Trùng Tang: Lệ Trùng - Chương 10: Đêm Thứ Nhất

Tiếng kèn hiếu thổi vắt vẻo qua những tán bưởi già, rót vào sân nhà thờ họ Phạm một thứ âm thanh nỉ non, buốt óc. Dưới mái rạp dựng tạm bằng khung sắt và…

Nội dung chương

Tiếng kèn hiếu thổi vắt vẻo qua những tán bưởi già, rót vào sân nhà thờ họ Phạm một thứ âm thanh nỉ non, buốt óc. Dưới mái rạp dựng tạm bằng khung sắt và bạt xanh, bụi nhang cuốn theo hơi gió sông Cầu bay mù mịt, bám một lớp xám mờ lên những vòng hoa huệ trắng xếp dọc lối đi. Mùi gỗ tươi của cỗ quan tài gỗ ngọc am mới hạ huyệt giả đặt ở gian giữa quyện với mùi dầu gió, mùi trầu không và mùi ẩm mốc của nền đất nện lâu ngày không đón nắng. Tất cả tạo nên một bầu không khí đặc quánh, khó thở.

Phạm Duy Khang đứng tựa lưng vào cây cột lim hiên nhà bái đường, hai tay đút sâu vào túi quần tây. Đôi mắt anh, vốn quen với ánh đèn LED lạnh lẽo của phòng mổ tử thi, lúc này đang chăm chú quan sát từng chi tiết nhỏ xung quanh cỗ quan tài của cha anh. Dưới gầm phản gỗ đặt linh cữu, vết hằn của hai chiếc liềm rỉ sét lúc sáng đã bị ai đó dùng chổi sể quét sạch, chỉ còn lại những vệt đất xới nhẹ lên, cố tình xóa nhòa dấu vết. Khang khẽ mím môi. Đối với một bác sĩ pháp y, việc hiện trường bị thay đổi cố ý luôn là dấu hiệu đầu tiên của sự che giấu.

Mấy bà khóc thuê ngồi bệt dưới đất, đầu quấn băng tang trắng xóa, cứ chốc chốc lại gào lên những lời than vãn rập khuôn về công ơn sinh thành. Tiếng khóc của họ đều đặn, vô hồn như một chiếc máy cassette cũ kỹ được lên dây cót. Ở góc sân, Linh đang đứng lẫn trong đám thanh niên lo việc nước nôi. Cô mặc một chiếc áo khoác tối màu, chiếc máy ảnh nhỏ giấu dưới vạt áo, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn Khang như muốn dò hỏi. Khang khẽ lắc đầu, ra hiệu cho cô giữ khoảng cách. Trong cái làng Cầu Đá này, một người ngoài tò mò quá sâu vào việc tang chế của họ Phạm rất dễ rước lấy rắc rối.

- Khang này, vào uống hớp nước đi cháu. Đứng ngoài hiên gió máy, đêm nay còn dài lắm.

Bác Nhuận, người anh họ xa của cha Khang, bước đến bên cạnh, tay cầm chiếc chén hạt mít đựng nước chè xanh đặc sánh. Khuôn mặt bác Nhuận xám ngoét vì thiếu ngủ, hai quầng mắt thâm quầng, đôi bàn tay run rẩy khiến nước chè trong chén chốc chốc lại sánh ra ngoài.

Khang nhận lấy chén nước nhưng không uống, chỉ áp lòng bàn tay vào thành gốm ấm nóng để xua đi cái lạnh đang ngấm vào da thịt. Anh nhìn thẳng vào bác Nhuận, giọng nói trầm và đều:

- Bác Nhuận, cháu vẫn giữ ý kiến lúc sáng. Cái chết của ba cháu có điểm bất thường. Lượng nước trong phổi ông không tự nhiên mà có. Cháu muốn làm đơn gửi công an huyện yêu cầu mổ khám nghiệm tử thi để làm rõ nguyên nhân.

