Tứ Thập Bát Địa - Chương 13: Tin huyệt 12

Hai tuần sau đêm rằm tháng Một âm, Vĩnh đứng trên sàn bê tông tầng bốn công trình M&E ở Hà Đông. Anh mặc áo phản quang, mũ bảo hộ cài chặt, tay cầm bản…

Nội dung chương

Hai tuần sau đêm rằm tháng Một âm, Vĩnh đứng trên sàn bê tông tầng bốn công trình M&E ở Hà Đông. Anh mặc áo phản quang, mũ bảo hộ cài chặt, tay cầm bản vẽ điện khu chung cư. Dưới kia, máy đầm chạy ầm ầm. Trời cuối đông Hà Nội xám như vải bông, gió lạnh lùa qua những ô cửa chưa lắp kính.

Điện thoại trong túi quần rung lên lần thứ hai. Vĩnh không nghe lần đầu vì tiếng máy đầm át mất. Anh rút máy ra, nhìn màn hình: số máy bàn Hưng Yên, đầu số 0221. Tim anh nảy lên một nhịp. Hai tuần nay, mỗi lần thấy số Hưng Yên, anh lại nhớ tới cuộc gọi lúc sáng sớm trên xe khách. "Đừng nhận. Mày sẽ chết như cha mày."

Anh bước sang góc sàn ít ồn hơn, áp máy vào tai.

- "Alo."

Đầu dây bên kia là giọng một bà già, thều thào như tiếng gió lùa qua khe cửa: "Có phải cậu Vĩnh cháu cụ Cố không?"

- "Vâng. Bà là ai ạ?"

- "Bà là bà Mùi làng bên kia sông đây. Cậu còn nhớ không? Hôm trước cậu sang chơi, bà cho cậu coi cái la bàn của cụ Cố."

Vĩnh nhớ ra ngay. Bà cụ chín mươi tuổi, vợ liệt sĩ, chủ huyệt số 12. Căn nhà nhỏ ba gian lợp ngói đỏ, hàng cau trước ngõ, cái bàn gỗ lim kê giữa gian thờ nơi anh đặt la kinh mười bốn hôm trước. Hôm đó kim quay nửa vòng dừng chính Nam, dấu huyệt mạnh. Cháu bà giờ làm quan to trên huyện.

- "Cháu nhớ ạ. Bà có việc gì thế?"

Giọng bà Mùi run lên, khác hẳn cái run của tuổi già: "Có người đào mộ cụ nhà bà tối qua. Chúng nó đào ban đêm, không ai hay. Sáng nay bà ra đồng thăm mộ mới thấy đất tung lên. Mà cháu của bà, thằng Huy ấy, đang sốt bốn mươi độ liên tục ba ngày rồi. Bác sĩ huyện không tìm ra bệnh, chuyển lên bệnh viện tỉnh cũng không ra. Nó nằm nói sảng, cứ gọi tên ông nội nó suốt."

Bà ngừng thở một nhịp, rồi nói tiếp: "Cậu ơi, cụ Cố mất rồi, bà không biết gọi ai. Cậu có sang được không?"

Vĩnh cầm chặt điện thoại. Bàn tay trong găng bảo hộ đẫm mồ hôi. Anh thấy lại mộ chồng bà Mùi trên gò đất nhỏ cạnh bờ sông, cỏ xanh tốt quanh năm, hướng Nam nhìn ra khúc sông Hồng uốn. Đó là huyệt 12, mộ kết cụ Cố đặt năm 1984. Cháu đời hai phát quan trường. Và bây giờ có người đào.

- "Bà chờ cháu. Trưa mai cháu về."

Anh cúp máy. Công trường vẫn ầm ầm. Một công nhân đi qua, gật đầu chào. Vĩnh gật lại theo phản xạ, nhưng mắt anh không còn thấy bản vẽ trong tay. Anh chỉ thấy la kinh quay nửa vòng, dấu chân lạ quanh mộ, và một thằng cháu làm quan đang sốt mê man trong bệnh viện.

Anh xếp bản vẽ lại, đi xuống cầu thang bộ. Cần gặp sếp.

