Trùng Tang: Lệ Trùng - Chương 20: Mảnh Áo Trắng
Sương mù buổi sớm trên sông Cầu chưa tan hẳn, nó sà xuống bao trùm lấy những mái ngói cong vút của đình Cầu Đá. Sân đình lát gạch bát tràng loang lổ…
Nội dung chương
Sương mù buổi sớm trên sông Cầu chưa tan hẳn, nó sà xuống bao trùm lấy những mái ngói cong vút của đình Cầu Đá. Sân đình lát gạch bát tràng loang lổ những vệt nước ẩm ướt. Tiếng ồn ào của dân làng tụ tập ở cổng đình phá tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi bình minh.
Khang đứng bên gốc đa cổ thụ, mắt nhìn về phía chiếc bàn gỗ đặt tạm giữa sân đình. Ở đó, hai cán bộ công an xã đang ghi chép biên bản mất tích. Đối diện với họ là ông Phạm Nhuận, đại diện cho chi trưởng họ Phạm, cùng một vài người lớn tuổi trong làng.
- Cái thằng Dậu này nó nợ nần cờ bạc quanh năm, nợ từ trong xã ra ngoài huyện,
giọng ông Nhuận khàn khàn, cố gắng nói to để át đi tiếng xì xào xung quanh.
- Hai hôm trước có mấy đứa mặt mũi bặm trợn đến tận nhà tìm nó đòi tiền. Tôi đồ là nó trốn nợ sang bên Hiệp Hòa rồi, chứ làm gì có chuyện mất tích mất tăm.
Một cán bộ công an xã trẻ tuổi ngẩng đầu lên khỏi cuốn sổ tay:
- Nhưng vợ chú ấy báo là chú ấy không mang theo quần áo, điện thoại thì tắt máy, xe máy vẫn dựng ở góc sân. Nếu trốn nợ thì cũng phải chuẩn bị chứ?
- Bọn nợ nần thì biết thế nào được,
một người họ Phạm khác xen vào.
- Nó sợ bị xiết nợ thì cắm đầu cắm cổ chạy thoát thân chứ kịp nghĩ gì đến xe với pháo. Các anh cứ ghi vào biên bản là tự ý bỏ đi khỏi địa phương cho nó đúng thủ tục.
Khang bước lại gần, bước chân của anh nhẹ nhàng nhưng dứt khoát trên nền gạch ướt. Linh đi sát phía sau, chiếc máy ảnh cơ đeo trên cổ thỉnh thoảng lại va nhẹ vào cúc áo khoác phát ra tiếng động nhỏ.
- Chú Dậu không bỏ trốn,
Khang lên tiếng, giọng anh lạnh lùng cắt ngang lời ông Nhuận.
Mọi ánh mắt lập tức đổ dồn về phía Khang. Ông Nhuận nhíu mày, nét mặt lộ rõ vẻ không hài lòng khi thấy đứa cháu gọi bằng bác rể này can thiệp vào chuyện của họ.
- Khang đấy à? Chuyện trong họ để các trưởng bối lo, cháu là người thành phố về đây chịu tang ba, xong việc thì lo mà về trên ấy đi,
ông Nhuận hạ thấp giọng, mang đầy vẻ răn đe.
- Tôi là bác sĩ pháp y, cũng là người nhà,
Khang nhìn thẳng vào mắt ông Nhuận.
- Chú Dậu mất tích từ đêm hôm kia. Nếu chú ấy trốn nợ, chú ấy sẽ không để lại đôi dép cao su ngay sát bến sông Cầu, và cũng không có chuyện giếng đình xuất hiện những dấu vết lạ vào sáng nay.
Dân làng bắt đầu xôn xao. Một vài người chỉ trỏ về phía sau đình, nơi có chiếc giếng cổ xây bằng đá ong. Chiếc giếng này từ lâu đã bị rào lại bằng mấy thanh tre già, nhưng sáng nay, những thanh tre đó đã bị gạt sang một bên.
