Trấn Yểm Tô Lịch - Chương 5: Rời Khỏi Công Trường

Tiếng kim loại va đập lách cách bên trong vỏ đồng của chiếc la bàn vẫn dồn dập vang lên từng nhịp chói tai. Tuấn nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng anh…

Nội dung chương

Tiếng kim loại va đập lách cách bên trong vỏ đồng của chiếc la bàn vẫn dồn dập vang lên từng nhịp chói tai.

Tuấn nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng anh khô khốc dù không khí trong căn lán tạm dưới tầng hầm móng đặc quánh hơi ẩm của mưa phùn cuối năm. Anh giơ bàn tay đeo găng bảo hộ lên, dùng đầu ngón cái ấn mạnh vào mặt kính thạch anh của chiếc la bàn gắn trên quai đeo ngực. Mặt kính lạnh ngắt, bên dưới lớp kính mờ đục vì hơi nước xám, cây kim nam châm hình thoi hai màu xanh đỏ vẫn quay tròn điên loạn theo chiều kim đồng hồ, không có dấu hiệu giảm tốc độ. Vệt màu đỏ quét qua mắt anh thành một vòng tròn lập lòe, ma quái.

Tuấn hít một hơi sâu mùi dầu máy hòa lẫn mùi bùn thối rữa của lòng đất sâu mười lăm mét. Là một kỹ sư trắc địa tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Mỏ - Địa chất, từng kinh qua hàng chục công trình cao ốc móng sâu khắp Hà Nội, anh tự tìm cho mình một lời giải thích dựa trên logic khoa học. Cọc sắt Trấn Long Đinh này bị chôn vùi dưới đáy sông Tô Lịch hơn một ngàn năm, chắc chắn cấu tạo của nó chứa hàm lượng quặng sắt từ tính cực cao, hoặc pha tạp một loại hợp kim niken hiếm gặp thời cổ đại. Khi gầu máy xúc của bác Sáu đào trúng và nhấc nó khỏi lớp bùn sét cách ly, khối kim loại này bắt đầu giải phóng từ trường dư thừa ra không gian xung quanh. Từ trường cục bộ quá mạnh làm nhiễu loạn toàn bộ la bàn địa từ thông thường, đó là hiện tượng vật lý hoàn toàn dễ hiểu.

Nghĩ đến đó, ngực Tuấn hơi giãn ra một chút. Nỗi sợ hãi mơ hồ vừa nhen nhóm lại bị lòng tham và sự thực dụng đè bẹp. Càng phát ra từ trường mạnh, thanh cọc sắt này càng chứng minh nó được đúc bằng phương pháp luyện kim cổ đặc biệt mà giới nghiên cứu kim hoàn và đồ cổ săn lùng ráo riết. Giá trị của nó ngoài thị trường chợ đen sẽ không dừng lại ở con số vài trăm triệu, mà có thể lên tới tiền tỷ.

Tuấn nhìn đồng hồ đeo tay. Màn hình điện tử hiển thị 23 giờ 38 phút.

Chỉ mười hai phút nữa là đến giờ đổi ca của đội bảo vệ tuần tra đêm. Đội bảo vệ của nhà thầu chính gồm bốn người, chia làm hai cặp luân phiên đi rà soát toàn bộ hàng rào tôn và lòng hố móng mỗi tiếng một lần. Tuấn hiểu rõ quy định công trường. Bất kỳ kỹ sư hay công nhân nào mang túi xách, ba lô ra khỏi cổng sau 22 giờ đều phải chịu sự kiểm tra gắt gao của bảo vệ cổng chính nhằm ngăn chặn nạn trộm cắp sắt thép xây dựng và cáp đồng.

Tuấn quỳ một chân xuống nền ván gỗ cốp pha ướt sũng. Anh nắm lấy hai quai đeo bản rộng của chiếc ba lô trắc địa Leica.

Khi Tuấn gồng cơ bắp tay và cơ đùi để nhấc chiếc ba lô lên vai, toàn bộ khung xương của anh phát ra tiếng kêu răng rắc. Sức nặng của chiếc túi vải bạt vượt xa mọi ước tính cơ học ban đầu. Nó không còn là trọng lượng của một cọc sắt nặng mười hai cân kết hợp với vài dụng cụ đo đạc thông thường. Chiếc ba lô đè trĩu xuống hai bả vai Tuấn, ép chặt vào lồng ngực khiến anh nghẹt thở trong vài giây. Dây đai an toàn thít sâu vào qua lớp áo khoác gió công trường, kéo gập sống lưng anh xuống một góc ba mươi độ.