Phòng quản lý dự án nằm ở tầng một, cạnh cổng công trường. Vĩnh gõ cửa, bước vào. Ông Sơn, trưởng phòng, ngồi sau màn hình máy tính, kính lão trễ xuống sống mũi, đang bóc một gói bánh mì nhân xúc xích. Ông ngước lên, nhai vội miếng bánh mì, rồi hỏi: "Có việc gì thế Vĩnh?"

- "Em xin nghỉ phép ạ."

- "Bao lâu?"

- "Một tuần."

Ông Sơn đặt gói bánh mì xuống. "Một tuần? Thứ Hai tuần sau bên chủ đầu tư xuống nghiệm thu điện. Tầng bốn với tầng năm chưa xong, cậu đi một tuần thì ai làm?"

Vĩnh đứng yên. Anh biết tiến độ gấp. Anh cũng biết mình là người duy nhất nắm được toàn bộ hệ thống điện của dự án này. Nhưng việc ở làng không thể chờ. Anh nhìn thẳng vào mắt ông Sơn: "Cháu của một người quen em đang bệnh rất nặng. Có thể liên quan tới việc gia đình. Em phải về ngay."

- "Liên quan gì tới cậu?"

- "Gia đình em có trách nhiệm."

Ông Sơn nhìn anh một hồi lâu. Ông đã làm với Vĩnh được hơn ba năm, biết tính anh chẳng thuộc kiểu hay xin nghỉ vì chuyện cá nhân. Ông thở dài, vẫy tay: "Thôi được. Nhưng nội trong một tuần. Sang tuần tôi cần cậu đứng ở công trường. Mà này, điện thoại lúc nào cũng phải mở đấy. Tôi sẽ gọi."

- "Cảm ơn anh."

Vĩnh ra khỏi phòng, về chỗ tủ cá nhân. Anh bỏ áo phản quang, thay giày bảo hộ, xỏ lại đôi giày vải thường. Trong tủ chỉ có một bộ quần áo sạch, vài gói mì tôm, và cái túi vải đựng la kinh anh vẫn đeo chéo người mỗi ngày lên công trường. Họ nghĩ đó là túi đồ cá nhân. Chỉ Vĩnh biết bên trong là tấm đồng hai trăm năm tuổi.

Anh xếp la kinh, sổ 47 huyệt, và cuốn sách Tả Ao Bí Thư vào ba lô. Rồi anh ra bến xe Hà Đông, bắt chuyến xe khách chiều về Hưng Yên.

Xe chạy qua cao tốc, qua những cánh đồng lúa mùa khô trơ gốc rạ. Vĩnh ngồi ghế cuối, cạnh cửa sổ. Anh mở cuốn sách Tả Ao Bí Thư, lật tới trang 48. Trang giấy dó mỏng, chữ Nôm cụ Cố viết bằng bút sắt nét nhỏ, nhưng ở lề dưới có sáu dòng quốc ngữ viết bằng mực đen, nét run run vì tuổi già.

- "Mày về Đồng Cao tao không còn. Cuốn sách này chú Bá giữ, tới ngày thì đưa cho mày. Trong sổ tao để trang riêng huyệt 48. Ra gò Quẫy đêm rằm tháng Một âm, đặt la kinh dưới gốc cây gạo."

Vĩnh đọc tiếp dòng thứ tư. Cụ viết: "Tao năm bảy tám đặt mộ bà cụ Phú ở làng trên. Hôm đó về nhà thì bà nội mày đã tắt thở."

Dòng thứ năm: "Trước khi đụng tới huyệt nào đã đặt rồi, phải hỏi chú Bá."

Dòng cuối cùng, chữ nhỏ hơn hẳn, như thể cụ hạ bút chậm lại để viết cho thật rõ: "Chú Bá không có căn, nhưng biết hết."

Vĩnh gấp sách lại, nhìn ra cửa sổ. Trời chiều đổ bóng dài trên cánh đồng. Những nấm mộ rải rác trong ruộng lúa, cái xây gạch, cái chỉ là ụ đất đắp cỏ. Người chết ở giữa người sống. Đó là cách người Bắc Bộ đã làm hàng trăm năm nay.