Khang không đợi ông Nhuận trả lời, anh đi thẳng ra phía sau đình. Cán bộ công an xã và Linh lập tức đi theo. Ông Nhuận và những người họ Phạm dù mặt mày xám xịt nhưng cũng buộc phải bước xăm xăm đuổi theo sau.
Khu vực quanh giếng đình ngập tràn mùi bùn đất ẩm ướt pha lẫn mùi lá rụng thối rữa. Trên nền đất sỏi dẫn từ bến sông vào đến giếng, có những vệt nước kéo dài, loang lổ như có ai đó vừa lết một vật nặng sũng nước đi qua.
Khi đến sát thành giếng đá ong, Khang dừng lại. Anh cúi người xuống, quan sát kỹ bề mặt đá nhám xù xì.
Trên thành giếng, có năm vệt bùn màu đen xám, kéo dài từ phía lòng giếng đi lên rồi quệt ngang qua mép đá ong. Những vệt bùn này có hình dạng rất rõ ràng của những ngón tay người. Chiều hướng của vệt bùn cho thấy lực tác động đi từ dưới lên, giống như có ai đó bám chặt lấy mép đá để nhoài người lên khỏi lòng giếng sâu.
- Đây là vết tay,
Linh thầm thì, cô đưa máy ảnh lên bấm liên tiếp mấy kiểu. Ánh đèn flash lóe lên trong sương sớm, soi rõ những hạt cát mịn lẫn trong bùn đất bám trên thành giếng.
Khang rút từ trong túi áo khoác ra một đôi găng tay cao su y tế, cẩn thiện đeo vào. Anh dùng ngón tay miết nhẹ vào vệt bùn trên đá ong, đưa lên gần mũi ngửi.
- Bùn này không phải bùn mặt đất,
Khang phân tích, hướng về phía cán bộ công an xã.
- Nó có độ mịn cao, lẫn nhiều mảnh vụn của rêu đá ong và xác thực vật phân hủy sâu. Đây là bùn đáy giếng. Vết bùn còn rất mới, độ ẩm cao, chưa bị gió sáng làm khô hoàn toàn. Thời gian hình thành vết tay này chỉ trong khoảng từ ba đến năm tiếng trước.
Ông Nhuận bước tới, cố tình đứng chắn giữa Khang và thành giếng:
- Chỉ là vết bùn thôi thì chứng minh được cái gì? Có khi mấy đứa trẻ con trong làng nghịch ngợm ra đây nghịch đất cát rồi bôi lên thôi. Các anh công an đừng nghe nó vẽ chuyện.
- Trẻ con không nghịch bùn dưới đáy giếng vào lúc ba giờ sáng,
Khang phản bác.
- Hơn nữa, khoảng cách giữa các ngón tay của vết bùn này rất rộng, chiều dài ngón tay đo được khoảng tám đến chín centimet. Đây là bàn tay của một người đàn ông trưởng thành.
Khang tiếp tục rà soát xung quanh miệng giếng. Khi mắt anh dừng lại ở một khe hở giữa hai phiến đá ong lớn ở mép trong của giếng, anh phát hiện ra một vật lạ.
Một mảnh vải màu trắng, kích thước bằng khoảng bàn tay, đang mắc kẹt sâu trong kẽ đá. Mảnh vải bị xé rách nham nhở, một nửa thả thõng xuống lòng giếng tối om, nửa còn lại bị kẹp chặt bởi trọng lượng của phiến đá phía trên.
Khang dùng panh y tế trong hộp dụng cụ nhỏ mang theo, cẩn thận gắp mảnh vải ra khỏi kẽ đá.
Đó là một mảnh vải thô, màu trắng tinh nhưng đã bị vấy bẩn bởi những vệt bùn đen và nước giếng. Sợi vải thô ráp, đường dệt thưa.
