Trùng Tang: Lệ Trùng - Chương 21: Vết Tay Trên Giếng
Sương mù từ sông Cầu tràn vào sân đình Cầu Đá, mang theo cái lạnh ẩm ướt của buổi sớm những ngày sau tang ở miền Bắc. Khang xốc lại cổ áo khoác, bước…
Nội dung chương
Sương mù từ sông Cầu tràn vào sân đình Cầu Đá, mang theo cái lạnh ẩm ướt của buổi sớm những ngày sau tang ở miền Bắc. Khang xốc lại cổ áo khoác, bước nhanh qua những bậc thềm gạch Bát Tràng loang lổ rêu xanh. Bên cạnh anh, ông Từ Lễ xách chiếc đèn bão đã cạn dầu, bước đi nặng nề, đôi dép cao su quẹt trên nền sân tạo ra những âm thanh sột soạt đơn điệu. Trời mới tờ mờ sáng, ánh dương chưa kịp xuyên qua những tán lá đa cổ thụ um tùm, khiến cả ngôi đình cổ chìm trong một màu xám xịt, tịch mịch.
Khang dừng lại trước tấm bia đá dựng bên cạnh giếng đình. Chiếc giếng đá ong sau đình lúc này trông như một cái miệng giếng sâu hoắm, nuốt chửng mọi ánh sáng yếu ớt của buổi bình minh. Trên thành giếng, vết bùn đất màu đỏ sẫm pha xám bám chặt vào những kẽ đá xù xì. Vết bùn vẫn còn ẩm, chưa bị gió sông thổi khô, chứng tỏ sự việc xảy ra chưa lâu.
Linh đi sau Khang vài bước, tay cô cầm chắc chiếc máy ảnh chuyên dụng. Khuôn mặt cô tái đi vì lạnh và vì nỗi sợ hãi từ đêm qua vẫn chưa tan hết. Cô đưa máy ảnh lên, điều chỉnh tiêu cự rồi bấm máy liên tục. Tiếng màn trập tanh tách vang lên khô khốc giữa không gian vắng lặng.
- Khang, anh nhìn hướng của vết bùn này đi.
Linh nói, giọng cô hơi run nhưng vẫn cố giữ sự chuyên nghiệp của một phóng viên.
- Nó kéo dài từ phía mép ngoài rồi mất hút ở mặt trong của thành giếng.
Khang không trả lời ngay. Anh mở hộp dụng cụ pháp y bỏ túi mang theo, lấy ra một chiếc thước dây cuộn kim loại và một cây thước đo tỷ lệ màu đen trắng. Anh quỳ một chân xuống nền gạch ẩm ướt, ghé sát mặt vào thành giếng đá ong để quan sát kỹ lưỡng. Mùi rêu ẩm mốc trộn lẫn với mùi bùn non ngai ngái xộc thẳng vào mũi.
Anh đặt cây thước đo tỷ lệ cạnh vết bùn lớn nhất. Vết bùn này có dạng năm vệt song song kéo dài khoảng mười hai centimet, miết chặt vào bề mặt nhám của đá ong. Đầu các vệt bùn phía trên dày và đậm màu hơn, trong khi phần đuôi vệt kéo dài xuống phía lòng giếng lại mỏng dần và có dấu hiệu bị nước rửa trôi một phần.
- Lực bám xuất phát từ phía dưới.
Khang lẩm bẩm, ngón tay đeo găng cao su của anh rà nhẹ theo đường đi của vết bùn.
- Nạn nhân đã dùng đầu ngón tay ghì chặt vào gờ đá để giữ cơ thể không bị trôi tuột xuống. Vết cào hướng từ dưới lên, móng tay bám chặt vào kẽ đá ong rỉ nước. Điều này chứng tỏ chú Dậu đã cố gắng bám trụ để không bị kéo xuống, hoặc cố trèo lên từ lòng giếng, chứ không phải trượt chân ngã từ trên xuống.
- Nghĩa là chú ấy đã ở dưới đó và cố ngoi lên?
Linh hỏi, mắt cô mở to.
- Hoặc có một dấu lạ từ dưới lòng giếng kéo chú ấy xuống, và chú ấy cố bám vào thành giếng để kháng cự.
Khang trả lời, giọng anh lạnh lùng như đang đọc một bản báo cáo khám nghiệm tử thi.
- Nhìn vào độ sâu của các vết cào trên lớp rêu đá ong này, lực kéo phải rất lớn. Móng tay của chú Dậu chắc chắn đã bị tổn thương nghiêm trọng, thậm chí có thể bị lật móng.