Cảm giác kim loại lạnh buốt từ cọc sắt bọc trong mớ giẻ lau dầu bắt đầu ngấm qua lớp đệm mút chống sốc dày ba phân. Hơi lạnh ấy buốt giá một cách bất thường, truyền thẳng qua lớp áo len mỏng bên trong, dán chặt vào các đốt sống lưng của anh. Da thịt Tuấn co rúm lại, dựng tóc gáy.

Anh cắn chặt răng, dùng sức bình sinh đứng thẳng dậy. Chân anh lún sâu xuống lớp bùn nhão dưới chân lán dã chiến.

Tuấn với tay tắt ngọn đèn neon duy nhất treo trên trần lán tạm. Ánh sáng vàng vọt vụt tắt, căn lán lập tức chìm vào bóng tối đặc quánh. Anh kéo sụp vành chiếc mũ bảo hộ màu trắng xuống thấp để che bớt nửa trên khuôn mặt, rồi thò tay kéo phéc-mơ-tuya áo khoác gió lên tận cằm nhằm ngăn những cơn gió lạnh thấu xương đang lùa từ phía lòng sông vào.

Bước ra khỏi lán tạm, Tuấn đặt chân lên hệ thống sàn công tác bằng thép dựng tạm men theo vách taluy hố móng.

Dưới đáy hố sâu mười lăm mét, đại công trường hiện ra như một miệng phễu khổng lồ nuốt trọn màn đêm của thành phố. Dàn đèn cao áp Halogen công suất một nghìn oát gắn trên các cột thép bốn góc công trường chiếu những luồng ánh sáng vàng bệch xuống lòng hố móng, xuyên qua màn mưa phùn dày đặc tạo thành những dải sáng mờ ảo, đục ngầu.

Gió mùa đông bắc cuối năm thổi lồng lộng qua các khoảng trống giữa hai tòa cao ốc lân cận, quét thẳng xuống đáy hố đào. Khi luồng gió mạnh đập vào hàng cừ thép Larsen IV dài mười tám mét cắm thẳng đứng bao quanh chu vi công trình, một chuỗi âm thanh ghê rợn rộ lên. Những rãnh thép lượn sóng hình chữ U của cọc cừ đóng vai trò như những chiếc hộp cộng hưởng khổng lồ. Gió rít qua các khe hẹp giữa các thanh cừ, phát ra tiếng u u rền rĩ, lúc trầm đục như tiếng sấm dưới lòng đất, lúc lại ré lên the thé giống tiếng người phụ nữ gào khóc trong tuyệt vọng.

Tuấn rùng mình, hai bàn tay nắm chặt quai đeo ba lô phía trước ngực. Anh tự nhủ với bản thân bằng kiến thức khí động học: âm thanh đó chỉ là hiện tượng dao động cộng hưởng cơ học khi vận tốc gió vượt quá ba mươi cây số một giờ luồn qua rãnh thép kín. Không có hồn ma bóng quế nào ở đây cả. Mọi thứ chỉ là sự ngẫu nhiên của thời tiết Hà Nội tháng Chạp.

Thế nhưng, bước chân của anh vô thức nhanh hơn.

Để lên được mặt đất tự nhiên ở cao độ 0.00, Tuấn phải leo qua bốn nhịp cầu thang giàn giáo dã chiến dựng sát vách cừ phía đông - vách tiếp giáp trực tiếp với mép nước sông Tô Lịch. Những bậc thang bằng tôn dập lỗ chống trượt phủ kín một lớp bùn trơn tuột trộn lẫn dầu mỡ thải từ các dàn máy khoan cọc nhồi. Mỗi bước chân Tuấn đặt lên bậc thép ướt sũng đều phát ra tiếng "kinh... kinh..." khô khốc, vang vọng vào vách cừ thép lạnh ngắt.

Sức nặng của chiếc ba lô kéo giật anh về phía sau theo từng nhịp bước. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán và sống mũi Tuấn, cay xè hai khóe mắt. Anh phải bám chặt lấy lan can ống tuýp sắt rỉ sét bằng bàn tay run rẩy để giữ thăng bằng.

