Trùng Tang: Lệ Trùng - Chương 5: Hai Chiếc Liềm Rỉ

Khang chưa kịp thắp nén nhang cho cha thì đã thấy hai chiếc liềm rỉ nằm chéo dưới quan tài, lưỡi quay thẳng ra cửa như chờ cắt chân người bước qua. Trong…

Nội dung chương

Khang chưa kịp thắp nén nhang cho cha thì đã thấy hai chiếc liềm rỉ nằm chéo dưới quan tài, lưỡi quay thẳng ra cửa như chờ cắt chân người bước qua.

Trong gian giữa nhà thờ họ Phạm, khói nhang đã bắt đầu tụ lại thành một làn sương mỏng, xám xịt và nồng nặc mùi quế chi pha lẫn mùi gỗ mục. Trời mưa phùn rả rích từ chiều khiến những tấm áo xô, khăn tang treo trên sào tre ngoài hiên không thể khô nổi, bốc lên thứ mùi ẩm ướt, lạnh lẽo đặc trưng của những đám hiếu ở làng cổ ven sông. Dưới ánh sáng tù mù của mấy ngọn nến sáp cắm trên chân đế đồng rỉ xanh, chiếc quan tài gỗ ngọc am màu nâu đỏ của ông Thành nằm im lìm trên hai chiếc đòn khiêng bằng tre đực.

Khang quỳ một chân xuống nền gạch bát tràng màu đỏ tối. Nền gạch lạnh buốt thấm qua lớp vải quần tây mỏng, nhưng anh không bận tâm. Đôi mắt anh đổ dồn vào khoảng không gian tối tăm dưới gầm quan tài. Ở đó, hai chiếc liềm cắt lúa bằng sắt đã hoen rỉ hoàn toàn, lưỡi cong vút như hai vầng trăng khuyết màu cam xỉn, đặt chéo nhau thành hình chữ X. Phần cán gỗ của chúng đã mục nát, được buộc chặt bằng một sợi vải tang màu trắng thô ráp.

Khang đưa tay định chạm vào cán chiếc liềm thì một mùi ngai ngái xộc thẳng vào mũi. Anh rụt tay lại, nheo mắt nhìn kỹ. Trên sống lưỡi liềm bám một lớp bùn ướt màu đỏ nâu, đọng lại thành từng giọt đục ngầu chưa kịp khô. Thứ mùi này không phải mùi bùn đất ruộng bãi thông thường ngoài đê sông Cầu. Nó mang vị ngọt lợ, tanh nồng của nước tù đọng lâu ngày dưới lòng đất sâu. Đó chính là thứ mùi mà Khang đã ngửi thấy đêm qua trong phòng mổ tử thi của bệnh viện tỉnh, khi anh tự tay rạch phế quản của cha mình và hút ra dòng dịch đục ngầu chứa đầy cát mịn.

- Khang! Mày làm cái gì đấy?

Tiếng quát lớn của bác Nhuận vang lên từ phía bàn thờ tổ làm mấy bà cô đang ngồi têm trầu ở góc nhà giật nảy mình. Bác Nhuận, người bác cả của Khang, đang lóng ngóng cầm ống nhang bằng tre, mặt đỏ gay vì hơi rượu và sự giận dữ. Ông ta bước vội lại gần quan tài, đôi mắt trợn ngược nhìn đứa cháu trai vừa từ thành phố về.

Khang đứng thẳng người dậy, phủi bụi trên gối quần, giọng anh vẫn giữ tông sắc lạnh lùng của một bác sĩ pháp y thường xuyên đối mặt với các vụ án mạng:

- Ai đặt hai cái liềm này dưới quan tài ba tôi?

Bác Nhuận giật mình, vội vàng tránh ánh mắt sắc như dao mổ của Khang. Ông ta quay mặt đi, vờ như đang chỉnh lại bức rèm tang màu vàng úa treo trước linh cữu, giọng nói có phần lắp bắp:

- Việc... việc của các cụ lo liệu. Mày đi học trên Hà Nội mười mấy năm, biết gì về lệ làng mà hỏi? Lo mà thắp nhang cho ba mày đi.

- Ba tôi chết vì tai nạn giao thông trên đường quốc lộ, tại sao dưới quan tài lại đặt hai thứ hung khí dính bùn đất này?

Khang bước lên một bước, giọng anh đanh lại, vang vọng khắp gian nhà cổ.

- Các người có biết tự ý thay đổi hiện trường và đặt những vật thể lạ quanh thi thể là gây cản trở công tác điều tra không? Tôi cần giữ hai chiếc liềm này lại để bàn giao cho công an huyện làm rõ nguồn gốc bùn đất bám trên đó.