- Vải xô trắng,
Linh thốt lên.
- Đây là vải dùng để may áo tang.
Khang đưa mảnh vải lên gần mặt. Một mùi hương kỳ lạ xộc vào mũi anh. Đó không phải mùi ẩm mốc thông thường của vải ngâm nước, mà là một mùi ngọt lịm, thanh mát nhưng lại mang theo chút vị lợ khó tả. Mùi hương này giống hệt mùi nước mà Khang đã ngửi thấy trong phổi của cha anh khi anh tiến hành kiểm tra thi thể ông tại nhà.
- Mùi nước giếng cổ,
Khang lẩm bẩm.
Anh quay sang phía ông Nhuận và những người họ Phạm đang đứng vây quanh. Sắc mặt của ông Nhuận lúc này đã chuyển từ giận dữ sang tái nhợt. Đôi mắt ông ta nhìn chằm chằm vào mảnh vải trắng trên tay Khang, hai bàn tay run run giấu vào sau vạt áo.
- Bác Nhuận,
Khang gọi giật giọng.
- Bác nhìn mảnh vải này đi. Trong đám tang của ba cháu hôm nọ, toàn bộ áo tang phát cho người trong họ đều do bác đặt may ở tiệm may bà câm đầu làng đúng không?
Ông Nhuận lắp bắp:
- Thì... thì sao? Trong làng này nhà ai có tang mà chẳng may vải ấy.
- Mỗi tiệm may có một cách vắt sổ và đi chỉ khác nhau,
Khang chỉ vào đường viền của mảnh vải trắng.
- Đường chỉ vắt sổ này đi bằng chỉ sợi đôi màu xám nhạt, mũi kim thưa và bị lệch góc. Đây là nét đặc trưng của chiếc máy khâu cũ nhà bà câm. Áo tang của chú Dậu hôm đó cũng là do chính tay bác đưa cho chú ấy.
Bác Nhuận đứng bên cạnh ông Nhuận, mặt biến sắc. Ông ta bước lên một bước, định nói gì đó nhưng lại bị cái nhìn sắc lẹm của ông Nhuận cản lại. Bác Nhuận cúi đầu, giọng lí nhí:
- Tôi... tôi không rõ. Áo tang phát ra nhiều lắm, ai mà nhớ được đường kim mũi chỉ thế nào.
Cán bộ công an xã nhận thấy sự bất thường trong thái độ của những người họ Phạm. Anh ta bước lại gần Khang, dùng một chiếc túi nilon chuyên dụng để nhận mảnh vải từ tay anh.
- Anh Khang, anh nghĩ chú Dậu đã ngã xuống giếng này sao?
- Tôi không nghĩ chú ấy ngã,
Khang trả lời, mắt vẫn nhìn xoáy vào những vết tay bùn trên thành giếng.
- Nếu ngã xuống, vết tay sẽ có xu hướng trượt dài từ trên xuống dưới do cố gắng bám víu khi rơi. Nhưng những vết tay này hướng từ dưới lên, rất rõ ràng và dứt khoát. Người này đã ở dưới giếng từ trước, và đang cố gắng bò lên.
Lời nói của Khang khiến cả khoảng sân đình trở nên lạnh ngắt. Dân làng đứng xem xung quanh bắt đầu lùi lại phía sau, những lời bàn tán xôn xao bỗng chốc tắt ngấm, thay vào đó là sự im lặng đầy sợ hãi. Người ta nhìn cái giếng cổ bằng đá ong như nhìn một cái miệng thú khổng lồ đang chực chờ nuốt chửng bất cứ ai đến gần.
