Trùng Tang: Lệ Trùng - Chương 6: Giếng Đình Cấm Múc

Chiếc túi zip chứa mẫu rêu đỏ nằm im lìm trong túi áo khoác của Phạm Duy Khang, tỏa ra một luồng hơi ẩm lạnh buốt bám dọc theo lồng ngực anh. Sau khi lễ…

Nội dung chương

Chiếc túi zip chứa mẫu rêu đỏ nằm im lìm trong túi áo khoác của Phạm Duy Khang, tỏa ra một luồng hơi ẩm lạnh buốt bám dọc theo lồng ngực anh. Sau khi lễ nhập quan của ông Thành hoàn tất dưới sự giám sát chặt chẽ của bác Nhuận và thầy cúng Viễn, Khang đã lặng lẽ rời khỏi nhà thờ họ Phạm. Anh biết mình không thể tìm kiếm thêm bất kỳ manh mối nào từ những người đang cố tình che đậy sự thật bằng lớp sương khói của những nghi thức cúng bái. Muốn biết thứ nước và bùn đỏ trong phổi cha mình từ đâu ra, anh phải tự đi tìm câu trả lời từ những người ngoài cuộc.

Đường làng Cầu Đá vào buổi chiều muộn ẩm ướt và vắng vẻ. Những hạt mưa phùn mùa xuân li ti giăng một lớp màn mờ đục lên những bức tường gạch trần bám rêu xám xịt. Khang đi bộ dọc theo con đường lát gạch nghiêng hướng ra phía cổng làng, nơi có vài quán xá xập xệ phục vụ cho người dân lao động và những chuyến xe khách chạy dọc đường đê sông Cầu.

Ở góc ngã ba đầu ngõ vào nhà thờ họ, quán nước chè của bà cụ béo tên lúc nào cũng nghi ngút khói từ chiếc ấm giỏ cua bọc trong bao tải cũ. Một vài người đàn ông trung niên mặc áo phao sờn rách đang ngồi hút thuốc lào vặt, tiếng điếu cày rít lên sòng sọc rồi thở ra những làn khói xám đặc, bay vật vờ trong không khí ẩm ướt.

Khang bước vào quán, kéo một chiếc ghế nhựa thấp rồi ngồi xuống. Bà cụ bán nước ngước đôi mắt kèm nhèm nhìn anh, nhận ra người con trai cả của ông Thành vừa mất đêm qua. Bà vội vàng rót một bát nước chè xanh nóng hổi, đẩy về phía anh, giọng ái ngại:

- Cậu Khang đấy à? Việc bên nhà lo xong chưa mà đã ra đây ngồi thế này? Khổ thân ông Thành, hiền lành thế mà đi đột ngột quá.

Khang đón lấy bát nước chè, hơi ấm từ đất nung truyền vào lòng bàn tay lạnh ngắt của anh. Anh không uống, chỉ đặt bát nước xuống chiếc bàn gỗ loang lổ vết nhựa chè, rồi lấy chiếc túi zip nhỏ từ trong túi áo ra. Dưới ánh sáng tù mù của bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng trên trần quán, những sợi rêu màu đỏ tươi bám trên mảnh khăn giấy hiện lên rõ mồn một như những mạch máu nhỏ.

- Bà cụ cho cháu hỏi một chút.

Khang chỉ tay vào túi mẫu vật.

- Ở quanh làng mình, có chỗ nào mọc loại rêu đá ong màu đỏ như thế này không? Cháu tìm thấy nó bám trên đồ đạc của ba cháu.

Bà cụ bán nước ghé sát mắt vào chiếc túi zip. Ngay khi nhìn thấy những sợi rêu đỏ tươi nổi bật trên nền giấy trắng, khuôn mặt đầy nếp nhăn của bà bỗng cứng đờ lại. Bà vội vàng rụt người về phía sau, chiếc muôi múc nước chè đập vào thành ấm giỏ cua vang lên một tiếng *cộp* khô khốc.

- Cái này... cậu lấy ở đâu ra đấy?

Giọng bà cụ run run, nhỏ hẳn đi.