Anh nhắm mắt, cố nhớ lại huyệt 12 trong sổ cụ Cố. Mục STT 12 ghi: năm đặt 1984; gia chủ cụ Vũ Văn Đường, liệt sĩ; địa danh làng Thượng, xã Đồng Tiến. Ghi chú: "huyệt Tý Ngọ, kim quay nửa vòng, phát quan trường, đời hai thì thôi." Cụ Cố viết rõ như một người thợ ghi sổ bảo dưỡng.

Nhưng lần này người đào chẳng phải thợ máy, mà là kẻ muốn phá.

Xe chạy qua cầu, băng qua nhánh sông Hồng. Phía xa bên bờ tây, cây gạo già của gò Quẫy nổi lên như một cái lọng đen trên nền trời nhá nhem. Cây đã trút hết lá, nhưng Vĩnh biết dưới gốc cây đó đất vẫn ấm bất thường suốt mùa đông.

Xe dừng ở đầu đê làng Đồng Cao lúc sáu giờ tối. Trời đã nhập nhoạng. Vĩnh xuống xe, ba lô trên vai, túi la kinh đeo chéo người. Gió sông thổi lạnh buốt. Anh đi bộ qua con đường làng vắng, qua những ngôi nhà đã lên đèn, qua đình làng đóng cửa im ỉm. Hàng dâm bụt trước nhà cụ Cố đã rụng gần hết hoa. Cổng vẫn khép hờ.

Nhưng ngay ngoài ngõ, dưới bóng cây nhãn cổ thụ, có một người đã đứng đợi.

Chú Bá đứng tựa vào thân cây nhãn, áo bông dày, khăn len xám, mũ kéo sụp xuống che kín hai tai. Tay trái chú cầm một cây kim đồng dài chừng gang tay. Tay phải là túi vải nhỏ, bên trong có bảy đồng tiền cổ xâu bằng chỉ đỏ.

Chú không chào. Chú chỉ nhìn Vĩnh, mắt chú sáng lên dưới vành mũ len. Rồi chú nói, giọng khàn đặc như lần nào Vĩnh mới nghe dậy sớm:

- "Chú biết cháu sẽ về."

Vĩnh dừng bước, cách chú chừng ba mét. Anh nhìn cây kim đồng trong tay chú, rồi nhìn xâu tiền cổ. Tim anh đập chậm lại. Đây chẳng phải đồ nghề của một người đi đón cháu xa về.

- "Bà Mùi gọi cho chú trước khi gọi cho cháu," chú Bá nói. "Chú chuẩn bị đồ từ chiều nay."

- "Vậy chú biết ai đào chưa?"

Chú Bá lắc đầu. "Chưa biết. Nhưng không giống bọn trộm vặt." Chú đưa cây kim đồng lên, mũi kim chỉ về phía Tây Nam, hướng làng bên kia sông. "Cháu có nhớ huyệt 12 đặt năm nào không?"

- "Tám tư."

- "Đúng. Năm đó cụ nhà mày ba mươi chín tuổi. Chú ba mươi lăm. Chú theo cụ sang sông hôm ấy. Cụ đội mưa lội xuống huyệt, ngập tới đầu gối. Lúc về cụ nói với chú một câu: 'Thằng cháu đời hai của huyệt này sẽ làm quan. Nhưng huyệt này có án sa gần quá, khí tụ nhưng không bền. Ai mà động vào là khí phản.'"

Vĩnh lặng người. Cụ Cố không ghi dòng đó trong sổ.

- "Khí phản thì sao hả chú?"

- "Khí phản thì người được phúc sẽ bị đánh ngược. Trong vòng ba ngày, sốt cao không rõ nguyên nhân, ho ra máu, nói sảng gọi tên người chết." Chú Bá nhìn thẳng vào mắt Vĩnh. "Y chang thằng cháu bà Mùi."

Gió sông thổi qua hàng dâm bụt, lá khô xào xạc. Vĩnh đã đọc về khí phản trong sách Tả Ao Bí Thư. Nhưng chữ nghĩa bốn trăm năm tuổi ấy đang xảy ra ở làng bên, với một người đàn ông năm mươi lăm tuổi nằm trong bệnh viện tỉnh, ho ra máu, gọi tên ông nội.

- "Vào nhà đi," chú Bá nói. "Chú đã nấu cơm."