Khi trèo lên đến chiếu nghỉ của nhịp thang thứ hai, ở độ cao khoảng tám mét so với đáy hố, Tuấn dừng lại lấy hơi. Lồng ngực anh phập phồng dữ dội. Anh vô tình nhìn xuống vị trí hố đào số ba - nơi chỉ một tiếng trước, gầu máy xúc của bác Sáu đã múc trúng Trấn Long Đinh.

Dưới ánh sáng vàng vọt của đèn Halogen, miệng hố bùn đen ngòm vẫn mở toang hoác giữa lòng đáy móng. Kẽ nứt hẹp dài nửa mét từng nuốt trọn làn khói hương của bác Sáu lúc này không hề khép lại. Ngược lại, lớp bùn đen quánh xung quanh miệng hố dường như đang sủi tăm. Từng bọt khí xám đục to bằng nắm tay từ từ trồi lên khỏi mặt nước bùn, vỡ tung ra thành những vòng sóng nhỏ li ti. Mùi tanh nồng nặc của bùn thối, của xác cá phân hủy và mùi tanh của máu loãng từ đáy hố bốc ngược lên theo luồng gió đông bắc, xộc thẳng vào mũi Tuấn.

Anh quay ngoắt mặt đi, nuốt vội búng nước bọt nghẹn ứ nơi cuống họng, tiếp tục dùng hết sức tàn leo nốt hai nhịp thang còn lại.

Đặt chân lên mặt bằng cao độ 0.00, Tuấn bước vội vào lối đi nội bộ dành cho xe cơ giới. Con đường này được trải tạm bằng những tấm thép chống lầy dày hai phân, nối liền khu vực hố móng với cổng phụ công trường mở ra phía đường Nguyễn Khang, men dọc bờ sông Tô Lịch.

Cách lối đi chừng hai mươi mét, chiếc máy xúc Komatsu bánh xích PC450 của bác Sáu đỗ sừng sững trong bóng tối. Gầu xúc khổng lồ của nó hạ sát mặt đất, các răng thép cắm sâu vào đống cát vàng ẩm ướt. Cabin máy xúc đóng kín cửa, tối om không một tia sáng.

Tuấn khựng lại nửa nhịp chân. Anh liếc nhìn chiếc máy xúc cơ giới hạng nặng. Anh tự hỏi bác Sáu đã về lán công nhân ở góc cuối công trường để ngủ, hay lão thợ già vẫn còn ngồi im lìm bên trong cabin ngập tràn mùi thuốc lào để theo dõi anh?

Mặt kính cabin máy xúc phản chiếu lại ánh đèn pha mờ nhạt từ phía đường cái. Trong một giây ngắn ngủi, Tuấn nhìn thấy một cái bóng sẫm màu in hằn sau lớp kính ố bẩn của cabin, dường như có ai đó đang ngồi thẳng lưng, hai tay đặt lên cần điều khiển thủy lực, đôi mắt đục ngầu dán chặt vào chiếc ba lô nặng trĩu trên lưng anh.

Tuấn chớp mắt thật mạnh. Khi anh nhìn lại, lớp kính cabin chỉ còn là tấm kính vô hồn đọng đầy những giọt nước mưa phùn chảy ngoằn ngoèo.

"Lão già mê tín lẩm cẩm ấy chắc chắn đã trùm chăn ngủ say từ lâu rồi," Tuấn lẩm bẩm chửi thề một câu trong miệng để xua đi cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng.

Anh không đi theo trục đường chính giữa công trường vì ở đó hệ thống camera giám sát gắn trên cổng trục tháp vẫn quét liên tục. Tuấn rẽ ngoắt sang bên phải, chọn lối đi tắt luồn lách giữa hai dãy nhà container văn phòng của ban điều hành và bãi tập kết các bó thép cây phi 32. Khu vực này chất đầy cốp pha nhôm hỏng, các cuộn cáp điện cao thế và những thùng phuy rỗng đựng hóa chất phụ gia bê tông, tạo nên vô số góc chết che khuất tầm nhìn.

Vũng bùn dưới chân anh nhão nhoét, trơn như bôi mỡ bò. Lớp đất sét pha cát ven sông Tô Lịch nổi tiếng là loại đất yếu, hễ gặp mưa phùn kéo dài là rã ra thành bùn lỏng quánh đặc. Đôi ủng bảo hộ cao cổ của Tuấn ngập sâu đến nửa bắp chân. Mỗi lần nhấc chân lên, lớp bùn dính chặt lấy đế cao su, phát ra những tiếng "xoẹt... oọc..." nặng nề, dính dớp.