Mấy người đàn ông đang ngồi rít thuốc lào bên cạnh cũng tò mò ghé mắt sang. Một người trung niên mặc chiếc áo khoác bộ đội cũ, tay cầm chiếc điếu cày, vừa nhìn thấy vệt đỏ trong túi zip liền biến sắc. Ông ta vội vàng đặt chiếc điếu cày xuống đất, xua tay lia lịa:

- Thôi thôi, cậu Khang cất cái thứ ấy đi. Ngày rộng tháng dài không nói, nhà đang có tang có trở, mang cái thứ rêu dưới âm ấy đi hỏi khắp làng làm gì cho xui xẻo.

Khang nhìn thẳng vào người đàn ông mặc áo bộ đội:

- Chú biết loại rêu này mọc ở đâu đúng không? Cháu là bác sĩ pháp y, cháu cần xác định nguồn gốc của nó để làm rõ nguyên nhân tai nạn của ba cháu. Chú cứ nói thật cho cháu biết đi.

Người đàn ông lắc đầu, đứng dậy phủi mông, rút trong túi ra tờ tiền lẻ đặt lên bàn rồi quay sang nói với bà cụ bán nước:

- Tôi trả tiền nước nhé bà cụ. Có việc phải đi gấp đây.

Nói rồi, ông ta vội vàng dắt chiếc xe máy cũ dựng ở rìa đường, nổ máy phóng đi thẳng vào làn mưa bụi, không thèm nhìn lại phía Khang một lần nào. Những người còn lại trong quán cũng bắt đầu nhìn nhau ái ngại. Có người giả vờ đứng dậy phủi bụi trên quần, có người cúi đầu bấm điện thoại, bầu không khí ấm cúng của quán nước chè bỗng chốc trở nên lạnh lẽo và ngột ngạt.

Bà cụ bán nước nhìn quanh quất, thấy không còn ai chú ý mới ghé sát tai Khang, nói thì thầm bằng giọng khàn đặc:

- Cậu Khang ơi, tôi khuyên thật lòng. Cậu học hành cao rộng trên thành phố, tin vào khoa học thì cứ tin, nhưng về đến cái làng này thì phải biết kiêng nể. Cái rêu đỏ như máu này, cả làng Cầu Đá chỉ có một nơi mọc được thôi. Đó là dưới lòng giếng đá ong sau đình làng.

Khang nhíu mày:

- Giếng đình sao? Cháu nhớ giếng đó đã bị bỏ hoang từ lâu rồi mà?

- Bỏ hoang thì bỏ hoang, nhưng nước dưới ấy có bao giờ cạn đâu.

Bà cụ thở dài, tay run rẩy lau chiếc bàn gỗ bằng chiếc giẻ rách.

- Từ cái hồi tôi còn con gái, các cụ đã cấm không cho ai bén mảng đến múc nước giếng đình nữa rồi. Nhất là những nhà đang có tang, tuyệt đối không được dùng nước giếng ấy để tẩy uế hay cúng bái. Người ta đồn rằng nước giếng đình là nước thông xuống âm ti, nhà nào đang có người chết mà động vào nước ấy là giếng nó lại gọi thêm người đi theo đấy.

Một ông xe ôm già ngồi ở góc quán nãy giờ vẫn im lặng, lúc này mới đặt chén trà xuống, chép miệng xen vào:

- Bà cụ nói thế còn nhẹ đấy. Cậu Khang chưa biết chuyện hồi xưa rồi. Cái giếng đá ong ấy xây từ thời các cụ tổ họ Phạm nhà cậu còn làm chánh tổng cơ. Giếng sâu lắm, thành giếng xây toàn bằng đá ong đỏ lấy từ vùng đồi bên Bắc Giang chở về. Ban ngày ban mặt thì người ta còn dám đi qua lối ấy để ra bến sông Cầu, chứ cứ từ lúc chạng vạng tối cho đến sáng hôm sau, đố có đứa nào dám bén mảng lại gần soi mặt xuống giếng.

- Tại sao lại không dám soi mặt?

Khang gặng hỏi.

- Thì người ta bảo soi xuống đấy không thấy mặt mình đâu, chỉ thấy một cái bóng trắng lờ mờ bò từ dưới đáy lên.

Ông xe ôm rùng mình, kéo cao khóa chiếc áo phao cũ kỹ.

- Có người yếu bóng vía soi xong về ốm liệt giường ba ngày rồi chết. Từ bấy đến nay, giếng đình bị cấm múc nước hoàn toàn. Người ta còn làm cả một cái nắp bê tông đè lên, nhưng không hiểu sao cứ qua một thời gian là cái nắp ấy lại bị xê dịch đi, như có ai từ dưới đẩy lên vậy.

