Trùng Tang: Lệ Trùng - Chương 13: Người Trực Tang Biến Mất

Rạp tang đã vãn người. Sau lễ tế tối, chỉ còn vài người trong họ ngồi lại trực quan tài. Đèn dầu trên bàn thờ tổ cháy lập lòe, ngọn lửa vàng vọt hắt bóng…

Nội dung chương

Rạp tang đã vãn người. Sau lễ tế tối, chỉ còn vài người trong họ ngồi lại trực quan tài. Đèn dầu trên bàn thờ tổ cháy lập lòe, ngọn lửa vàng vọt hắt bóng lên tấm vải trắng phủ quanh linh cữu ông Thành. Mùi nhang trộn với mùi sáp nến tạo thành một thứ không khí đặc quánh, nặng trịch trong căn phòng trực.

Chú Dậu ngồi ở góc chiếu, lưng dựa vào cột gỗ, mắt nhìn xuống nền gạch hoa. Tay ông cầm điếu thuốc đã tàn từ lúc nào, đầu thuốc cháy dở để trên miệng chén nước chè xanh. Ông không nói gì từ sau bữa cơm tối, chỉ ngồi yên như pho tượng giữa đám đông họ hàng đang thì thầm chuyện đất cát.

Ông Chỉnh bước vào rạp, tay cầm một xấp giấy tờ. Ông liếc nhanh quanh rạp, thấy chú Dậu thì khựng lại một nhịp. Ông kéo ghế ngồi xuống đối diện, bỏ xấp giấy lên chiếu.

- Cậu Dậu, tôi có chuyện muốn nói.

Chú Dậu ngước mắt lên. Đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ, hai quầng thâm sẫm như bầm dập dưới mí. Ông dụi điếu thuốc vào gạt tàn, giọng khản đặc:

- Chuyện gì thì nói, chứ đừng mang giấy tờ ra đây. Trước mặt quan tài anh tôi, tôi không muốn cầm giấy tờ.

- Nhưng chính cậu mới là người đòi nói chuyện này từ chiều. Ông Chỉnh vỗ nhẹ lên xấp giấy. - Khoảnh đất sát bãi sông, bên dưới nghĩa địa họ mình. Người ta trả giá cao, cậu biết đấy.

Chú Dậu đứng dậy. Mặt ông tái đi dưới ánh đèn dầu. Ông chỉ tay về phía quan tài, giọng bắt đầu run lên vì tức:

- Anh tôi chưa kịp chôn, giấy chết chưa ráo mực, mà anh đã mang chuyện bán đất ra nói trước linh cữu thế này à? Khoảnh đất đó là mộ tổ đấy, ông Chỉnh ạ. Từ đời cụ tổ đã chôn dưới bãi đó. Anh đào lên thì cả họ không yên.

- Im ngay! Ông Chỉnh đập tay xuống chiếu, tiếng vang giữa rạp tang khiến mấy người đang ngồi trực giật mình. - Việc cậu nói nhảm trong nhà có tang mới là chuyện đáng xấu hổ. Đất cát là chuyện sống của người đang sống. Ông Thành nằm kia, ông ấy có nghe cũng hiểu. Đất bỏ hoang bao năm, mộ tổ thì đã cải táng hết từ đời nào rồi, chỉ còn mấy nấm mối với đám cỏ dại.

- Mộ tổ không phải chỉ là mấy nấm mối. Chú Dậu tiến lại gần, hai tay nắm chặt. - Anh đào xới chỗ đó lên, anh sẽ động đến thứ không nên động.

- Cậu say rồi. Ông Chỉnh đứng dậy, giọng lạnh tanh. - Tối nay cậu không phải trực nữa. Vào buồng trong đắp chăn mà ngủ cho hết say.

- Tôi không say!

- Say rượu, say cả mê tín. Ông Chỉnh quay sang hai người thanh niên ngồi gần cửa. - Đưa cậu Dậu vào buồng trong. Để cậu ấy nằm một lát cho tỉnh.

Hai thanh niên ngập ngừng đứng dậy. Họ nhìn chú Dậu, rồi nhìn ông Chỉnh. Người lớn tuổi hơn trong hai người, một anh chừng ba mươi tên là Hiền, lên tiếng:

- Bác Chỉnh, hay để chú Dậu ngồi đây với chúng cháu. Có đông người, chú ấy cũng đỡ...

- Tôi bảo đưa cậu ấy vào trong. Ông Chỉnh không tăng giọng, nhưng âm sắc đã chuyển sang lạnh lẽo đến mức không thể cãi.

Chú Dậu nhìn quanh rạp tang. Mấy người trong họ đều cúi mặt xuống, không ai dám nhìn ông. Trên bàn thờ tổ, ngọn đèn dầu cháy đến kỳ lạ; ngọn lửa bỗng chao đảo dữ dội dù không có gió, hắt bóng lên nóc rạp những vệt đen lẫn lộn.