Ông Nhuận thấy tình hình không ổn, liền lớn tiếng với cán bộ công an:
- Các anh đừng nghe nó suy diễn linh tinh. Thằng Khang nó học pháp y trên thành phố nên đầu óc nó lúc nào cũng nghĩ đến chuyện ghê rợn. Giếng này sâu mười mấy mét, nước lạnh ngắt, ai mà ở dưới đó bò lên được? Tôi đề nghị các anh cứ đi tìm thằng Dậu ở mấy quán cờ bạc bên ngoài đi.
Nói rồi, ông Nhuận quay sang bảo mấy thanh niên họ Phạm đi cùng:
- Còn mấy đứa kia, lấy chổi với nước ra dội sạch cái thành giếng đi. Đình chùa là nơi tôn nghiêm, để bùn đất bẩn thỉu thế này trông ra thể thống gì.
- Không được lau!
Linh bước lên chắn trước thành giếng, tay giơ chiếc máy ảnh lên.
- Đây là hiện trường có liên quan đến một người mất tích. Các ông lau đi là đang hủy hoại chứng cứ đấy!
Mấy thanh niên họ Phạm nhìn ông Nhuận dò hỏi, rồi lại nhìn cán bộ công an xã đang đứng đó. Người cán bộ công an cũng lên tiếng:
- Đúng thế, ông Nhuận ạ. Tạm thời giữ nguyên hiện trường để chúng tôi ghi nhận đầy đủ vào biên bản đã.
Ông Nhuận hậm hực quay đi, miệng lẩm bẩm những câu chửi rủa vô nghĩa.
Khang đứng lặng lẽ bên thành giếng. Anh cúi đầu nhìn xuống lòng giếng sâu thẳm. Nước giếng hôm nay đã dâng cao hơn mọi ngày, mặt nước đen ngòm phẳng lặng như một tấm gương lớn phản chiếu bầu trời xám xịt của buổi sớm. Dưới đáy nước sâu kia, vẫn hằn lại gương mặt trương phình với cái miệng đầy bùn rêu của chú Dậu mà anh nhìn thấy đêm qua. Nhưng lúc này, dưới ánh sáng ban ngày, lòng giếng chỉ là một khoảng tối sâu thẳm không đáy.
Từ phía cổng đình, bóng dáng gầy gò của ông Từ Lễ xuất hiện. Ông cụ mặc chiếc áo dài đen cũ kỹ, tay cầm một chiếc chổi tre nhỏ. Ông không đi vào đám đông mà đứng từ xa, mắt nhìn chăm chằm vào mảnh vải trắng đang được công an bỏ vào túi tang vật.
Khang bước lại gần ông Từ Lễ.
- Ông Từ,
Khang nói nhỏ.
- Đêm qua ông bảo dưới giếng này không chỉ có nước. Mảnh áo tang này là của chú Dậu. Ông biết chuyện gì đang xảy ra đúng không?
Ông Từ Lễ không nhìn Khang, mắt ông vẫn hướng về phía giếng cổ. Đôi môi khô khốc của ông mấp máy:
- Tôi đã bảo cậu rồi, đừng có động vào sợi dây thừng đêm qua. Giếng này một khi đã động, nó sẽ không dừng lại ở một người đâu.
- Ý ông là sao?
Ông Từ Lễ quay sang nhìn Khang, ánh mắt ông chứa đựng một sự sợ hãi sâu sắc pha lẫn vẻ cam chịu của một người đã biết trước số phận:
- Họ Phạm các người có tang chưa yên. Ba cậu đi vào giờ xấu, lại chết không toàn thây trên đường lớn. Giếng đình đã mở miệng thì phải đòi đủ.
- Đòi cái gì?
Khang gặng hỏi.
- Ba người,
ông Từ Lễ thì thầm, giọng ông nhỏ đến mức chỉ có Khang và Linh đứng cạnh mới nghe thấy.
- Trong vòng bốn mươi chín ngày kể từ khi ba cậu mất, giếng sẽ gọi đủ ba người của họ Phạm xuống dưới đó. Thằng Dậu... nó mới chỉ là người đầu tiên thôi.