Khang chăm chú nghe từng lời kể của hai người lớn tuổi. Những câu chuyện nhuốm màu liêu trai này đối với một bác sĩ pháp y như anh hoàn toàn vô giá trị về mặt khoa học, nhưng chúng lại chỉ ra một địa điểm cụ thể: giếng đình Cầu Đá. Loại rêu đá ong đỏ bám trên chiếc liềm rỉ dưới gầm quan tài và trong phế quản của cha anh rất có thể xuất phát từ chính lòng giếng này.

Anh đứng dậy, rút tiền trả nước chè rồi gật đầu chào bà cụ bán nước.

- Cậu Khang đi đâu đấy?

Bà cụ gọi giật giọng phía sau.

- Trời sắp tối hẳn rồi, đừng có ra phía đình làng vào giờ này. Giờ Dậu sắp qua rồi, khí lạnh dưới sông bốc lên độc lắm!

Khang không trả lời. Anh bước nhanh ra khỏi quán, rẽ vào con đường đất nhỏ dẫn ra phía sau đình làng Cầu Đá.

Đình Cầu Đá là một ngôi đình cổ được xây dựng từ cuối triều Nguyễn, nằm sát bên bờ sông Cầu. Ngôi đình có mái ngói vảy rồng đã xỉn màu đen kịt vì thời gian, những đầu đao cong vút chỉ thẳng lên bầu trời xám xịt của buổi chiều muộn. Xung quanh đình là những cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi, rễ phụ thả xuống lòng đất như những cánh tay khổng lồ, khẳng khiu bám chặt lấy những phiến gạch cổ.

Khang đi vòng qua bức bình phong loang lổ vết vôi vữa tróc lở, hướng về phía sau đình, nơi có một khoảng đất trống um tùm cỏ dại. Mùi nước sông ngai ngái lẫn với mùi bùn non bốc lên nồng nặc theo từng cơn gió lạnh thổi từ phía bến sông vào.

Nằm khuất dưới tán lá rậm rạp của một cây đa cổ thụ là giếng đình.

Giếng được xây bằng những phiến đá ong đỏ sần sùi, xếp chồng lên nhau thành một vòng tròn hoàn hảo có đường kính khoảng hơn hai mét. Lớp đá ong màu đỏ nâu vốn dĩ khô ráp nay bị ẩm ướt do mưa phùn, trông như một vết thương lớn đang rỉ máu trên nền đất xám. Xung quanh thành giếng, cỏ dại và cây xấu hổ mọc um tùm, che khuất một phần những phiến đá cổ.

Khang bước lại gần. Anh quan sát thấy trên miệng giếng có một chiếc nắp đậy bằng bê tông cốt thép đã cũ nát, các góc cạnh bị sứt mẻ trơ cả những thanh sắt rỉ sét bên trong. Đúng như lời ông xe ôm nói, chiếc nắp bê tông này không đậy khít miệng giếng mà bị lệch sang một bên, tạo ra một kẽ hở rộng chừng hai gang tay.

Một chiếc gàu sắt rỉ sét kết nối với sợi dây thừng gai mục nát nằm lăn lóc bên cạnh thành giếng. Sợi dây thừng đã chuyển sang màu đen xỉn, bám đầy bùn đất và rêu xanh, một đầu dây vẫn còn thả thõng xuống kẽ hở của miệng giếng.

Mùi ngọt ngai ngái, hơi giống mùi nước sông bị tù đọng lâu ngày kết hợp với mùi tàn nhang ẩm ướt bốc lên từ kẽ hở của nắp giếng. Khang đưa tay lên mũi, khẽ nhíu mày. Mùi hương này rất quen thuộc, nó giống hệt mùi nước mà anh đã ngửi thấy khi tiến hành hút dịch phổi cho cha mình tại nhà xác bệnh viện huyện đêm qua.

Khang tiến thêm một bước, định ghé sát mắt nhìn vào kẽ hở của miệng giếng thì từ phía sau đình, tiếng bước chân lẹt quẹt trên nền gạch ẩm vang lên phá tan bầu không khí tĩnh mịch.