Bác Nhuận nghe đến hai từ "khám nghiệm", mặt lập tức biến sắc. Ông vội vàng đặt tay lên vai Khang, ghé sát tai anh nói nhỏ, giọng run lên vì sợ hãi:

- Cháu điên rồi à? Ba cháu nằm xuống chưa ấm chỗ, cháu lại muốn người ta mổ xẻ ông ra sao? Với lại, chuyện trong họ Phạm xưa nay đều do các cụ trong ban trị sự quyết định. Cháu làm to chuyện lên, công an về phong tỏa nhà thờ họ, rồi người ngoài nhìn vào ra thể thống gì nữa?

- Đây là luật pháp, thưa bác, Khang lạnh lùng ngắt lời. - Một công dân tử vong không rõ nguyên nhân trên cạn nhưng phổi ngập nước giếng, đó là dấu hiệu của một vụ án mạng. Cháu là bác sĩ pháp y, cháu không thể nhắm mắt làm ngơ trước những bằng chứng vật lý rõ ràng như vậy.

- Bằng chứng cái gì mà bằng chứng!

Một giọng nói trầm đục, đầy uy quyền vang lên từ phía sau. Trưởng họ Phạm Văn Hào bước ra từ gian bái đường. Ông Hào năm nay ngoài sáu mươi, tóc búi củ hành phía sau gáy theo lối cổ, mặc chiếc áo dài đen thêu chữ thọ chìm. Khuôn mặt ông vuông vức nhưng xám xịt, đôi mắt sắc lẹm nhìn Khang như muốn áp chế tinh thần đứa cháu từ thành phố về. Tay ông Hào cầm cuốn sổ gia phả bọc vải điều đã sờn góc, ngón tay cái liên tục miết vào mép giấy.

- Anh Khang, anh học cao hiểu rộng ở trên tỉnh, chúng tôi không dám tranh luận chữ nghĩa với anh, Ông Hào lên tiếng, giọng đanh lại. - Nhưng ở cái làng Cầu Đá này, họ Phạm có quy củ của họ Phạm. Cha anh chết vào giờ xấu, tang chưa yên, cả họ đang phải gồng mình lên để lo liệu cho êm xuôi. Anh định đưa công an về đây để tổ tiên không được nhắm mắt, để cái giếng đình nó nổi giận thêm lần nữa sao?

- Bác Hào, bác đang dùng nỗi sợ tâm linh để lấp liếm một sự thật khoa học, Khang không hề nhượng bộ, ánh mắt anh đối diện trực tiếp với người trưởng họ. - Nước giếng đình tại sao lại xuất hiện trong phổi của một người nằm chết trên phản gỗ giữa nhà? Nếu không có ai đổ nước vào, hoặc nếu không có một hành vi cưỡng bức nào đó, làm sao chuyện này xảy ra được?

Ông Hào hừ lạnh một tiếng, đập mạnh cuốn gia phả lên chiếc bàn tre đặt cạnh cột hiên. Tiếng động khô khốc làm mấy bà khóc thuê giật mình dừng lại một nhịp, rồi lại tiếp tục gào khóc.

- Anh bảo có người hại cha anh? Ai hại? Ai trong cái họ Phạm này muốn hại một người hiền lành như ông Thành? Tôi nói cho anh biết, đây là việc của dòng họ. Đêm nay là đêm trực tang thứ nhất, tất cả đàn ông con trai trong họ đều phải có mặt đầy đủ để gác huyệt giả và canh bàn thờ vong. Danh sách trực tang tôi đã lên xong, anh cũng có tên trong ca đêm nay cùng với chú Dậu và ông Chỉnh. Liệu mà làm tròn bổn phận của một người con đi, đừng vẽ chuyện ra nữa.

Nói rồi, ông Hào quay lưng bước đi, không để cho Khang có cơ hội vặn hỏi thêm. Khang nhìn theo bóng lưng khom khom của người trưởng họ, bàn tay đút trong túi quần siết chặt lại. Anh biết, đằng sau sự cứng rắn và uy quyền kia là một sự hoảng loạn tột độ. Những trưởng bối họ Phạm đang sợ hãi một chuyện vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ, và họ đang cố dùng cái danh nghĩa "tang chung" để trói buộc anh.