Nghe đến hai từ "công an", cô Mận đang ngồi sụp dưới đất bỗng khóc rống lên. Bà ta bò rạp đến bên chân Khang, hai tay bám chặt lấy gấu quần anh, nước mắt nước mũi giàn giụa trên khuôn mặt đầy nếp nhăn:

- Khang ơi, cô lạy con! Con đừng nói gở thế mà tội nghiệp ba con. Ba con mất vào giờ hiểm, chết ngoài đường ngoài chợ chứ có được nằm ở nhà đâu. Thầy cúng đã bảo rồi, tang này chưa yên đâu con ơi. Nếu không đặt liềm cắt đường để chặn vong, ba con đi sẽ dắt theo người sống trong nhà đi cùng đấy. Cả họ Phạm này trông vào việc cúng bái để cầu an, con đừng có phá lệ của các cụ mà hại chết cả nhà!

Khang cúi xuống nhìn người cô ruột của mình. Sự sợ hãi hiện rõ trong từng thớ thịt trên khuôn mặt bà ta. Đó không phải là sự đau đớn trước cái chết của người em trai. Trong mắt bà ta chỉ có nỗi khiếp nhược trước thứ luật lệ nghiệt ngã đã bám rễ vào đầu óc dân làng Cầu Đá từ nhiều đời nay.

Từ phía sau bức rèm che bàn thờ tổ, một người đàn ông trung niên mặc áo chùng xanh, đầu đội mũ mấn bước ra. Đó là thầy cúng Viễn, người vẫn thường lo liệu các nghi thức ma chay cho cả làng Cầu Đá suốt mấy chục năm qua. Tay ông ta cầm một nén nhang lớn đang cháy dở, khói tỏa ra mù mịt mang theo mùi tàn nhang nồng nặc đến nghẹt thở.

- Cậu Khang mới ở thành phố về nên chưa hiểu sự đời,

Thầy cúng Viễn cất giọng trầm khàn, đôi mắt ti hí nhìn chằm chằm vào đôi găng tay cao su y tế mà Khang đang rút ra từ túi quần.

- Ông Thành mất vào giờ Dần, lại chết tức tưởi ngoài đường. Người chết kiểu này linh hồn không tiêu tán, dễ quay về tìm người thân thiết nhất để kéo đi cùng. Hai chiếc liềm rỉ này là vật trấn áp, lưỡi liềm quay ra cửa để cắt đứt sợi dây liên kết âm dương, ngăn không cho vong hồn quay lại quấy nhiễu ngôi nhà này. Cậu không được động vào, kẻo rước họa vào thân.

Khang cười nhạt, nụ cười không chút hơi ấm trên khuôn mặt góc cạnh. Anh chậm rãi đeo đôi găng tay cao su màu xanh nhạt vào từng ngón tay, tiếng cao su co giãn phát ra những âm thanh sột soạt khô khốc giữa gian nhà thờ im phăng phắc.

- Tôi là bác sĩ pháp y, tôi chỉ tin vào những gì nhìn thấy và chứng minh được bằng khoa học,

Khang vừa vuốt phẳng lớp cao su trên cổ tay vừa nói.

- Ba tôi chết ngạt nước. Trong phổi ông ấy đầy nước giếng và bùn đỏ đá ong. Hai chiếc liềm này cũng dính thứ bùn đất tương tự. Đây không phải là vật trấn áp tâm linh, đây là vật chứng của một vụ án mạng. Có người đã mang thứ bùn đất từ giếng đình vào đây đặt dưới xác ba tôi. Các người đang bao che cho kẻ giết người bằng những trò cúng bái vô căn cứ này.

Lời nói của Khang như một gáo nước lạnh dội vào gian nhà thờ họ. Mấy người đàn ông họ Phạm đứng gần đó bắt đầu xôn xao, nét mặt ai nấy đều lộ vẻ tức giận và hoang mang. Một người chú họ bước lên, chỉ tay vào ngực Khang:

- Mày đi học trên Hà Nội rồi về đây dạy khôn cả họ à? Mày bảo ai giết ba mày? Ba mày tự lao xe xuống mương nước ngoài lộ, công an người ta đã khám nghiệm xong xuôi mới cho mang xác về. Giờ mày về đây đòi làm loạn lên để cả họ bị thiên hạ cười chê đúng không? Mày có coi dòng họ này ra gì không hả Khang?

- Cháu đi Hà Nội lâu rồi, việc họ không đến lượt cháu phá,

Một người khác phụ họa vào, giọng đầy vẻ hằn học.

- Cứ để thầy Viễn làm lễ. Mày cậy làm bác sĩ rồi muốn làm gì thì làm ở cái nhà này à?