- Ai đấy? Đã bảo giờ này không được lởn vởn ở khu vực giếng đình rồi cơ mà!

Khang quay đầu lại. Dưới ánh sáng chạng vạng của buổi chiều muộn, bóng dáng gầy gò của ông Từ Lễ hiện ra. Ông mặc chiếc áo dài đen sờn cũ, tay cầm một chùm chìa khóa sắt lớn, bước đi hơi khập khiễng. Khuôn mặt đầy những nếp nhăn sâu hoắm của ông hiện lên vẻ nghiêm nghị và có phần giận dữ khi thấy Khang đang đứng sát miệng giếng.

- Cậu Khang đấy à?

Ông Từ Lễ dừng bước, giọng khàn khàn nhưng chứa đựng sự cảnh cáo rõ rệt.

- Sao cậu lại ra đây? Nhà đang có đại tang, cậu không ở nhà chịu tang cha, lo túc trực bên quan tài mà lại chạy ra cái chỗ âm khí nặng nề này làm gì?

Khang đứng thẳng lưng, đối diện với thủ từ của đình.

- Cháu chào ông Lễ. Cháu ra đây để tìm hiểu một vài việc liên quan đến cái chết của ba cháu. Cháu muốn biết tại sao trong phổi của ba cháu lại có bùn đá ong và loại rêu đỏ chỉ mọc dưới giếng này.

Ông Từ Lễ nghe vậy liền biến sắc. Chùm chìa khóa sắt trong tay ông khẽ va vào nhau tạo ra những tiếng *lách cách* khô khốc. Ông bước tới, đứng chắn giữa Khang và miệng giếng đá ong, giọng nói trầm xuống đầy đe dọa:

- Tôi đã nói với cậu ở nhà thờ họ rồi. Chuyện của họ Phạm các người thì tự các người giải quyết, nhưng cái giếng này là của chung cả làng Cầu Đá, không ai được phép động vào. Cậu Thành mất là do số mệnh đã đến hạn, cậu đừng có đi bới móc những chuyện không đâu rồi làm động đến những thứ dưới giếng.

- Số mệnh gì chứ?

Khang nâng giọng, sự duy lý của một bác sĩ pháp y khiến anh không thể chấp nhận những lời giải thích vòng vo này.

- Ba cháu chết ngạt nước trên cạn. Khám nghiệm cho thấy nước trong phổi ông ấy là nước ngọt có lẫn bùn và rêu đá ong đỏ. Rõ ràng có kẻ đã dìm ba cháu xuống nước trước khi tạo ra hiện trường tai nạn giả trên đường đê. Và cái giếng này là nơi duy nhất có loại rêu đó. Ông Lễ, ông là thủ từ của đình, ông phải biết có ai đã đến đây vào đêm ba cháu gặp nạn chứ?

Ông Từ Lễ im lặng nhìn Khang bằng đôi mắt đục ngầu, sâu hoắm. Gió từ sông Cầu thổi mạnh vào sân đình, làm tà áo dài đen của ông bay phần phật. Những chiếc lá đa khô rơi lả tả trên mặt đất gạch, tạo ra những tiếng xào xạc rợn người.

- Cậu Khang ạ, cậu học nhiều chữ nghĩa trên thành phố nên cái gì cũng muốn phân tích bằng lý lẽ.

Ông Từ Lễ thở dài, giọng nói bỗng trở nên mệt mỏi.

- Nhưng có những chuyện ở cái làng này, lý lẽ của cậu không giải thích được đâu. Tôi giữ cái đình này đã ba mươi năm, chứng kiến không biết bao nhiêu chuyện kỳ lạ quanh cái giếng này rồi. Tôi chỉ khuyên cậu một câu: về nhà lo tang cho ba cậu cho chu toàn đi. Đừng đi quanh giếng sau khi trời tối nữa. Giếng đình đã cấm múc nước từ lâu, không phải tự nhiên mà người ta làm thế đâu.

Nói rồi, ông Từ Lễ quay người đi về phía cửa hậu của đình làng, bắt đầu tra chìa khóa vào ổ khóa sắt lớn để khóa cửa đình. Tiếng xích sắt va vào cánh cửa gỗ lim kêu *loảng xoảng* vang vọng trong không gian tĩnh mịch của buổi hoàng hôn.