Sức nặng của chiếc ba lô trên lưng mỗi lúc một đè nén tàn nhẫn hơn. Các bó cơ ở hai vai Tuấn nóng rát như bị ai đó áp thanh sắt nung đỏ vào da thịt. Khớp háng và hai đầu gối anh run lên bần bật theo từng bước sải. Điều kỳ quái là thanh cọc sắt dường như không nằm yên một chỗ bên trong lớp giẻ lau. Tuấn cảm nhận rất rõ một sự rung động âm ỉ, một nhịp đập trầm đục truyền qua lớp đệm chống sốc của ba lô Leica, đập nhịp nhàng vào từng đốt xương sống của anh. Nhịp đập ấy chậm rãi, nặng nề, giống hệt như nhịp co bóp của một quả tim khổng lồ nằm sâu trong lòng đất.

Tuấn bước đến gần góc hàng rào tôn giáp ranh với trạm biến áp dã chiến ba pha công suất 560kVA. Đây là nơi đặt cổng phụ của công trường. Cánh cổng bằng sắt hộp đan lưới mắt cáo đã rỉ sét, thường ngày chỉ khép hờ và khóa bằng một sợi xích sắt lỏng lẻo để công nhân ban đêm lẻn ra ngoài mua trà đá hoặc ăn mì tôm.

Cách cổng phụ khoảng mười lăm mét là bốt gác bảo vệ lợp tôn xốp. Qua ô cửa kính mờ sương của bốt gác, Tuấn nhìn thấy ánh đèn tuýp le lói chiếu lên tấm lưng của một nhân viên bảo vệ trẻ tuổi. Người bảo vệ đang gục đầu xuống bàn làm việc, hai tai đeo tai nghe màu trắng, màn hình điện thoại trước mặt vẫn sáng rực ánh đèn của một đoạn video ngắn trên mạng xã hội.

Tuấn nín thở, nép mình vào bóng tối của một khối bê tông đúc sẵn. Anh chỉ cần bước thêm mười bước chân nữa là có thể chạm tay vào then cài cổng phụ.

Đúng lúc đôi chân Tuấn vừa nhấc lên khỏi vũng bùn lầy, một âm thanh chói gắt đột ngột nổ bùng lên ngay trên đỉnh đầu anh.

"Tách... Tách! Xoẹt!"

Từ phía trạm biến áp dã chiến treo trên giàn thép sát bờ rào, hàng loạt tiếng phóng điện cao áp nổ lách tách liên hồi. Những chùm tia lửa điện màu xanh lam và tím biếc bắn tung tóe ra xung quanh, xé rách màn mưa đêm phùn ẩm ướt. Mùi ozone khét lẹt cùng mùi nhựa cháy từ các ống bọc cáp điện lập tức bốc lên nồng nặc.

Máy biến áp rung lên bần bật, phát ra tiếng gầm rú nghẹt thở của cuộn dây đồng bị quá tải đột ngột.

Ngay sau đó là một tiếng nổ trầm đục:

"ĐOÀNG!"

Toàn bộ hệ thống đèn cao áp Halogen một nghìn oát thắp sáng lòng hố móng và mặt bằng đại công trường vụt tắt ngấm cùng một thời điểm. Những bóng đèn cao áp đang rực sáng bỗng chuyển sang màu đỏ sẫm rồi lịm hẳn, để lại những vệt khói đen bốc lên từ chao đèn bằng nhôm. Chiếc máy phát điện dự phòng đặt ở góc xa khục khặc gầm lên được hai tiếng yếu ớt rồi cũng tắt phụt động cơ.

Bóng tối dày đặc như mực tàu lập tức đổ ập xuống, nuốt trọn toàn bộ đại công trường cao ốc ven sông Tô Lịch.

Sự biến mất đột ngột của nguồn sáng làm thị giác của Tuấn tê liệt hoàn toàn trong vài giây. Xung quanh anh chỉ còn là một màn đêm đen kịt, lạnh buốt và im lìm đến nghẹt thở. Mọi tiếng ồn cơ học của máy móc ban đêm đều biến mất, chỉ còn lại tiếng mưa phùn rơi lộp bộp trên các mái tôn lán trại và tiếng róc rách của nước sông Tô Lịch vỗ vào chân bờ kè ngoài hàng rào.