Linh nghe thấy vậy liền run lên. Cô vội vàng hỏi:
- Tại sao lại là ba người? Có cách nào ngăn lại không ông?
Ông Từ Lễ lắc đầu, ông quay lưng đi về phía hậu cung của đình, vừa đi vừa lẩm bẩm những câu kinh cầu siêu bằng tiếng Hán cổ mà Khang không thể hiểu hết nghĩa. Bóng dáng ông cụ đổ dài trên sân gạch ướt, cô độc và cũ kỹ như chính ngôi đình làng này.
Đến gần trưa, công an xã hoàn thành việc lập biên bản và rời đi. Dân làng cũng tản mát dần vì cái lạnh của sương sông bắt đầu ngấm vào da thịt. Sân đình Cầu Đá trở lại vẻ vắng lặng vốn có.
Khang vẫn đứng bên giếng cổ. Anh nhìn vết bùn trên thành giếng đã bắt đầu khô đi dưới ánh nắng nhạt của buổi trưa, chuyển sang màu xám tro nhợt nhạt.
Anh thò tay vào túi áo khoác, chạm vào ống nghiệm nhỏ chứa mẫu bùn và sợi vải thô mà anh đã bí mật giữ lại một phần trước khi giao cho công an. Những vật chứng này cần được đưa về phòng thí nghiệm ở Hà Nội để xét nghiệm độc chất và cấu trúc sợi vải một cách chính xác nhất.
Linh đứng bên cạnh anh, cô đang xem lại những bức ảnh chụp vết tay trên thành giếng trong máy ảnh.
- Khang này,
Linh nói, giọng cô run run.
- Anh nhìn bức ảnh này đi.
Khang ghé mắt nhìn vào màn hình máy ảnh của Linh. Đó là bức ảnh chụp cận cảnh mảnh áo tang trắng mắc ở kẽ đá ong. Dưới ánh đèn flash, phần mép vải bị rách xơ ra có những sợi chỉ nhỏ màu đỏ đan xen vào thớ vải trắng. Những sợi chỉ đỏ này tạo thành một hình thù kỳ lạ, giống như những ký tự cổ viết bằng mực tàu đỏ mà Khang từng thấy trên những trang gia phả cũ của dòng họ.
- Đây là chỉ đỏ,
Khang nhận xét, chân mày anh nhíu chặt lại.
- Áo tang thông thường không bao giờ dùng chỉ đỏ để vắt sổ hay khâu viền. Màu đỏ là màu kiêng kỵ trong tang lễ.
- Nhưng lúc nãy tôi thấy bác Nhuận nhìn thấy mảnh vải này liền biến sắc,
Linh nói.
- Chắc chắn bác ấy biết chuyện về những sợi chỉ đỏ này.
Khang im lặng. Anh nhớ lại gương mặt sợ hãi của bác Nhuận và cái nhìn đầy đe dọa của ông trưởng họ Phạm Nhuận. Dòng họ của anh đang che giấu một bí mật khủng khiếp liên quan đến cái chết của cha anh và sự mất tích của chú Dậu. Và bí mật đó, bằng cách nào đó, lại có mối liên hệ mật thiết với chiếc giếng đá ong sau đình này.
Anh bước lại gần miệng giếng, cúi người xuống để nhìn sâu vào lòng nước một lần nữa.
Gió sông Cầu bỗng nhiên thổi mạnh, lùa qua những kẽ lá đa xào xạc. Từ sâu dưới lòng giếng tối om, nơi mặt nước đen ngòm đang lay động nhẹ, vang lên một tiếng động rất khẽ.
*Ục.*
Một bong bóng khí lớn từ dưới đáy giếng sủi lên mặt nước rồi vỡ tan. Ngay sau đó là một âm thanh trầm đục, kéo dài như tiếng ai đó vừa thở ra một hơi dài đầy mệt mỏi dưới làn nước lạnh.