Ông không nói thêm lời nào. Ông quay người, bước ra phía buồng trong. Trước khi đi, ông ngoái lại nhìn quan tài ông Thành một lần, rồi đưa mắt về phía ông Chỉnh:

- Anh nhớ lấy. Nếu anh bán chỗ đó, anh sẽ không kịp tiêu số tiền đâu.

Ông Chỉnh không trả lời. Ông đứng yên, xấp giấy trên tay siết chặt đến nhăn cả mép.

Hai người thanh niên theo chú Dậu vào buồng trong. Một lát sau, họ bước ra, đóng cửa buồng lại. Hiền nói với ông Chỉnh:

- Chú Dậu nằm rồi ạ. Cháu để đèn dầu trong đó.

Ông Chỉnh gật đầu, cất xấp giấy vào túi áo. Ông ngồi xuống chiếu, nhìn lên quan tài ông Thành, mặt không biểu cảm.

Đến gần canh ba, tiếng côn trùng ngoài sân bỗng ngưng bặt. Đàn dế kêu rả rích suốt từ chiều bỗng im lặng cùng lúc, như thể ai đó đã ra hiệu cho chúng ngừng lại. Bầu không khí trong rạp tang đặc quánh, thứ im lặng đè ép lên màng nhĩ đến mức có thể nghe thấy tiếng tim mình đập.

Hiền mở cửa buồng trong, định gọi chú Dậu dậy để thay ca. Nhưng chiếc chăn trên giường chỉ còn là một đống đắp phồng, phía dưới nhồi một cái gối và mấy cái áo bông được vò tròn.

Chú Dậu không có trong buồng.

Hiền chạy ra ngoài, mặt cắt không còn giọt máu.

- Mất rồi! Chú Dậu không ở trong buồng!

Rạp tang náo loạn. Người nhà đổ ra sân, người ra cổng sau, người chạy ra bờ ao. Đèn pin được bật sáng, ánh đèn lồng vụt chạy khắp các ngõ ngách trong khu nhà thờ họ. Họ tìm quanh sân, tìm trong bếp, ra tận bờ ao cũ lấp một nửa phía sau nhà thờ, ra vườn chuối rậm rạp. Không ai thấy chú Dậu đâu.

Khang đang ở phía ngoài sân đình, nghe tiếng hò hét của họ hàng thì chạy vội về. Linh chạy theo sau, máy ảnh lủng lẳng trên cổ.

- Chuyện gì vậy? Khang hỏi, nhưng thấy vẻ mặt của Hiền, anh đã biết câu trả lời.

- Chú Dậu mất tích rồi. Hiền nói, giọng lạc đi. - Cháu vào buồng gọi, chăn trên giường chỉ là cái gối với mấy cái áo bông vò lại. Trong buồng không có ai.

Ông Chỉnh bước ra từ phía cổng sau. Tay ông cầm một chiếc đèn pin, ánh đèn quét qua sân nhà thờ họ. Mặt ông tái nhợt dưới ánh sáng lạnh, nhưng giọng vẫn cố giữ bình tĩnh:

- Tìm hết cả rồi à?

- Thưa bác, tìm khắp trong ngoài rồi. Không thấy chú Dậu đâu.

Người làng bắt đầu kéo đến. Mấy bà cụ ở xóm trên nghe tiếng động cũng đã thức giấc, đứng tựa cửa nhìn sang phía nhà thờ họ. Tiếng chó sủa từ xa vọng lại, tiếng sủa đơn độc, khác thường; nghe như một con chó già sủa vào khoảng không không có người.

Khang không chạy lung tung như những người khác. Anh đứng ở giữa sân, mắt lia nhanh quanh không gian. Anh nhìn xuống nền gạch, quan sát những vết giày dép lộn xộn của người nhà vừa chạy tìm. Rồi mắt anh dừng lại ở cổng nhà thờ họ , một nơi không có dấu chân chạy qua, một nơi mà không ai nghĩ đến việc tìm kiếm.

Anh bước lại đó. Cổng nhà thờ họ bằng gỗ lim cũ kỹ, hai cánh cổng mở rộng từ tối để đón khách vào viếng. Ngay sát chân cổng, dưới ánh đèn pin từ điện thoại, Khang thấy một đôi dép cao su màu xanh đặt ngay ngắn trên bậc gạch, song song với nhau, mũi dép quay thẳng ra phía con ngõ đá ong dẫn về hướng đình làng.

- Đây này! Khang gọi to.

Mọi người đổ dồn lại. Ông Chỉnh cầm đèn pin rọi thẳng vào đôi dép. Một người đàn bà trong họ thốt lên:

- Dép của cậu Dậu! Tôi thấy cậu ấy đi lúc sáng mà!

Đôi dép cao su để ngay ngắn, không lệch, không xô. Một đôi dép được cởi ra và đặt vào vị trí có chủ đích, không phải vội vàng. Nhưng chủ nhân của nó lại không thấy đâu.