Ông Từ Lễ đứng bên cạnh, nghe Khang phân tích thì khẽ thở dài. Ông cụ đưa bàn tay gầy guộc, nổi đầy gân xanh lên vuốt chòm râu bạc thưa thớt. Đôi mắt ông đục ngầu, nhìn đăm đăm vào những vết cào trên đá.
- Cậu Khang này, cậu có giải thích bằng cách nào đi nữa thì người trong làng cũng không tin đâu.
Ông Từ Lễ nói, giọng trầm xuống.
- Đêm qua, rạp tang nhà thằng Dậu vẫn còn sáng đèn, người ra người vào tấp nập. Vậy mà một người đàn ông lực lưỡng như nó lại biến mất không ai hay biết, để rồi dấu vết duy nhất lại xuất hiện ở cái giếng cấm này. Họ làng đang đồn ầm lên rồi.
Khang đứng dậy, tháo găng tay cao su ra bỏ vào túi nylon. Anh quay đầu nhìn ra phía cổng đình.
Dưới bóng cây đa cổ thụ đầu làng, một nhóm dân làng bắt đầu tụ tập. Họ đứng thành từng cụm ba bốn người, mặc áo khoác dày, đầu đội mũ len để tránh sương sớm. Không ai dám bước vào sân đình, họ chỉ đứng từ xa chỉ trỏ về phía giếng cổ. Tiếng bàn tán xôn xao, đứt quãng bay theo gió sông vào tai Khang.
- Đêm qua tôi nghe tiếng bước chân lê lết ngoài ngõ.
Một giọng đàn bà trung niên cất lên, đầy vẻ kinh hãi.
- Tiếng chân đi nặng nề lắm, cứ như người ta kéo theo một bao tải nước. Đi thẳng ra hướng đình này này.
- Thằng Dậu bị nước gọi đi rồi. Tang cha nó chưa yên, giếng đình lại mở miệng. Cứ đà này thì cả họ Phạm nhà nó...
Một người đàn ông trung niên cắt ngang, giọng đầy lo ngại.
Khang nhíu mày. Những lời đồn thổi vô căn cứ này đang lan nhanh như dầu loang trên nước. Đối với một bác sĩ pháp y luôn tin vào chứng cứ vật chất như anh. Việc dân làng đổ lỗi cho các hiện tượng tâm linh chỉ là cách họ trốn tránh việc tìm kiếm sự thật hoặc che giấu một tội ác nào đó.
- Ông Từ, giếng này sâu bao nhiêu mét?
Khang quay sang hỏi ông Từ Lễ.
- Giếng này đào từ thời các cụ lập làng, sâu chừng mười lăm mét.
Ông Từ Lễ trả lời, tay chỉ xuống lòng giếng tối đen.
- Thành giếng xếp bằng đá ong nguyên khối, không dùng vôi vữa mà tự khít vào nhau. Dưới đáy giếng là một mạch nước ngầm rất mạnh, thông thẳng ra sông Cầu. Ngày xưa, lúc chưa cấm múc nước, nước giếng này quanh năm mát lạnh, không bao giờ cạn. Nhưng từ khi xảy ra chuyện...
Ông Từ Lễ bỗng dừng lại, ngậm chặt miệng như thể vừa lỡ lời nói ra điều gì cấm kỵ.
- Chuyện gì xảy ra hả ông?
Linh nhanh nhạy chộp lấy cơ hội, cô bước tới gần ông cụ, chiếc máy ghi âm cầm tay đã bật sẵn.
Ông Từ Lễ lắc đầu, ông tránh ánh mắt của Linh và Khang, quay người nhìn ra hướng bến sông.
- Chuyện cũ lâu rồi, tôi cũng không nhớ rõ. Chỉ biết là các cụ đời trước cấm không cho ai bén mảng đến múc nước giếng này nữa. Cậu Khang, nếu cậu muốn tìm thằng Dậu, tôi khuyên cậu nên ra bến sông mà tìm. Nếu nó thực sự rơi xuống giếng này, với dòng chảy ngầm mạnh thế kia, xác nó không nằm lại dưới đáy đâu.
Khang nhìn theo hướng tay chỉ của ông Từ Lễ. Qua rặng tre già chắn gió ở rìa làng, bến sông Cầu hiện ra mờ ảo trong màn sương trắng. Con sông Cầu đợt này nước cạn, để lộ những bãi bồi cát xám và những cọc tre sơn vôi cũ kỹ dùng để neo đậu thuyền bè.
- Ông bảo mạch ngầm thông ra sông?
