Trùng Tang: Lệ Trùng - Chương 26: Nhà Chú Dậu
Gió từ sông Cầu thổi thốc qua những rặng tre khô cằn dọc đường đê, mang theo hơi nước lạnh buốt của buổi sương sớm. Khang kéo cao cổ chiếc áo khoác gió…
Nội dung chương
Gió từ sông Cầu thổi thốc qua những rặng tre khô cằn dọc đường đê, mang theo hơi nước lạnh buốt của buổi sương sớm. Khang kéo cao cổ chiếc áo khoác gió màu đen, bước đi vội vã trên con đường lát gạch nghiêng lệch dẫn sâu vào xóm cuối. Sau khi rời khỏi nhà bác Thọ với đoạn video camera an ninh kỳ lạ trong chiếc USB nằm gọn nơi túi quần, anh quyết định đi thẳng đến nhà chú Dậu. Trời vẫn chưa sáng hẳn, màn sương mù xám đục bao phủ lấy những mái ngói rêu phong của làng Cầu Đá, khiến mọi cảnh vật trông giống như một bức tranh mực tàu bị nhòe nước.
Nhà chú Dậu nằm biệt lập ở rìa làng, chỉ cách bãi bồi ven sông và nghĩa địa họ Phạm một con mương dẫn nước nhỏ. Căn nhà ngói ba gian cũ kỹ xây từ những năm tám mươi, tường vôi đã bong tróc từng mảng lớn lộ ra lớp gạch chỉ đỏ sẫm bên trong. Khi Khang bước qua chiếc cổng sắt hoen rỉ, đập vào mắt anh là khung cảnh ngổn ngang của một gia đình đang chuẩn bị đón nhận một đám tang mới. Dù cái tang của cha anh ở nhà thờ họ vẫn chưa kịp nguội nhang.
Mấy chiếc cọc tre dựng rạp nằm ngổn ngang ngoài sân gạch ẩm ướt. Dưới ánh đèn tuýp mờ tối treo tạm bợ trên cành cây nhãn cổ thụ, hai người đàn ông trong họ đang lầm lũi dùng dây kẽm buộc lại những tấm bạt xanh bị gió thổi rách góc. Họ nhìn Khang bằng ánh mắt dò xét, mệt mỏi nhưng không ai lên tiếng chào hỏi. Trong làng lúc này, sự xuất hiện của một bác sĩ pháp y như Khang luôn mang lại cảm giác không lành, giống như một điềm báo rằng cái chết sẽ bị mổ xẻ và phơi bày ra ánh sáng.
Khang bước qua bậc thềm cao vào thẳng gian bếp phía sau nhà. Khác với gian nhà trên đang được dọn dẹp để đặt ban thờ tạm, gian bếp nền gạch đất này tối tăm và lạnh lẽo hơn nhiều. Trên chiếc chõng tre đặt sát góc tường, bà Vân, vợ chú Dậu, đang ngồi bó gối. Gương mặt người đàn bà ngoài năm mươi tuổi hằn sâu những nếp nhăn của sự khắc khổ, đôi mắt sưng húp đỏ ngầu vì khóc suốt đêm qua. Chiếc áo khoác len màu xám tro trên vai bà bám đầy bụi than và mạng nhện.
- Thím Vân.
Khang khẽ gọi, bước lại gần và kéo một chiếc ghế gỗ thấp ngồi xuống đối diện.
Bà Vân ngước đầu lên, nhìn Khang bằng ánh mắt thất thần. Phải mất vài giây, bà mới nhận ra đứa cháu họ vừa từ thành phố trở về. Bà nấc lên một tiếng nhỏ, bàn tay gầy guộc, đầy những vết chai sạn vì làm ruộng bám chặt lấy chõng tre.
- Khang đấy à cháu... Chú của cháu... chú ấy đi thật rồi. Người ta vớt chú ấy lên ở bến sông, người ngợm toàn bùn đất. Cháu là bác sĩ, cháu nói cho thím nghe, sao người ta lại bảo chú ấy tự ra sông tự tử? Chú Dậu nhà cháu đâu có điên mà nửa đêm ra sông nhảy xuống?