Khang quỳ xuống, bật đèn pin rọi sát nền gạch. Anh nhìn thấy những giọt nước nhỏ li ti, nước đục ngầu, không phải nước mưa vì đêm nay trời tạnh ráo. Có người nói:

- Hay cậu Dậu đi ra giếng đình?

Mặt ông Chỉnh biến sắc. Ông quay lại, gắt:

- Không ai được nói nhảm. Ra giếng làm gì? Có ai thấy cậu ấy đi qua đường đó không?

Không ai trả lời. Mọi người đứng im, nhìn nhau. Không ai thấy chú Dậu đi ra khỏi cổng. Ông biến mất trong buồng kín, và đôi dép xuất hiện ở cổng, như thể ông đã đi xuyên qua giữa đám đông mà không ai nhận ra.

Khang nhặt chiếc dép lên. Mép dép còn ẩm, dính một lớp bùn mỏng màu xám đen - thứ bùn đặc biệt chỉ có ở đáy giếng đá ong, nơi rêu mục và đất sét lắng xuống qua nhiều năm không được khơi thông.

- Điện thoại của chú Dậu đâu? Khang hỏi.

- Để trong buồng. Hiền nói. - Điện thoại để ở đầu giường.

- Lấy ra đây.

Hiền chạy vào buồng một lát rồi chạy ra, tay cầm chiếc điện thoại Nokia cũ. Nhưng vừa chạm đến cửa buồng, chiếc điện thoại bỗng rung lên - một hồi rung dài, báo hiệu có tin nhắn thoại mới gửi vào nhóm họ.

- Chú Dậu gửi tin! Hiền giơ điện thoại lên, mặt tái xanh.

Ông Chỉnh giật lấy máy. Nhưng Khang đã nhanh hơn , anh giơ tay ra, giọng trầm xuống:

- Bác Chỉnh, để cháu nghe trước. Cháu là bác sĩ pháp y, có thể phân tích âm thanh.

Ông Chỉnh nhìn Khang một lúc. Trong mắt ông, sự do dự và sợ hãi hiện ra rõ rệt dưới ánh đèn pin. Rồi ông đưa máy cho Khang.

Khang bấm nút nghe. Tiếng ồn trắng rè rè vang ra từ loa ngoài, âm thanh lúc đầu giống như ai đó đang đặt máy sát vào một dòng nước chảy xiết. Rồi giọng chú Dậu vọng lên, giọng khóc nghẹn, khàn đặc đến mức khó nhận ra:

- Đừng... đừng múc nữa...

Một khoảng im lặng kéo dài. Trong loa, âm thanh của nước chảy tiếp tục, giờ đây còn nghe thấy tiếng sủi bọt, tiếng ục ục của nước trào lên từ một ống hẹp. Rồi chú Dậu lại nói, giọng run bần bật như thể ông đang lạnh cóng:

- Dưới này đông lắm...

Cả rạp tang chết lặng. Hiền buột miệng hỏi, giọng lạc hẳn đi:

- Dưới này là dưới nào? nhưng câu hỏi của anh ta bị bỏ ngỏ, không ai trả lời.

Âm thanh trong tin nhắn thoại đột nhiên chuyển sang một tiếng động khác. Tiếng nước chảy bỗng bị át đi bởi một thứ âm thanh khô khốc, ghê rợn: tiếng móng tay cào trên đá. Tiếng cào dài, chậm rãi, như thể có một bàn tay đang cố bám vào một bề mặt trơn để không bị kéo xuống thứ gì đó. Tiếng cào lặp lại ba lần, cùng một nhịp, mỗi lần yếu hơn lần trước.

Rồi im lặng.

Khang nhìn vào màn hình điện thoại. Thời gian ghi âm hiển thị: 47 giây. Tin nhắn được gửi vào lúc 2 giờ 17 phút sáng. Đúng canh ba, cái giờ mà người làng kiêng nhất, cái giờ mà mẹ Khang đã gọi tên chú Dậu qua điện thoại từ viện tâm thần.

Khang bấm gọi lại số của chú Dậu. Máy đổ chuông một hồi dài, rồi chuyển sang giọng nói tự động: "Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được."

Anh gọi lại. Lần này, máy chỉ đổ chuông được hai tiếng rồi phụt tắt.

Hiền nhìn Khang, mồ hôi lạnh trên trán:

- Anh Khang... chú Dậu đang ở đâu?

Khang không trả lời. Anh nhìn xuống đôi dép cao su còn nằm dưới nền gạch, mũi dép quay về phía con ngõ đá ong dẫn ra giếng đình. Anh nhìn những giọt bùn lấm tấm trên bậc cổng, thứ bùn xám đen chỉ có ở một nơi duy nhất trong làng Cầu Đá.

Và trong điện thoại, tin nhắn thoại của chú Dậu vẫn còn đó, đã được lưu vào nhóm họ, với câu nói ám ảnh vang vọng trong đầu tất cả những ai vừa nghe thấy:

- Đừng múc nữa... Dưới này đông lắm...

Chương khác

Xem thêm