Trong bốt gác bảo vệ, tiếng chửi thề vang lên thất thanh:

"Mẹ kiếp, lại nổ trạm biến áp rồi! Mất điện toàn khu rồi!"

Tiếng ghế nhựa bị xô đổ lách cách bên trong bốt gác. Ánh đèn pin cầm tay bắt đầu quét loạn xạ qua các khe cửa sổ tôn.

Tuấn không chần chừ thêm một giây nào nữa. Bóng tối đột ngột này chính là cơ hội trời ban để anh tẩu thoát. Lợi dụng lúc người bảo vệ còn đang lúng túng tìm đèn pin và kiểm tra cầu dao tổng, Tuấn lao nhanh về phía cổng phụ.

Đôi ủng bảo hộ bập bõm lướt qua những vũng nước sâu hoắm. Sức nặng của chiếc ba lô trĩu nặng trên vai dường như bị nỗi sợ hãi tột cùng đẩy lùi tạm thời. Tuấn luồn tay qua khe lưới mắt cáo của cánh cổng sắt, giật mạnh sợi xích khóa lỏng lẻo. Then cài bằng sắt kêu rít lên một tiếng khô khốc do rỉ sét lâu ngày.

Tuấn lách cả thân hình cùng chiếc ba lô cồng kềnh qua khe hẹp của cánh cổng phụ, bước ra vỉa hè đường Nguyễn Khang.

Gió từ mặt sông Tô Lịch thốc thẳng vào mặt Tuấn, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt đặc trưng của đêm đông Hà Nội. Dưới chân anh lúc này là mặt đường nhựa nứt nẻ, loang lổ những vũng nước mưa đục ngầu. Phía bên kia đường, dòng sông Tô Lịch phẳng lặng như một dải lụa đen ngòm, hắt lên thứ mùi xú khí hữu cơ quen thuộc của rác thải và bùn đáy đô thị ngàn năm tích tụ.

Tuấn thở hổn hển, hơi thở phả ra thành những làn khói trắng mỏng manh trong không khí lạnh. Anh quay đầu nhìn lại đại công trường sau lưng mình.

Bên kia hàng rào tôn cao ba mét, công trường khổng lồ chìm trong bóng tối đen đặc như một nấm mồ lộ thiên. Lòng hố móng sâu hoắm không còn một bóng đèn chiếu sáng, chỉ có những thanh cọc cừ Larsen nhô lên tua tủa như những chiếc gai sắt của một chiếc bẫy thú khổng lồ dưới trời mưa phùn. Tiếng còi báo động từ chiếc xe cứu hỏa hay xe tuần tra nào đó từ xa vọng lại, nghe mơ hồ và đứt quãng.

Tuấn kéo chặt quai đeo ba lô, rảo bước thật nhanh về phía chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ cũ kỹ mà anh đã dựng sẵn dưới gốc cây bàng cụt đầu cách cổng phụ năm mươi mét. Anh tra chìa khóa vào ổ, đạp cần khởi động. Tiếng động cơ xe máy nổ giòn tan phá vỡ không gian tĩnh mịch của con phố ven sông.

Tuấn nhảy lên yên xe, vặn ga lao vút vào màn mưa đêm mịt mùng, hướng thẳng về phía cây cầu vượt để trở về căn hộ chung cư cao tầng của mình.

Chiếc xe máy gầm rú lao đi trên mặt đường nhựa ướt sũng, bỏ lại sau lưng đại công trường đang chìm vào bóng đêm tĩnh lặng.

Tuấn cắm đầu lái xe giữa cơn mưa phùn buốt giá mà hoàn toàn không hề hay biết rằng, ở góc đáy chiếc ba lô Leica trắc địa đè nặng trên lưng anh, qua từng đường chỉ may vải bạt công nghiệp dày dặn đã bị thấm ướt, một dòng chất lỏng màu đen sẫm đang rỉ ra chầm chậm.

Đó không phải là nước mưa.

Chất lỏng đen đặc, quánh nhớt như bùn đáy huyệt mộ, bốc ra mùi tanh nồng nặc của bùn sông và tử khí ngàn năm. Từng giọt, từng giọt bùn đen đặc quánh rơi xuống dè chắn bùn xe máy, rồi nhỏ giọt xuống mặt đường nhựa phía sau bánh xe, tạo thành một vệt đen đứt quãng kéo dài theo dấu chân anh chạy trốn giữa lòng Hà Nội.

Chương khác

Xem thêm