Khang bước lại gần chiếc bàn tre, nhìn vào cuốn sổ danh sách trực tang mà ông Hào vừa để lại. Tờ giấy tuyên bản màu vàng úa, mực tàu viết tên từng người bằng chữ quốc ngữ nắn nót.

*Ca một: Phạm Văn Hào, Phạm Văn Nhuận.* *Ca hai: Phạm Duy Khang, Phạm Văn Dậu, Phạm Văn Chỉnh.*

Cái tên Phạm Văn Dậu đập vào mắt Khang. Chú Dậu là em họ của cha anh, một người đàn ông trung niên vốn tính tình nhút nhát, quanh năm chỉ biết bám lấy mấy sào ruộng bãi ven sông Cầu. Khang đảo mắt tìm kiếm xung quanh rạp tang và nhìn thấy chú Dậu đang ngồi thu mình ở một góc tối sát vách tường nhà thờ họ. Chú Dậu mặc chiếc áo tang sô rách vai, hai tay ôm lấy đầu gối, đầu cúi gằm xuống đất, hàm răng va vào nhau lập cập dù thời tiết đêm nay chưa đến mức quá lạnh.

Khang bước về phía chú Dậu. Khi khoảng cách rút ngắn lại, anh ngửi thấy một mùi hương lạ phát ra từ người chú mình. Đó không phải mùi rượu nếp hay mùi khói nhang thông thường, mà là mùi tanh nồng của bùn non pha lẫn mùi hăng hắc của lá cây mục rữa lâu ngày dưới nước. Mùi vị này quá quen thuộc với Khang trong những lần khám nghiệm các thi thể trục vớt dưới sông sâu.

- Chú Dậu, Khang khẽ gọi, ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh.

Chú Dậu giật nảy mình, ngẩng đầu lên. Khuôn mặt chú xám ngoét, đôi mắt lờ đờ, lòng trắng nổi đầy những tia máu đỏ. Khi nhìn thấy Khang, chú Dậu vội vàng lùi ghế ra sau như thể đang đối mặt với một nỗi kinh hoàng hữu hình.

- Khang... Khang đấy à? Chú... chú không biết gì đâu nhé. Chuyện đất cát nghĩa địa là do ông Chỉnh với ông Hào quyết định, chú chỉ ký tên thôi... Chú không có tội gì với ba cháu cả... Chú Dậu nói lắp bắp, giọng run rẩy như sắp khóc.

Khang nhíu mày. Chi tiết về "đất nghĩa địa" lập tức được anh ghi nhận. Anh ghé sát hơn, hạ thấp giọng:

- Chú Dậu, chú nói rõ xem nào. Chuyện đất nghĩa địa là thế nào? Có liên quan gì đến cái chết của ba cháu không?

Chú Dậu định há miệng nói gì đó, nhưng đúng lúc ấy, một bàn tay gầy guộc, nổi đầy gân xanh đặt mạnh lên vai chú. Ông Chỉnh, một trưởng bối khác trong họ, người vốn có tiếng là nóng tính và tham gia sâu vào các vụ tranh chấp đất đai ở làng, đã đứng phía sau từ lúc nào.

- Chú Dậu, mệt thì ra sau nhà mà nghỉ, đừng ngồi đây nói nhảm nhí ảnh hưởng đến vong linh người chết, Ông Chỉnh gằn giọng, đôi mắt ti hí nhìn xoáy vào chú Dậu đầy đe dọa.

Chú Dậu co rúm người lại, không dám ho he thêm một lời nào. Chú vội vàng đứng dậy, cúi đầu lách qua người ông Chỉnh rồi đi thẳng ra phía sau nhà bếp của nhà thờ họ.

Ông Chỉnh quay sang nhìn Khang, nở một nụ cười giả tạo, để lộ hàm răng ám khói thuốc lào đen xỉn:

- Anh Khang thông cảm, chú Dậu dạo này thần trí không được ổn định. Từ lúc ba anh mất, chú ấy cứ lo sợ vớ vẩn. Người làng quê đầu óc nông cạn, anh chấp nhặt làm gì.