Khang nhìn xuống nền gạch bếp. Nơi góc lò, chiếc kiềng ba chân gỉ sét nằm trơ trọi giữa đống tro tàn nguội ngắt từ ngày hôm trước. Anh cố giữ cho giọng nói của mình thật điềm tĩnh để trấn an người phụ nữ đang hoảng loạn trước mặt:
- Thím bình tĩnh lại đã. Cháu vừa kiểm tra sơ bộ thi thể của chú ở nhà xác huyện lúc chiều. Hiện tại cơ quan chức năng vẫn đang làm việc, cháu về đây là muốn hỏi thím một số chuyện xảy ra trước đêm chú mất tích. Có dấu hiệu nào bất thường trong nhà mình không thím?
Bà Vân quệt nước mắt, giọng bà run rẩy hòa lẫn trong tiếng gió rít qua khe cửa gỗ mục nát:
- Bất thường à? Có chứ, nhiều lắm cháu ơi. Từ cái hôm đám tang ba cháu xong, chú Dậu nhà thím cứ như người mất hồn. Chú ấy cãi nhau kịch liệt với mấy ông trưởng bối trong họ ngoài nhà thờ tổ. Thím đứng ngoài sân nghe thấy tiếng đập bàn đập ghế rầm rầm. Chú Dậu hét lên bảo có chết cũng không đồng ý bán khoảnh đất sát nghĩa địa họ Phạm cho người ta làm dự án. Chú ấy bảo đất ấy là đất xương máu, động vào là cả họ không yên ổn nổi đâu.
Khang hơi nhíu mày. Chi tiết về việc bán đất nghĩa địa này anh đã nghe loáng thoáng từ vài người trong làng, nhưng không ngờ chú Dậu lại là người phản đối gay gắt đến thế. Anh hỏi tiếp:
- Chú Dậu phản đối bán đất nghĩa địa, vậy những người khác trong họ phản ứng thế nào hả thím?
- Họ ép chú ấy dữ lắm.
Bà Vân thì thầm, mắt nhìn dáo dác ra phía cửa bếp như sợ có ai đó đang rình rập bên ngoài.
- Ông Chỉnh bảo đây là việc chung của cả dòng tộc, tiền bán đất sẽ dùng để trùng tu nhà thờ họ và chia cho con cháu. Họ bảo chú Dậu gàn dở, muốn cản đường làm ăn của mọi người. Đêm trước khi mất tích, chú ấy ngồi ở thềm nhà hút thuốc lào suốt đêm, miệng cứ lẩm bẩm bảo "chúng nó muốn bán cả mồ mả tổ tiên thì giếng đình sẽ không tha cho ai cả".
Khang ghi nhận thông tin này vào sổ tay cá nhân. Anh nhận thấy sự liên kết rõ ràng giữa nỗi sợ tâm linh của người dân làng và những xung đột lợi ích đất đai ngoài đời thực. Tuy nhiên, điều anh cần tìm hiểu lúc này là diễn biến của đêm chú Dậu mất tích.
- Đêm hôm kia, lúc chú Dậu đi ra khỏi nhà, thím có phát hiện ra điều gì lạ không?
Khang hỏi, mắt anh quan sát kỹ nét mặt của bà Vân.
Bà Vân bỗng run bắn lên, hai vai co rúm lại như thể vừa chạm phải một luồng khí lạnh. Bà ghé sát lại gần Khang, giọng nói chuyển sang tông trầm đục, run rẩy:
- Đêm đó trời sương mù ẩm đặc, sương mù dày đặc không nhìn rõ lối đi ngoài ngõ. Khoảng gần hai giờ sáng, thím đang ngủ thì giật mình tỉnh giấc bởi một tiếng động lạ. Tiếng gõ... cộc... cộc... cộc... vang lên từ phía gian bếp này. Nó giống như tiếng chày gỗ đang nện xuống lòng cối đá để giã cua hay giã gạo.