Hai chú cháu vào nhà. Gian giữa bàn thờ cụ Cố vẫn còn nguyên bát nhang, di ảnh cụ nhìn thẳng ra cửa. Vĩnh để ba lô xuống sập gỗ, rồi lên gian thờ, thắp một nén hương. Lần này anh không im lặng. Anh khấn nhỏ: "Ông ơi, cháu phải đi tới huyệt ông đã đặt. Người ta đào rồi."

Khói hương bay thẳng lên, không tạt ngang. Vĩnh nhớ câu cụ Cố nói năm anh mười lăm tuổi: "Khi người khuất mặt nhận lời, khói lên thẳng. Khi họ từ chối, khói tạt ngang. Khi họ giận, khói tắt ngấm." Lúc đó Vĩnh cười, nghĩ ông dọa trẻ con. Bây giờ anh không cười nữa.

Bữa cơm tối đạm bạc: cà muối, lạc rang, rau xào, bát canh cải. Hai chú cháu ngồi đối diện nhau trên hai cái ghế đẩu gỗ. Chú Bá ăn chậm, nhai kỹ, từng động tác như một nghi thức. Vĩnh ăn ba bát cơm, dù không thấy đói. Anh biết tối nay phải có sức.

Ăn xong, chú Bá dọn bát đũa ra chậu nước ngoài sân, rồi quay vào. Chú lấy từ trong túi áo bông ra xâu bảy đồng tiền cổ, đặt lên bàn. Tiền Cảnh Hưng, đường kính khoảng hai phân rưỡi, lỗ vuông, mép tiền đã mòn vẹt vì qua tay nhiều đời. Chú đặt cây kim đồng cạnh đó.

- "Mai sáng mình sang sông," chú nói. "Trước khi động vào mộ, phải đo khí phản. Cụ dạy chú cách đo, nhưng chú không có căn nên không tự đo được. Cháu phải làm."

Vĩnh nhìn bảy đồng tiền trên bàn. "Đo thế nào?"

- "Đặt la kinh ở giữa. Cắm bảy đồng tiền quanh mộ, mỗi đồng cách nhau ba bước chân, theo bảy hướng trong hai mươi bốn hướng. Cây kim đồng cắm ở hướng mộ tọa. Nếu khí phản, kim la kinh sẽ không quay về hướng mộ nữa. Nó sẽ quay đi hướng khác."

- "Nó sẽ chỉ vào đâu?"

Chú Bá im lặng một lát. Rồi chú nói: "Chỉ vào chỗ kẻ đào đứng khi nó làm việc đó."

Vĩnh nhớ tới la kinh ở huyệt 31, kim chỉ thẳng vào mặt anh. Khi đó anh nghĩ đó là phản ứng với huyệt bỏ hoang. Nhưng bây giờ, anh bắt đầu nghi ngờ. Có thể lúc đó la kinh đã chỉ vào anh vì có người khác từng đứng ở đó trước anh.

- "Chú biết ai làm không?" Vĩnh hỏi lại lần nữa.

Chú Bá lắc đầu. "Không biết tên. Nhưng biết bọn này chẳng thuộc dân trong vùng. Cụ nhà mày ngày xưa có nói tới một bọn, chuyên đi đào mộ kết để lấy khí. Bọn này chẳng phải thầy địa lý. Chúng nó là một phái chuyên phá địa."

- "Phản phái?"

- "Người ta gọi nghề mình là chính phái, vì mình đặt mộ cho người sống hưởng phúc. Còn bọn kia đào lên, phá đi, hoặc đảo hướng, để phúc tán cho người khác hứng lấy. Nghề nào cũng có hai phía. Phía mình là đặt. Phía bọn nó là phá."

Chú Bá với tay lấy cái điếu cày, nhồi thuốc, châm lửa. Đóm lửa đỏ rực lên giây phút, rồi tắt. Chú rít một hơi dài, nhả khói. Trong ánh đèn dầu leo lét, khuôn mặt chú già nua, nhăn nheo, nhưng đôi mắt vẫn sắc.

- "Còn một việc nữa," chú nói. "Cháu phải biết. Trong sổ cụ không chỉ có huyệt 12 có khả năng bị đào."