- Cháu chỉ muốn tìm hiểu sự thật thôi, bác Chỉnh, Khang đáp, giọng lạnh tanh. - Nếu trong họ không có khuất tất, tại sao mọi người lại sợ cháu hỏi han đến thế?

Ông Chỉnh không trả lời, chỉ cười nhạt một tiếng rồi bỏ đi hướng khác. Khang đứng yên tại chỗ, cảm nhận rõ rệt sự cô lập mà dòng họ đang bao vây lấy anh. Mọi ngả đường tìm kiếm thông tin đều bị những bức tường vô hình của luật lệ họ tộc chặn đứng.

Đúng lúc đó, từ phía ngoài cổng làng, tiếng chó tru bỗng nhiên vang lên. Ban đầu chỉ là tiếng sủa đơn lẻ của một con chó canh cổng đình, nhưng chỉ trong vài giây, âm thanh đó đã lan rộng ra khắp các ngõ ngách trong xóm. Hàng chục con chó cùng lúc cất tiếng tru dài, oán khí như xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của đêm tối. Tiếng tru không giống như tiếng sủa mừng chủ hay sủa người lạ, nó kéo dài, trầm đục và run rẩy, hướng thẳng về phía giếng đình cổ sau bái đường.

Trong rạp tang, tiếng kèn hiếu bỗng nhiên thổi lỗi nhịp rồi tắt ngấm. Mấy bà khóc thuê cũng im bặt, nhớn nhác nhìn nhau. Những người dân làng đang ngồi uống nước chè ở các bàn khách bỗng chốc im lặng, bầu không khí trở nên căng thẳng đến mức có thể nghe thấy cả tiếng tàn nhang rơi rụng trên đĩa đồng.

- Chó tru hướng giếng đình... Một ông lão ngồi bàn bên cạnh thì thầm, tay run rẩy làm đổ cả nước chè ra bàn. - Giếng lại gọi người rồi. Tang chưa yên... chắc chắn là tang chưa yên rồi...

- Im ngay đi! Ông Hào từ trong nhà bái đường quát lớn ra sân, cố gắng trấn an đám đông đang bắt đầu xôn xao. - Gió sông thổi mạnh nên chó nó cắn càn thôi. Các anh phường kèn tiếp tục thổi đi, không được dừng!

Tiếng kèn hiếu lại ngập ngừng vang lên, nhưng giai điệu lúc này đã trở nên hỗn loạn, mất đi sự nhịp nhàng ban đầu. Khang không quan tâm đến tiếng chó tru, anh chú ý đến một hiện tượng khác đang xảy ra ngay trên bàn thờ vong của cha anh.

Bát nước cúng đặt cạnh bài vị của ông Thành bỗng nhiên có sự thay đổi kỳ lạ. Bát nước đó do chính tay Khang rót từ một chai nước khoáng mới tinh vào chiều nay để làm lễ khâm liệm. Nhưng lúc này, dưới ánh sáng vàng vọt của hai cây nến sáp, mặt nước trong bát bỗng nhiên nổi lên một lớp váng mỏng màu xám đen. Lớp váng từ rìa bát lan dần vào giữa, tụ lại thành những hạt cặn li ti như bùn non.

Khang bước nhanh đến trước bàn thờ. Anh bỏ qua những cái nhìn ái ngại của người xung quanh, đưa tay cầm lấy bát nước cúng lên soi dưới ánh nến.

Mùi bùn tanh nồng lập tức xộc vào mũi anh. Đó chính là thứ mùi mà anh đã ngửi thấy trên người chú Dậu lúc nãy, và cũng là mùi của mẫu nước giếng đình mà anh đã phân tích trong phòng thí nghiệm tạm thời của mình. Làm thế nào một bát nước khoáng đậy kín, mới rót ra vài tiếng đồng hồ lại có thể tự sinh ra váng bùn và có mùi nước giếng cổ?