Khang nhìn theo bóng dáng gầy gò của ông Từ Lễ khuất sau cánh cửa đình. Anh biết ông lão này đang che giấu manh mối, nhưng lúc này không phải là lúc để ép buộc ông ta nói ra. Anh cần phải tự mình thu thập chứng cứ vật lý trước khi trời tối hẳn.

Chờ cho tiếng bước chân của ông Từ Lễ đi xa dần và tiếng khóa cửa đình im bặt, Khang mới quay lại phía giếng đá ong.

Trời đã tối hẳn. Ánh sáng cuối ngày tắt lịm, nhường chỗ cho bóng tối bao trùm lấy khu vực sau đình làng. Những tán cây đa cổ thụ đan xen vào nhau tạo thành những hình thù kỳ dị, lay động theo gió như những bóng ma đang nhảy múa.

Khang rút từ túi quần ra một chiếc đèn pin chuyên dụng loại nhỏ dùng trong công tác khám nghiệm hiện trường. Ánh sáng trắng xanh, sắc lẹm từ đèn pin quét một đường thẳng tắp qua khoảng không gian tối tăm, rọi thẳng vào miệng giếng đá ong.

Anh bước đến sát mép giếng, cúi người xuống kẽ hở giữa nắp bê tông và thành giếng đá ong.

Dưới ánh sáng mạnh của đèn pin, cấu trúc bên trong của giếng hiện lên rõ ràng. Những phiến đá ong đỏ xếp chồng lên nhau đi sâu xuống lòng đất. Ở những khe hở giữa các phiến đá, nơi nước giếng ẩm ướt thường xuyên thấm qua, những thảm rêu màu đỏ tươi mọc dày đặc. Chúng bám chặt vào bề mặt đá ong xù xì, trông như những mảng da thịt bị lột trần, đỏ hỏn và ẩm ướt.

Khang đưa đèn pin soi sâu xuống dưới lòng giếng. Mặt nước giếng nằm sâu cách miệng giếng khoảng bốn mét. Nước giếng đen ngòm, phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu lại ánh sáng trắng từ đèn pin của anh. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là mặt nước không hề có một gợn sóng nào, dù gió sông ngoài kia vẫn đang thổi mạnh qua các tán cây đa.

Mùi ngọt ngai ngái bốc lên từ lòng giếng ngày một đậm đặc hơn, xộc thẳng vào mũi Khang khiến anh có cảm giác hơi chóng mặt. Anh cố gắng giữ thăng bằng, đưa đèn pin quét dọc theo thành giếng đá ong để tìm kiếm thêm dấu vết.

Khi ánh đèn pin quét qua mép đá ong ngay dưới nắp bê tông, mắt Khang bỗng khựng lại.

Trên bề mặt thô ráp của phiến đá ong đỏ ở thành giếng, có một vệt nước mới tinh kéo dài từ phía dưới lòng giếng lên đến tận mép miệng giếng. Vệt nước này đục ngầu, có lẫn bùn đất màu đỏ nâu, tạo thành hình thù giống như năm ngón tay của một bàn tay người lớn đang bám chặt vào thành đá để leo lên.

Khang nheo mắt nhìn kỹ hơn. Vệt nước hình bàn tay này vẫn còn ướt sũng, những giọt nước đục ngầu đang từ từ chảy dài xuống các khe đá phía dưới. Điều này chứng tỏ vệt nước mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu, hoàn toàn không phải là vết tích cũ từ nhiều ngày trước.

Khang đứng sững người. Một luồng khí lạnh chạy dọc từ xương sống lên đến đỉnh đầu anh. Trời chiều nay chỉ có mưa phùn li ti, lượng nước mưa không đủ để tạo ra một vệt nước chảy xiết và rõ ràng như thế này trên thành giếng vốn được che chở bởi nắp bê tông và tán cây đa rậm rạp.

Hơn nữa, hình dáng của vệt nước rõ ràng là dấu vết của một bàn tay người bám vào đá ong để nhoài người lên khỏi miệng giếng.

Khang hít chậm một nhịp để lấy lại sự bình tĩnh. Anh tự nhủ rằng đây có thể là dấu vết của một kẻ nào đó trong làng đã lẻn ra đây múc nước giếng hoặc làm một việc mờ ám trước khi anh đến. Có thể kẻ đó chính là người đã đặt hai chiếc liềm rỉ dưới gầm quan tài cha anh, hoặc liên quan trực tiếp đến cái chết của ông Thành.

