ơi, cháu muốn biết cha cháu đã thấy gì ở đầm này. Bà có thể kể cho cháu nghe không?
Bà Mù Sáu im lặng một lúc lâu. Rồi bà đưa bàn tay nhăn nheo ra.
- Lại gần đây. Cho bà sờ mặt cậu.
Trực tiến lại gần. Bàn tay thô ráp của bà chạm vào trán anh, rồi di chuyển chậm rãi xuống mắt, mũi, miệng. Bà sờ rất kỹ, rất chậm, như đang đọc một cuốn sách bằng đầu ngón tay.
Khi ngón tay bà chạm đến đôi mắt của anh, bà bỗng run lên bần bật.
Bà rụt tay lại như bị bỏng, giọng thì thào đầy kinh ngạc:
- Mắt cậu... giống hệt ông Lâm Kính.
Trực sững người. Hải Đao đứng bên cạnh cũng nín thở.
- Bà... bà nói gì ạ? Đôi mắt cháu... có gì đặc biệt?
Bà Mù Sáu không trả lời ngay. Bà lần tràng hạt nhanh hơn, miệng lẩm bẩm những câu mà hai người nghe không rõ. Một lúc sau, bà mới nói, giọng trầm xuống:
- Ông Lâm Kính từng nói với bà, mắt của ông ấy nhìn thấy được "khí" của đất trời. Ông ấy bảo dưới đầm này có một luồng khí đen rất lớn, như con quái vật đang ngủ. Cậu... cậu cũng có đôi mắt đó, phải không?
Trực không biết trả lời sao. Bà lão mù này, chỉ bằng cách sờ mặt, đã nhận ra bí mật lớn nhất của đời anh.
- Bà ơi, cháu...
- Đừng nói gì cả. Bà Mù Sáu giơ tay ngăn lại. Bà không cần biết. Bà chỉ cần nói với cậu một điều: cha cậu ra đi từ "mắt đầm", nhưng ông ấy không chết đuối. Bà ngửi thấy... có mùi của kẻ khác trên người ông ấy hôm đó. Mùi của thuốc súng, mùi của kẻ mang vũ khí. Ông ấy không đi một mình. Có kẻ đã đi theo ông ấy.
Trực thấy tim mình thắt lại. Có kẻ đi theo cha anh. Mười năm trước. Những kẻ đi giày lính?
- Bà có thấy mặt kẻ đó không?
- Bà mù, cậu quên à? Bà Mù Sáu cười buồn. Nhưng bà nghe thấy tiếng bước chân của hắn. Nặng, đều, như lính. Và bà nghe thấy ông Lâm Kính nói với hắn một câu, trước khi hai người lên thuyền.
- Câu gì ạ?
Bà Mù Sáu nghiêng đầu, cố nhớ lại.
- Ông ấy nói: "Các người sẽ không bao giờ gom đủ ấn đâu."
Trực đứng bật dậy, làm đổ cả chiếc ghế đẩu.
"Các người sẽ không bao giờ gom đủ ấn đâu."
Đúng là lời của cha anh. Đúng là tinh thần của dòng chữ trong sổ tay: "Đừng để chúng nó gom đủ ấn."
Cha anh, mười năm trước, đã đối mặt với "chúng nó" ngay tại đầm này. Và ông đã không quay về.
- Bà ơi, cháu cảm ơn bà. Trực nói, giọng nghẹn lại. Cháu còn một câu hỏi cuối. "Mắt đầm" ở đâu? Cháu muốn đến đó.
Bà Mù Sáu im lặng rất lâu. Rồi bà thở dài.
- Bà sẽ vẽ đường cho cậu. Nhưng bà nói trước: mười năm trước, "mắt đầm" đã nuốt chửng cha cậu. Bây giờ, nó còn đói hơn xưa. Cậu suy nghĩ kỹ đi.
- Cháu đã suy nghĩ kỹ rồi, thưa bà. Cháu phải đi. Vì cha cháu, và vì... những người sẽ đến sau cháu.
Bà Mù Sáu gật đầu, rồi bà làm một việc khiến cả Trực và Hải Đao đều sững sờ.
Bà đưa tay lên, chạm nhẹ vào trán Trực, như một lời chúc phúc của người già dành cho kẻ ra đi.
- Đi đi, con trai của ông Lâm Kính. Đôi mắt của cậu sẽ dẫn đường cho cậu, như nó đã từng dẫn đường cho cha cậu. Nhưng nhớ kỹ: đừng tin vào những gì mắt cậu thấy trong sương mù. Sương mù ở "mắt đầm"... biết nói dối. Nó sẽ cho cậu thấy những thứ cậu muốn thấy nhất, để dụ cậu đi sai đường.
Nói xong, bà quay vào nhà, đóng cửa lại, bỏ lại hai người đàn ông trẻ tuổi đứng ngẩn ngơ trước túp lều tranh.
Hải Đao nhìn Trực, giọng run run:
- Chú em này... bà ấy vừa nói gì vậy? "Sương mù biết nói dối" là sao?
Trực không trả lời. Anh đang nghĩ về câu nói của cha anh mười năm trước: "Các người sẽ không bao giờ gom đủ ấn đâu."
Cha anh đã biết "chúng nó" là ai. Cha anh đã đối mặt với chúng. Và cha anh đã thua.
Bây giờ, đến lượt anh.
Trực siết chặt quai ba lô, trong đó có thanh đoản kiếm, cuốn sổ tay photo, và chiếc la bàn đồng đen.
Ngày mai, anh sẽ ra "mắt đầm". Ngày mai, anh sẽ tìm cửa đá dưới chân núi Hắc Thạch.
Và anh có linh cảm rằng, những gì chờ đợi anh ở đó, sẽ thay đổi cuộc đời anh mãi mãi, theo cách mà anh chưa thể tưởng tượng được.
---