- Anh Khang! Anh làm cái gì thế? Sao lại tự tiện động vào đồ cúng tế trên bàn thờ vong? Ông Chỉnh bước tới, giật lấy bát nước từ tay Khang, đặt mạnh trở lại vị trí cũ. Nước trong bát sánh ra ngoài, chảy xuống mặt bàn thờ gỗ mít, để lại những vệt nước đục ngầu, đen sẫm.

Khang nhìn chằm chằm vào vệt nước đục trên mặt bàn thờ. Anh không nói một lời nào, nhưng trong đầu anh, những mảnh ghép của sự bất thường bắt đầu liên kết lại. Có một nguồn nước giếng đình đang hiện diện khắp nơi trong cái chết của cha anh, từ trong phổi của ông, dưới đáy quan tài, và bây giờ là ngay trên bàn thờ vong.

Ở phía dưới sân rạp, chú Dậu từ nhà bếp bước ra, định đi vào gian bái đường để chuẩn bị cho ca trực tiếp theo. Khi đi ngang qua bàn thờ vong, chú vô tình nhìn thấy bát nước cúng nổi váng đục và vệt nước đen sẫm đang chảy loang lổ trên mặt bàn gỗ.

Khang chú ý thấy bước chân của chú Dậu khựng lại. Toàn thân người chú run lên bần bật, hai mắt trợn trừng nhìn vào bát nước như thể vừa nhìn thấy một con rắn độc. Khuôn mặt chú Dậu vốn đã xám nay chuyển sang một màu trắng bệch, không còn một giọt máu. Chú lắp bắp vài từ không rõ nghĩa trong cổ họng, rồi bất ngờ lùi lại, va phải chiếc bàn tre phía sau làm đổ một loạt chén đĩa.

- Dậu! Anh làm cái trò gì thế hả? Ông Hào quát lên, tức giận vì sự vụng về của người em họ.

Nhưng chú Dậu không trả lời. Chú nhìn ông Hào, rồi nhìn sang ông Chỉnh với một ánh mắt đầy hoảng sợ và tuyệt vọng. Chú Dậu ôm lấy đầu, vừa lùi vừa lắc đầu liên tục:

- Tôi không trực nữa... Tôi không trực đêm nay đâu... Giếng... giếng nó đòi rồi... Bát nước... bát nước của ông Thành có bùn... Nó về đòi nợ đất rồi...

- Anh câm miệng lại cho tôi! Ông Chỉnh bước tới, định tát chú Dậu một cái để bắt chú im lặng, nhưng chú Dậu đã nhanh hơn. Chú quay người, cắm đầu chạy thẳng ra phía cổng nhà thờ họ, bỏ lại sau lưng những tiếng xầm xì, bàn tán xôn xao của dân làng.

- Bác Hào, để cháu đi tìm chú ấy, Khang nói nhanh rồi bước theo hướng chú Dậu vừa chạy.

- Khang! Quay lại ngay! Ca trực của cháu sắp bắt đầu rồi! Tiếng ông Hào gọi giật phía sau, nhưng Khang phớt lờ. Anh cần phải nói chuyện riêng với chú Dậu trước khi các trưởng bối trong họ kịp can thiệp và bịt miệng người đàn ông này.

Khang bước nhanh ra khỏi rạp tang. Khi đi qua Linh đang đứng ở góc sân, anh khẽ gật đầu. Linh lập tức hiểu ý, cô lặng lẽ đi vòng qua lối vườn bưởi phía sau để tránh sự chú ý của mọi người, bám theo Khang.

Đêm ở làng Cầu Đá tối đen như mực. Ánh đèn đường leo lét từ những cột tre đầu ngõ không đủ sức xua đi màn sương mù dày đặc đang từ sông Cầu tràn vào. Gió thổi mạnh qua những rặng tre bên đường, tạo nên những tiếng rít u u như tiếng khóc than.

Khang bước ra đến cổng nhà thờ họ. Dưới ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn tuýp treo trên cổng tre, anh nhìn thấy bóng dáng chú Dậu đang điên cuồng bước đi trong con ngõ nhỏ dẫn ra phía giếng đình. Chú đi rất nhanh, đôi chân trần giẫm lên những viên gạch nung ẩm ướt, miệng liên tục lẩm bẩm những lời vô nghĩa.