Khang nhìn quanh gian bếp nhỏ hẹp. Ngoài chiếc chõng tre, một chiếc tủ chạn bát bằng gỗ cũ và cái bếp lò thì góc bếp hoàn toàn trống trải.
- Nhà mình vẫn còn dùng cối đá sao thím?
Khang hỏi.
- Không.
Bà Vân lắc đầu quầy quậy, nước mắt lại trào ra.
- Cái cối đá cổ của nhà này đã bán cho mấy người mua đồ giả cổ từ ba năm trước để lấy tiền sửa lại mái ngói nhà trên rồi. Trong bếp này làm gì còn cái cối nào nữa. Nhưng thím thề với cháu là thím nghe rất rõ tiếng chày nện xuống đá ong khô khốc, cứ đều đặn, nặng nề. Thím lay chú Dậu dậy bảo nhà có trộm hay có con gì phá phách ngoài bếp. Nhưng chú ấy không trả lời thím.
Bà Vân dừng lại để thở dốc, lồng ngực phập phồng dưới lớp áo len mỏng. Khang im lặng chờ đợi, anh biết những chi tiết tiếp theo mới là mấu chốt của sự việc.
- Chú Dậu lúc đó mở mắt trừng trừng nhìn lên trần nhà.
Bà Vân tiếp tục kể, giọng lạc đi.
- Chú ấy ngồi dậy, không nói không rằng, đi thẳng đến chiếc tủ gỗ ở nhà trên. Thím chạy theo bật đèn tuýp lên thì thấy chú ấy đang lục lọi trong góc tủ, lôi ra bộ quần áo tang bằng vải xô trắng. Bộ quần áo đó là đồ tang chú ấy mặc hôm đưa tang ba cháu về, thím chưa kịp đem giặt, vẫn còn treo tạm ở đấy. Chú ấy tự mặc chiếc áo tang vào người, thắt cái dây đai chuối ngang hông rồi lẳng lặng mở chốt cửa chính bước ra ngoài.
- Thím không giữ chú ấy lại sao?
Khang hỏi gặng.
- Có chứ, thím ôm chặt lấy cánh tay chú ấy, hét lên hỏi chú đi đâu giữa đêm hôm khuya khoắt thế này. Nhưng chú Dậu khỏe lắm, người chú ấy lạnh toát như đá ngâm dưới giếng. Chú ấy gạt thím ra một cái làm thím ngã nhào xuống nền gạch. Chú ấy cứ thế bước đi thẳng ra ngõ, mắt nhìn chăm chăm về phía con đường đê dẫn ra đình làng, gọi thế nào cũng không quay đầu lại. Lúc đó chú ấy đi nhanh lắm, giống như người mộng du bị ai đó dắt tay đi vậy. Thím sợ quá chạy sang gọi hàng xóm cứu giúp, nhưng khi mọi người cầm đèn pin đuổi theo ra đến đê sông thì không thấy chú ấy đâu nữa. Chỉ còn lại sương mù và tiếng nước sông vỗ vào bờ cát.
Câu chuyện của bà Vân trùng khớp một cách kỳ lạ với những gì Khang nhìn thấy trên đoạn video camera an ninh ở bến sông của nhà bác Thọ. Cái bóng trắng đi lầm lũi trong sương mù, mặc áo tang, và hướng di chuyển thẳng về phía đình làng Cầu Đá.
Khang đứng dậy, anh nhìn quanh gian bếp một lần nữa rồi nói với bà Vân.
- Thím Vân, cháu muốn vào buồng riêng của chú Dậu để tìm xem chú có để lại giấy tờ hay tài liệu gì liên quan đến việc tranh chấp đất đai nghĩa địa không. Việc này rất quan trọng để làm rõ nguyên nhân cái chết của chú.
Bà Vân lau nước mắt, gật đầu đồng ý:
- Cháu cứ vào xem đi. Chú ấy hay để giấy tờ trong hòm gỗ nhỏ đặt dưới gầm bàn viết ở buồng trong. Chìa khóa chú ấy luôn cắm sẵn ở ổ khóa hòm.