Vĩnh nhíu mày. "Huyệt nào nữa?"

- "Huyệt 31."

Vĩnh lặng người. Huyệt 31 chính là huyệt bỏ hoang anh đã tới hai tuần trước. Huyệt mộ cha cụ Khang, đặt năm 1982. Huyệt mà khi anh đặt la kinh xuống, kim chỉ thẳng vào ngực anh.

- "Tại sao chú nghĩ vậy?"

- "Vì sáng nay chú ra đồng xem. Có dấu chân lạ trên đường đất vào huyệt 31. Dấu giày bốt, cùng loại với dấu bên huyệt 12 bà Mùi gọi kể."

Chú Bá đặt điếu cày xuống, nhìn Vĩnh qua làn khói thuốc mỏng. "Có người đang đi trước mình, cháu ạ. Nó biết mặt mình. Nó biết cụ Cố đã chết. Nó biết cháu vừa về."

Vĩnh ngồi yên. Trong đầu anh, cuộc gọi lúc sáng trên xe khách vang lên như một tiếng chuông ngân dài. "Đừng nhận. Mày sẽ chết như cha mày." Anh chưa kể cho chú Bá nghe về cuộc gọi đó. Nhưng bây giờ anh biết: đó chẳng còn là lời đe dọa suông. Đó là thông báo. Người gọi biết anh đã nhận căn. Và họ đã bắt đầu việc của họ.

Anh cúi xuống, cầm cây kim đồng trên bàn lên. Kim lạnh ngắt, nặng hơn vẻ ngoài của nó. Đầu kim sắc, nhưng không dùng để đâm. Nó sắc để đo. Để cắm vào đất, vào đúng cái điểm mà hai trăm năm trước cụ tổ Trần Nguyên đã gọi là "huyệt nhãn", con mắt của long mạch.

- "Sáng mai mình đi sớm," chú Bá nói. "Qua sông trước lúc mặt trời mọc. Phải tới mộ trước khi sương tan."

- "Tại sao?"

- "Vì sương che mắt thần. Mình đo khí phản dưới sương, âm binh không nhìn thấy."

Vĩnh không hỏi thêm. Anh đã quen với những quy tắc không giải thích được của nghề này: xuất hành đúng giờ, cắm kim đúng hướng, không đặt chân vào huyệt khi có gió thốc. Bây giờ anh hiểu mỗi quy tắc đều có lý do của nó. Chỉ là người ngoài không cần biết.

Đêm đó Vĩnh không ngủ. Anh ngồi ngoài hiên, ngước lên trời. Trăng đã khuyết, chỉ còn một mảnh cong như lưỡi liềm treo nghiêng trên nóc nhà. Sương xuống dày, phủ trắng mặt sân gạch. La kinh anh đặt cạnh bên, trên mặt ghế đẩu. Kim đứng yên. Nhưng anh biết, sáng mai khi anh đặt nó lên mặt đất huyệt 12, nó sẽ không đứng yên nữa.

Trong nhà, tiếng chú Bá thở đều đều qua vách gỗ. Chú ngủ say, dù biết ngày mai phải đối mặt với mối nguy chưa gọi tên. Có lẽ vì chú đã sống đủ lâu để không còn sợ nữa. Hoặc có lẽ vì chú đã chuẩn bị cho ngày này từ lâu rồi.

Vĩnh lấy cuốn sổ tay nhỏ trong túi áo, ghi vội vài dòng. "Huyệt 12 bị đào. Cháu cụ Mùi sốt mê man. Huyệt 31 có dấu chân lạ. Có kẻ đang đi trước mình." Anh ngừng bút, rồi viết thêm: "Cuộc gọi trên xe, đầu số ẩn, biết cha mình."

Anh gấp sổ lại. Gió sông thổi qua, lạnh đến tận xương. Nhưng đất dưới chân anh vẫn lạnh bình thường. Không ấm như đất gò Quẫy. Đất này là đất nhà cụ Cố. Đất của người sống. Đất của người đã khuất là chuyện khác. Mai anh sẽ đứng trên đất ấy, tay cầm la kinh, tay cầm kim đồng. Và anh sẽ biết ai đã đào.

Chương khác

Xem thêm