- Chú Dậu! Dừng lại đã! Khang gọi lớn, bước chân anh dồn dập hơn trên nền đất.

Nhưng chú Dậu không nghe thấy tiếng gọi của Khang. Có lẽ nỗi sợ hãi trong lòng đã khiến chú không còn chú ý đến xung quanh. Chú vẫn cắm đầu bước đi, hai tay ôm chặt lấy bả vai như thể đang cố ngăn mình khỏi bị đông cứng trong cái lạnh của đêm tối.

Khi chú Dậu đi qua dưới một bóng đèn đường màu vàng vọt, Khang bỗng khựng lại. Dưới ánh sáng rọi thẳng từ trên xuống, anh nhìn thấy rõ một chi tiết kỳ lạ trên chiếc áo tang sô trắng của chú Dậu.

Ở phía sau vai áo bên trái của chú, xuất hiện một vệt ướt sẫm màu. Vệt ướt không phải do nước mưa rơi ngẫu nhiên, bởi trời đêm nay hoàn toàn khô ráo. Vệt nước đó có hình thù rõ rệt của một bàn tay người, với năm ngón tay gầy guộc, dài ngoằng đang bám chặt vào vai áo chú Dậu. Từ vệt nước hình bàn tay đó, những giọt nước đục ngầu, mang theo chút bùn đen, đang rỉ ra và từ từ chảy xuống dọc theo thớ vải sô thô ráp.

Khang cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Là một bác sĩ pháp y, anh đã tiếp xúc với hàng trăm thi thể, chứng kiến đủ mọi loại dấu vết sinh học trên quần áo nạn nhân. Nhưng vệt nước hình bàn tay trên vai áo chú Dậu lúc này mang lại cho anh một cảm giác bất an sâu sắc. Nó quá rõ ràng, quá chân thực, như thể có một bàn tay vô hình vừa ướt sũng nước dưới giếng lên, đặt mạnh vào vai chú Dậu để đánh dấu.

- Chú Dậu! Đứng lại! Khang hét lên lần nữa, lần này anh chạy nhanh hết sức về phía người chú của mình.

Linh cũng từ trong bóng tối của vườn bưởi chạy ra. Cô nhìn thấy vệt nước trên vai áo chú Dậu qua ống kính máy ảnh hồng ngoại cầm tay rồi thốt lên một tiếng kinh ngạc:

- Khang! Nhìn vai áo ông ấy kìa! Nước... nước đang chảy ra từ đó!

Chú Dậu nghe thấy tiếng hét của hai người, chú quay đầu lại nhìn. Khuôn mặt chú lúc này đã hoàn toàn biến dạng vì nỗi sợ tột cùng. Chú không nhìn Khang, mà nhìn chằm chằm vào khoảng không gian tối tăm ngay phía sau lưng Khang, nơi con đường dẫn ra giếng đình cổ đang bị sương mù che phủ hoàn toàn.

- Đừng đến đây... Đừng gọi tên tôi... Tôi không bán đất nữa... Tôi trả lại tiền... Chú Dậu gào lên một cách điên dại, rồi bất ngờ rẽ vào một con ngõ nhỏ tối tăm bên cạnh, biến mất vào bóng đêm của làng cổ.

Khang đuổi đến ngã rẽ của con ngõ nhỏ. Anh bật đèn pin điện thoại lên, quét một vòng xung quanh. Con ngõ cụt, hai bên là những bức tường đá ong cũ kỹ bám đầy rêu xanh. Tuy nhiên, không có bóng dáng chú Dậu đâu cả.

Dưới nền gạch đỏ ẩm ướt của con ngõ nhỏ, chỉ còn những giọt nước đục ngầu, mang theo mùi bùn tanh nồng, đang nhỏ xuống từng giọt, tạo nên những tiếng tách... tách... đều đặn trong sự im lặng đáng sợ của đêm thứ nhất.

Chương khác

Xem thêm