Khang bước vào gian buồng nhỏ nằm sát gian giữa. Căn phòng tối tăm và ẩm mốc, chỉ có một chiếc giường đơn kê sát cửa sổ gỗ đóng kín và một chiếc bàn làm việc bằng gỗ xoan đào đã cũ. Trên mặt bàn phủ một lớp bụi mỏng, đặt một lọ mực Cửu Long đã cạn và vài chiếc bút bi rỉ mực. Khang cúi người xuống gầm bàn, kéo chiếc hòm gỗ nhỏ ra ngoài. Đúng như bà Vân nói, chiếc chìa khóa nhỏ bằng đồng vẫn cắm nguyên trên ổ khóa đã rỉ sét.
Anh vặn nhẹ chiếc chìa khóa. Tiếng "tạch" nhỏ vang lên khô khốc trong không gian im ắng của căn buồng. Khang mở nắp hòm gỗ, mùi giấy ẩm mốc và mùi gián chết xộc thẳng vào mũi. Bên trong hòm chứa một số sổ sách chi tiêu gia đình cũ kỹ, vài tờ hóa đơn tiền điện và một tập tài liệu được bọc cẩn thận trong một chiếc túi nilon màu xanh.
Khang lấy tập tài liệu ra, rút từng tờ giấy bên trong để kiểm tra dưới ánh sáng yếu ớt hắt ra từ chiếc điện thoại di động. Tờ giấy đầu tiên là một bản photo bản đồ ranh giới đất đai của nghĩa địa họ Phạm ven sông Cầu. Trên bản đồ, một khoảnh đất lớn chạy dọc theo mép nước bãi bồi được khoanh bằng mực đỏ, kèm theo những nét vẽ đè lên các ký hiệu nấm mộ cũ. Đây rõ ràng là phần đất đang được nhắm tới để san lấp và phân lô bán nền cho dự án biệt thự sinh thái ven sông mà người ta đang rục rịch triển khai ở huyện bên.
Tờ giấy thứ hai nằm ngay phía sau bản đồ là một cuốn sổ tay nhỏ bìa màu xanh đen. Khang lật mở trang đầu tiên. Đó là một cuốn sổ ghi chép tiền cọc bán đất. Những dòng chữ viết tay bằng bút bi đen ghi rõ tên của từng người trong họ Phạm đã đồng ý nhận tiền đặt cọc từ đại diện của công ty bất động sản. Mỗi cái tên đều kèm theo một số tiền lớn từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng, bên cạnh là chữ ký xác nhận của họ.
Khang lướt nhanh qua danh sách. Anh nhận ra chữ ký của ông Chỉnh, của chú ba, chú tư và nhiều người vai vế khác trong dòng tộc. Chỉ có một vài dòng để trống, trong đó có tên của chú Dậu và cha của Khang. Dòng tên của cha Khang có một vết gạch chéo bằng mực đỏ đã khô, bên cạnh ghi chú nhỏ: "Không đồng ý ký.
- đã mất".
Sự liên kết giữa những cái chết và việc ký giấy bán đất nghĩa địa ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong đầu vị bác sĩ pháp y. Những người phản đối mạnh mẽ nhất việc bán đất mộ tổ tiên đều đã nằm xuống trong một khoảng thời gian rất ngắn sau đám tang cha anh. Liệu đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên do áp lực tâm lý quá lớn dẫn đến đột quỵ hay tai nạn. Hay có một bàn tay vô hình nào đó đang mượn danh nghĩa "tang trùng" để loại bỏ những chướng ngại vật cuối cùng trên con đường bán đất dòng họ?