Đúng lúc cuộc tranh cãi đang lên đến đỉnh điểm, từ phía cửa ngách dẫn vào nhà thờ họ, một bóng người cao lớn bước ra. Đó là trưởng họ Phạm Văn Hào. Ông ta đã ngoài sáu mươi, tóc bạc trắng, khuôn mặt nghiêm nghị và đôi mắt sâu hoắm đầy uy quyền. Sự xuất hiện của ông Hào khiến cả gian nhà lập tức im phăng phắc. Tiếng kèn đám ma ngoài sân bỗng nhiên hụt một nhịp dài, tạo ra một âm thanh rè rè chói tai rồi tắt hẳn.

- Có chuyện gì mà ồn ào trước linh cữu người chết thế này?

Giọng ông Hào trầm và nặng, vang vọng khắp gian nhà cổ.

Bác Nhuận vội vàng bước lại gần, phân bua:

- Anh Hào, thằng Khang nó vừa về đã đòi dẹp hai chiếc liềm cắt trùng dưới quan tài chú Thành. Nó còn bảo công an điều tra lại cái chết của chú ấy, nói trong họ có người hại chú Thành.

Trưởng họ Phạm Văn Hào nhìn Khang bằng ánh mắt lạnh lùng, không chút cảm xúc. Ông ta bước đến trước bàn thờ, chắp tay vái ba vái trước di ảnh ông Thành. Xong, ông ta mới quay lại nhìn cháu trai:

- Khang, mày về muộn. Không lo liệu được việc tẩm liệm cho ba mày từ đầu thì giờ phải để yên cho mọi người làm lễ. Xác ba mày đã về đến đất họ Phạm thì phải theo lệ của họ Phạm. Mày không được tự ý thay đổi bất cứ thứ gì trong gian thờ này. Mọi việc ở đây đã có ta và các trưởng bối quyết định.

- Lệ của họ Phạm?

Khang không hề chùn bước trước uy thế của người trưởng họ. Anh nhìn thẳng vào mắt ông Hào.

- Có phải cái lệ đã khiến mẹ tôi hóa điên suốt hai mươi năm qua không? Hai mươi năm trước, khi chú họ tôi chết đuối ở bến sông Cầu, các người cũng dùng cái gọi là lệ trùng để ép mẹ tôi đi làm lễ cắt trùng trong đêm ở miếu hoang. Mẹ tôi đi về thì phát điên, cả đời sống trong viện tâm thần. Giờ các người lại muốn dùng thứ lệ đó để áp đặt lên cái chết của ba tôi?

Nhắc đến người mẹ điên của Khang, không khí trong nhà thờ họ bỗng chốc chùng xuống một cách nặng nề. Bác Nhuận mặt tái mét, vội vàng tránh ánh mắt của Khang. Cô Mận thì che mặt khóc nấc lên, không dám nói thêm lời nào. Nhiều người lớn tuổi trong họ bắt đầu nhìn nhau với vẻ e ngại, như thể một bí mật đen tối vừa bị khơi lại giữa ban ngày. Không ai dám ho he một lời, chỉ còn tiếng mưa bụi rơi lộp bộp trên mái bạt nilon ngoài sân.

Khang quay đầu nhìn lên di ảnh của ba mình. Bức ảnh thờ của ông Thành mới được rửa vội, đặt trang trọng giữa bàn thờ đầy hoa cúc vàng và nến sáp. Dưới ánh sáng lập lòe của ngọn nến, Khang bỗng phát hiện ra một chi tiết kỳ lạ. Ở góc dưới bên trái của khung ảnh thờ, có một giọt nước nhỏ đang từ từ chảy xuống dọc theo mặt kính, để lại một vệt mờ đục.

Gian nhà thờ họ lúc này vô cùng ngột ngạt, nhang đèn cháy nghi ngút tỏa nhiệt nóng hừng hực, không hề có gió lùa vào từ phía cửa chính vốn đã được che bằng tấm bạt nilon dày để tránh mưa phùn. Vậy mà giọt nước kia vẫn xuất hiện trên mặt kính ảnh thờ, lạnh ngắt và đục ngầu như thể vừa rỉ ra từ bên trong bức ảnh.

Khang không nói một lời, anh rút từ túi ngực ra một chiếc khăn giấy sạch và một chiếc túi zip nhỏ dùng để đựng mẫu vật pháp y. Anh bước lên bục thờ trước sự kinh ngạc của thầy cúng Viễn và trưởng họ Hào. Khang áp sát chiếc khăn giấy vào mặt kính khung ảnh, nhẹ nhàng thấm lấy giọt nước đục kia, rồi cẩn thận bỏ vào túi zip và miết chặt miệng túi lại.

Một bà cụ trong họ ngồi ở góc thềm nhìn thấy hành động của Khang liền run rẩy lùi lại phía sau, miệng lẩm bẩm những lời vô nghĩa:

- Tang chưa yên... nước giếng lại về rồi... tang chưa yên đâu...