Anh quyết định phải kiểm tra trực tiếp vệt nước này để xác định xem nó có chứa cùng loại bùn và rêu đỏ như mẫu vật anh đang giữ hay không.

Khang tắt đèn pin để tránh gây sự chú ý từ phía đình làng. Anh quỳ một chân xuống nền gạch ẩm ướt bên cạnh miệng giếng, thò tay qua kẽ hở của nắp bê tông, hướng ngón tay về phía vệt nước hình bàn tay trên thành đá ong đỏ.

Khoảng không gian dưới nắp giếng tối đen như mực và lạnh buốt. Khang có thể cảm nhận được hơi lạnh ẩm ướt từ lòng giếng sâu thẳm đang bốc lên, bao trùm lấy cánh tay anh.

Ngón tay trỏ đeo găng cao su của Khang từ từ chạm vào vệt nước trên thành giếng đá ong.

Ngay khi đầu ngón tay anh tiếp xúc với vệt nước, một cảm giác lạnh buốt đến thấu xương lập tức truyền qua lớp cao su mỏng, khiến toàn bộ cánh tay anh run lên bần bật. Cảm giác lạnh này không giống như cái lạnh của nước mưa thông thường, mà nó buốt giá và tê dại như thể anh vừa chạm vào một tảng băng trôi dưới lòng đất sâu.

Khang rút tay lại ngay lập tức. Anh bật đèn pin lên để kiểm tra đầu ngón tay của mình.

Trên lớp cao su màu xanh nhạt của chiếc găng tay pháp y, có bám một lớp bùn mỏng màu đỏ nâu, lạnh ngắt và nhớp nháp. Dù trời không hề mưa to và khu vực thành giếng này được che chắn khá kỹ, nhưng thứ bùn trên ngón tay Khang vẫn ướt sũng, tỏa ra một mùi ngọt ngai ngái đến lợm giọng.

Anh đưa ngón tay lên gần mũi để ngửi kỹ hơn. Mùi bùn này hoàn toàn trùng khớp với mùi dịch phổi của ông Thành.

Đúng lúc đó, từ dưới lòng giếng sâu thẳm, một tiếng *tõm* nhẹ vang lên, phá tan sự im lặng tĩnh mịch của đêm tối. Tiếng động nhỏ đến mức nếu không chú ý kỹ thì sẽ nghĩ đó chỉ là một giọt nước rơi từ thành giếng xuống mặt nước. Nhưng Khang biết rõ, mặt nước phẳng lặng như gương dưới kia vừa bị một vật tác động vào.

Anh lập tức rọi đèn pin xuống lòng giếng.

Mặt nước giếng đen ngòm vẫn phẳng lặng, không hề có một gợn sóng nào. Nhưng dưới ánh sáng trắng của đèn pin, Khang nhìn thấy một bóng đen mờ ảo, có hình thù giống như mái tóc dài của phụ nữ. Nó đang từ từ chìm dần xuống lòng nước sâu thẳm, rồi biến mất vào bóng tối vô tận của đáy giếng.

Khang đứng bật dậy, lùi lại phía sau vài bước. Tim anh đập liên hồi trong lồng ngực, hơi thở trở nên dồn dập. Anh nhìn chằm chằm vào chiếc nắp bê tông xiêu vẹo của giếng đình, trong đầu hiện lên hàng loạt những câu hỏi không có lời giải đáp.

Thứ bóng đen dưới lòng giếng kia là gì? Vệt nước hình bàn tay trên thành đá ong từ đâu ra? Và tại sao tất cả những manh mối về cái chết của cha anh đều dẫn về cái giếng đình bị cấm múc nước này?

Gió sông Cầu lại thổi mạnh lên, tiếng lá đa xào xạc trên đầu Khang nghe như những tiếng thì thầm, cười cợt của những linh hồn khuất lấp trong bóng đêm. Khang nắm chặt chiếc túi zip chứa mẫu rêu đỏ trong túi áo, quay người bước nhanh ra khỏi khu vực đình làng. Sau lưng anh, chiếc giếng đá ong đỏ vẫn lặng lẽ tỏa ra làn hơi lạnh buốt trong đêm tối của làng cổ Cầu Đá.

Chương khác

Xem thêm