Khang tiếp tục lục lọi trong hòm gỗ và tìm thấy chiếc ví da giả màu nâu cũ kỹ của chú Dậu đặt ở góc khuất dưới đáy hòm. Chiếc ví đã sờn rách hết các góc, bám đầy bụi đất ẩm. Khang mở ví ra. Bên trong không có nhiều tiền, chỉ có vài tờ tiền giấy mệnh giá nhỏ đẫm hơi ẩm của vùng sông nước và một chiếc chứng minh nhân dân cũ mang tên Phạm Văn Dậu.
Ở ngăn khóa kéo nhỏ bên trong chiếc ví, Khang tìm thấy một mảnh giấy học sinh gấp làm tư, đã ngả sang màu vàng ố và dính những vệt mồ hôi khô loang lổ. Anh cẩn thận mở mảnh giấy ra. Trên đó chỉ có một dòng chữ viết nguệch ngoạc bằng bút bi xanh, nét chữ run rẩy dữ dội như thể người viết đang phải chịu một nỗi sợ hãi tột cùng khi đặt bút:
- Đừng bán mộ. Đất dưới sông có người nằm. Động vào giếng đình là cả họ phải trả mạng.
Khang nhìn chằm chằm vào dòng chữ. Nét chữ này đúng là của chú Dậu, anh đã từng nhìn thấy chữ viết của chú trên các giấy tờ hành chính của thôn trước đây. Dòng chữ viết vội này chứng tỏ chú Dậu đã biết trước một chuyện khủng khiếp liên quan đến khu mộ ven sông và cái giếng đình cổ. Vì thế chú mới mặc áo tang đi ra ngoài trong đêm sương mù đó.
Tiếng bước chân nặng nề từ ngoài sân vọng vào ngắt quãng dòng suy nghĩ của Khang. Anh nhanh chóng cất mảnh giấy và cuốn sổ ghi tiền cọc vào túi áo khoác, lấp chiếc hòm gỗ lại rồi đẩy nó về vị trí cũ dưới gầm bàn. Khi anh vừa bước ra khỏi gian buồng, ông Chỉnh đã đứng ở giữa nhà trên, tay chống gậy tre, gương mặt già nua đầy những nếp nhăn chảy xệ dưới ánh sáng mờ của chiếc đèn tuýp.
- Khang đấy à? Cháu vào đây làm gì thế?
Giọng ông Chỉnh khản đặc, đôi mắt đục ngầu nhìn xoáy vào Khang đầy vẻ nghi kỵ.
- Cháu chào bác. Cháu qua hỏi thăm thím Vân và xem có giúp được gì cho việc chuẩn bị tang lễ của chú Dậu không.
Khang trả lời, giọng anh vẫn giữ được sự bình thản cần thiết của một người làm nghề pháp y.
Ông trưởng họ gõ gậy xuống nền gạch một tiếng cạch khô khốc, mắt liếc nhìn về phía gian buồng trong nơi Khang vừa bước ra:
- Việc tang gia bối rối, trong nhà có nhiều đồ đạc lộn xộn. Cháu là người thành phố về, không hiểu luật lệ ở làng đâu. Việc của chú Dậu đã có họ hàng lo liệu. Cháu cứ lo tròn bổn phận làm con bên nhà cháu đi đã. Tang bên nhà cháu còn chưa hết bốn chín ngày, đừng có đi lung tung kẻo mang vận xui vào người.
Khang không đáp lại lời cảnh báo mang đầy tính răn đe của ông Chỉnh. Anh nhìn thẳng vào mắt ông lão, nhận thấy một sự né tránh rõ rệt trong ánh mắt đục ngầu ấy khi nhắc đến cái chết của chú Dậu. Có vẻ như những người trưởng bối trong họ đang cố gắng bít kín mọi thông tin liên quan đến vụ việc này càng nhanh càng tốt để không làm ảnh hưởng đến tiến độ của thương vụ bán đất nghĩa địa.
- Vâng, cháu biết rồi. Cháu xin phép thím Vân và bác cháu về trước.
Khang nói rồi gật đầu chào bà Vân đang ngồi thẫn thờ ở gian bếp.