- Đừng động vào ảnh thờ!

Trưởng họ Hào gằn giọng, bước tới định ngăn Khang lại nhưng anh đã nhanh tay đút chiếc túi zip vào túi áo trong của mình.

Đúng lúc không khí đang căng thẳng như sợi dây đàn sắp đứt, từ ngoài hiên nhà thờ họ, một bóng người già nua, gầy gò bước vào. Đó là ông Từ Lễ, người thủ từ của đình làng Cầu Đá. Ông Lễ mặc chiếc áo dài đen đã sờn vai, chân đi đôi dép cao su cũ kỹ, khuôn mặt đầy những nếp nhăn sâu hoắm như vỏ cây đa cổ thụ. Ông không bênh vực ai, chỉ lững thững tiến lại gần quan tài ông Thành, cúi đầu nhìn xuống hai chiếc liềm rỉ dưới gầm.

Ông im lặng một lúc lâu, rồi cất giọng khàn khàn, nhỏ nhẹ nhưng đủ để mọi người trong gian nhà nghe thấy:

- Liềm đã đặt xuống rồi, nhang đầu chưa tàn thì đừng rút. Rút sai lúc thì người trong nhà tang phải coi chừng giếng.

Khang quay sang nhìn ông Từ Lễ:

- Ông Lễ, ông cũng tin vào những trò nhảm nhí này sao? Hai chiếc liềm này rõ ràng có dính bùn đỏ từ giếng đình. Tại sao nó lại xuất hiện dưới gầm quan tài của ba tôi ngay trong đêm đầu tiên đưa tang?

Ông Từ Lễ ngước đôi mắt đục ngầu lên nhìn Khang, lắc đầu thở dài:

- Cậu Khang còn cứng thế, giếng nó gọi sang người sống thì ai chịu? Tôi chỉ nói thế thôi, nghe hay không tùy nhà họ Phạm các người.

Nói rồi, ông Từ Lễ quay lưng đi ra phía hiên, bóng dáng gầy gò chìm dần vào làn mưa bụi mờ ảo ngoài sân đình.

Khang không để ý đến lời cảnh báo của ông Từ Lễ. Đối với anh, mọi sự im lặng và những lời nói mập mờ của người làng chỉ là cách họ bao che cho một sự thật đáng sợ nào đó. Anh quyết định phải tự mình làm rõ.

Khang cúi người xuống, luồn tay vào dưới gầm quan tài gỗ. Bàn tay đeo găng cao su của anh nắm chặt lấy phần cán gỗ của một chiếc liềm rỉ. Cảm giác lạnh buốt từ gỗ ẩm truyền qua lớp cao su mỏng khiến các ngón tay anh khẽ co rút lại.

- Khang! Dừng tay lại!

Bác Nhuận hét lên, định lao vào ngăn cản nhưng đã quá muộn.

Khang dùng lực kéo mạnh chiếc liềm ra ngoài. Ngay khi chiếc liềm sắt rời khỏi vị trí chéo nhau dưới gầm quan tài, một tiếng *tách* nhỏ vang lên dưới nền gạch bát tràng. Từ kẽ hở giữa hai viên gạch cổ ngay dưới chân đòn kê quan tài, một vệt nước màu đen mỏng bắt đầu rỉ ra. Vệt nước không lan rộng ra xung quanh mà chảy thành một đường thẳng tắp, hướng thẳng về phía cửa chính của nhà thờ họ, giống như một con rắn đen đang bò trườn trên mặt đất.

Cùng lúc đó, ba cây nhang lớn trên bát hương chính đặt trước linh cữu ông Thành bỗng nhiên phụt tắt một nửa, tàn nhang rơi lả tả xuống mặt bàn cúng. Lửa nến trên hai cây nến sáp hai bên cũng chao đảo dữ dội dù trong nhà không hề có gió.

Khang đứng thẳng người dậy, nhấc chiếc liềm rỉ lên trước mặt mọi người dưới ánh sáng của ngọn nến lập lòe. Trên lưỡi liềm cong vút, lớp bùn đỏ đá ong bám dày đặc ở những khe rỉ sét sần sùi. Anh đưa lưỡi liềm sát vào mắt để quan sát kỹ hơn. Trong lớp bùn đỏ ẩm ướt kia, có lẫn những sợi rêu nhỏ màu đỏ tươi, loại rêu chỉ mọc trên những phiến đá ong nằm sâu dưới dòng nước lạnh của giếng đình cổ.

Khang nhấc chiếc liềm khỏi gầm quan tài, bùn ướt và một sợi tóc dài dính trên lưỡi. Ngoài bàn cúng, bát nước trong vừa đổi màu đục ngầu, váng bùn nổi lên thành một vòng tròn nhỏ trước di ảnh ông Thành.

Chương khác

Xem thêm