Khang hỏi, đầu óc anh bắt đầu hoạt động để liên kết các dữ kiện địa chất.
- Nếu có dòng chảy ngầm thông ra sông, thì áp suất nước và hướng dòng chảy sẽ kéo mọi vật thể từ lòng giếng ra ngoài bến sông. Nhưng tại sao trên thành giếng lại có vết tay bám từ dưới lên? Nếu bị cuốn đi, nạn nhân phải bị hút xuống dưới đáy chứ không thể có cơ hội bám vào thành giếng ở độ cao này.
Linh cũng gật đầu đồng tình với phân tích của Khang:
- Đúng thế. Khoảng cách từ mặt nước lên đến miệng giếng lúc này cũng phải tầm ba mét. Nếu chú Dậu rơi xuống nước, chú ấy làm sao với tới thành giếng để cào cấu thế này được? Trừ khi mực nước đêm qua dâng cao lên tận sát miệng giếng.
Khang im lặng. Anh cúi xuống nhìn mặt nước giếng một lần nữa. Lòng giếng tối om, không một chút ánh sáng nào có thể xuyên qua lớp nước đen ngòm phẳng lặng. Anh lấy chiếc đèn pin chuyên dụng có độ sáng cao từ trong túi ra, bật nút nguồn rồi rọi thẳng xuống lòng giếng.
Luồng sáng mạnh mẽ của chiếc đèn pin xuyên qua màn đêm dưới lòng giếng, rọi rõ những phiến đá ong xếp chồng lên nhau tạo thành thành giếng tròn trịa. Những phiến đá này phủ đầy rêu xanh đen, vài chỗ có những sợi rễ cây đa bò ra từ kẽ đá, trông như những cánh tay khẳng khiu đang vươn xuống nước.
Mặt nước giếng hiện ra dưới ánh đèn. Nó không hề phẳng lặng như nhìn từ trên xuống bằng mắt thường. Ở trung tâm giếng, nước đang xoáy nhẹ, tạo thành một vòng xoáy nhỏ, chậm rãi. Nước giếng có màu xanh lục đậm, trong suốt nhưng lại mang lại cảm giác sâu thẳm, lạnh lẽo.
Bỗng nhiên, Linh chỉ tay xuống nước, giọng cô run lên:
- Khang! Nhìn kìa! Có dấu lạ đang nổi lên!
Khang tập trung luồng sáng đèn pin vào vị trí Linh vừa chỉ. Từ dưới lòng nước xanh lục đậm, một vật thể nhỏ màu trắng đục đang từ từ nổi lên bề mặt. Nó di chuyển rất chậm, xoay tròn theo vòng xoáy nước ở trung tâm giếng.
Khang nheo mắt nhìn kỹ. Đó là một chiếc cúc áo bằng nhựa màu trắng đục, loại cúc bốn lỗ rẻ tiền thường được dùng trên những chiếc áo tang thô sơ làm bằng vải xô. Trên chiếc cúc áo vẫn còn vương lại một đoạn chỉ ngắn màu trắng pha lẫn vài sợi chỉ đỏ mảnh.
- Chiếc cúc này...
Khang lẩm bẩm.
- Đúng là loại cúc trên chiếc áo tang chú Dậu mặc hôm qua. Tôi nhớ rất rõ vì chính tay tôi đã chỉnh lại cổ áo cho chú ấy trước khi chú ấy túc trực bên linh cữu cha tôi.
- Tại sao chiếc cúc áo lại ở dưới này?
Linh hỏi, hai tay cô nắm chặt lấy vạt áo khoác.
- Có phải chú Dậu thực sự đã...
- Chúng ta cần trục vớt chiếc cúc này lên để làm vật chứng.
Khang cắt ngang lời Linh. Anh không muốn cô tiếp tục đưa ra những giả thuyết mang tính suy đoán cảm tính.
Anh quay sang ông Từ Lễ:
- Ông Từ, trong đình có sào hay vợt lưới gì không? Tôi cần vớt cái này lên.
Ông Từ Lễ nhìn chiếc cúc áo đang trôi nổi trên mặt nước giếng, nét mặt ông hiện rõ vẻ kinh hoàng. Ông lùi lại một bước, lắc đầu quầy quậy:
- Tôi không có. Mà tôi cũng không dám động vào đồ dưới giếng đâu. Cậu Khang, tôi đã nói rồi, cái giếng này một khi đã đòi đồ của ai, cậu đừng có dại mà cướp lại.