Anh bước ra khỏi ngôi nhà của chú Dậu, để lại sau lưng tiếng bàn tán xôn xao của những người họ hàng đang kéo đến mỗi lúc một đông và mùi hương nến bắt đầu lan tỏa ra ngoài sân gạch ẩm ướt. Sương mù lúc này đã loãng đi đôi chút dưới ánh sáng yếu ớt của ngày mới, nhưng không khí trong làng vẫn ngột ngạt đến khó thở.
Khang đi bộ dọc theo con đê đất nện hướng về phía nhà mình. Đầu óc anh liên tục phân tích những dữ liệu vừa thu thập được. Vụ việc này không đơn thuần là một lời nguyền trùng tang dân gian như người làng vẫn đồn đại. Nó có động cơ kinh tế rõ ràng liên quan đến khoảnh đất nghĩa địa ven sông Cầu. Nhưng còn những chi tiết vật lý không thể giải thích bằng khoa học thông thường thì sao? Tiếng gõ cối đá trong đêm không có cối, vết tay bùn đỏ đá ong trên thành giếng đình, và cái bóng mộng du mặc áo tang tự tìm ra bến sông?
Khang dừng lại bên một gốc đa cổ thụ ven đường đê, nơi có thể nhìn bao quát được cả khúc sông Cầu đang cuộn chảy lặng lẽ và khu nghĩa địa họ Phạm nằm trải dài trên bãi bồi. Từ khoảng cách này, anh có thể nhìn thấy những cọc tre sơn vôi trắng cắm nhô lên giữa những nấm mộ đất xanh cỏ, đánh dấu ranh giới của phần đất sắp bị cắt bán.
Anh thọc tay vào túi áo khoác, chạm vào cuốn sổ ghi tiền cọc bán đất và chiếc ví da của chú Dậu mà anh đã lấy từ hòm gỗ. Khang rút cuốn sổ tay màu xanh đen ra, định bụng sẽ kiểm tra kỹ hơn danh sách những người đã ký tên nhận tiền cọc để tìm xem có manh mối nào về kẻ đứng sau vụ môi giới đất đai này hay không.
Trang giấy của cuốn sổ hơi ẩm do nằm lâu dưới gầm bàn ẩm mốc. Khang dùng ngón tay lật mở từng trang giấy mỏng. Khi anh lật đến trang giữa, nơi ghi danh sách những hộ gia đình cuối cùng chưa đồng ý ký tên, cuốn sổ bỗng nhiên bị kẹt lại. Hai trang giấy bị dính chặt vào nhau bởi một chất keo khô nào đó.
Khang dùng móng tay khẽ tách mép hai trang giấy ra. Một tiếng "xoạt" nhỏ vang lên khi lớp giấy mỏng bị xé rách nhẹ. Từ giữa kẽ hở của hai trang giấy dính liền, một nhúm bùn khô màu đỏ cam đá ong đột ngột rơi ra, rớt xuống lòng bàn tay anh.
Khang sững người lại. Nhúm bùn khô rơi xuống đất, để lại trên mặt giấy một vệt màu đỏ sẫm loang lổ. Điều khiến sống lưng anh lạnh toát là vệt bùn khô bám trên mặt giấy không phải là một vết bẩn ngẫu nhiên. Nó in hằn rõ nét hình dạng của một chiếc móng tay người dài, nhọn hoắt, cào rách một đường sâu hoắm từ dòng tên của chú Dậu kéo dài xuống dòng tên của cha Khang dưới đáy trang giấy.
Gió sông bỗng nhiên thổi mạnh lên một nhịp, làm những cành đa cổ thụ trên đầu anh xào xạc liên hồi. Tiếng chuông từ chùa Cổ Lâm phía xa lại vang lên, trầm buồn và nặng nề, tan loãng vào màn sương mù đang từ từ rút xuống mặt sông Cầu. Khang đứng im dưới gốc cây, nhìn nhúm bùn đá ong đỏ sẫm trong lòng bàn tay mình, cảm giác lạnh lẽo từ những hạt đất khô như đang thấm dần qua da thịt anh.