Khang thở dài đầy ngao ngán trước sự cứng đầu của ông cụ thủ từ. Anh tự mình đi quanh sân đình, tìm kiếm xem có vật dụng gì có thể dùng được không. Sau một hồi tìm kiếm phía sau nhà kho chứa đồ tế lễ, anh tìm thấy một cây sào tre dài dùng để móc cờ hội, đầu cây sào có gắn một chiếc móc sắt nhỏ.
Anh mang cây sào tre quay lại giếng cổ. Linh đứng canh bên miệng giếng, mắt không rời chiếc cúc áo vẫn đang xoay tròn trên mặt nước.
Khang đưa cây sào tre xuống lòng giếng. Cây sào dài gần bốn mét, nhưng khi anh chọc xuống, đầu sào vẫn chưa chạm tới mặt nước. Anh phải cúi hẳn người xuống, tựa một bên ngực vào thành giếng đá ong lạnh buốt để kéo dài tầm với của cây sào.
Gió từ lòng giếng bốc lên mát lạnh, mang theo mùi của đất ẩm và một mùi hương kỳ lạ, giống như mùi tàn nhang đã tắt từ lâu. Khang cố gắng giữ thăng bằng, điều khiển đầu móc sắt của cây sào tre tiếp cận chiếc cúc áo nhựa.
Ngay khi đầu móc sắt vừa chạm vào mặt nước giếng, tạo ra những gợn sóng nhỏ lan tỏa ra xung quanh, chiếc cúc áo bỗng nhiên dừng xoay. Nó nằm im trên mặt nước một giây, rồi đột ngột, như thể bị một lực hút mạnh mẽ từ bên dưới kéo đi, chiếc cúc áo chìm thẳng xuống lòng nước sâu thẳm.
Khang khựng lại. Anh cố gắng dùng cây sào khuấy động mặt nước để tìm kiếm chiếc cúc áo, nhưng luồng sáng đèn pin rọi xuống chỉ thấy một màu nước xanh lục đậm đà, trống rỗng. Chiếc cúc áo đã biến mất hoàn toàn vào lòng giếng sâu không đáy.
- Nó chìm rồi...
Linh thì thầm, giọng cô đầy vẻ thất vọng pha lẫn sợ hãi.
Khang rút cây sào tre lên, mặt anh đanh lại. Việc chiếc cúc áo chìm nhanh như vậy dưới tác động của dòng nước xoáy là điều có thể giải thích được bằng vật lý học. Nhưng cảm giác hụt hẫng và bầu không khí u ám quanh giếng vẫn khiến anh cảm thấy không thoải mái.
Anh đặt cây sào tre xuống đất, định dùng tăm bông lấy thêm mẫu bùn trên thành giếng để gửi về phòng thí nghiệm ở Hà Nội phân tích. Anh cần phải xác định xem bùn trên thành giếng này có cùng thành phần khoáng chất và vi sinh vật với bùn ở bến sông Cầu hay không. Nếu hai mẫu bùn trùng khớp, giả thuyết của ông Từ Lễ về mạch nước ngầm thông nhau sẽ có thêm cơ sở khoa học vững chắc.
Nhưng ngay khi Khang vừa mở hộp dụng cụ ra, từ hướng bến sông Cầu bỗng vang lên những tiếng la hét thất thanh.
Tiếng hét xé toạc màn sương sớm, vọng qua những rặng tre già, dội vào sân đình Cầu Đá:
- Có người chết nổi ngoài bến đò rồi! Mọi người ơi ra xem! Có xác người trôi sông!
Dân làng đang tụ tập dưới gốc cây đa cổ thụ nghe thấy tiếng hô hoán liền nháo nhào. Họ không còn đứng chỉ trỏ nữa mà đồng loạt quay đầu, chạy ùa ra phía con đường mòn dẫn ra bến sông Cầu. Tiếng bước chân rầm rập trên đất ẩm cát sỏi vang lên dồn dập.
Khang lập tức đóng hộp dụng cụ lại. Anh nhìn Linh:
- Đi thôi. Có hiện trường mới rồi.
Linh gật đầu, cô nhanh chóng đeo dây máy ảnh vào cổ, chuẩn bị sẵn sàng. Ông Từ Lễ đứng bên giếng cổ, nhìn theo bóng hai người trẻ tuổi đang vội vã chạy đi. Ông khẽ lắc đầu, miệng lẩm bẩm một câu gì đó cầu xin tổ tiên phù hộ. Rồi lẳng lặng quay bước đi vào phía hậu cung của ngôi đình cổ, bỏ lại chiếc giếng đá ong vẫn đang rỉ nước âm thầm trong sương sớm.