Tứ Thập Bát Địa - Chương 14: Vào nhà huyệt 12
Sương sông sáng hôm ấy dày đến nỗi Vĩnh chỉ nhìn thấy mặt nước khi đò đã ra tới giữa dòng. Chú Bá ngồi mũi đò, tay ôm túi vải đựng bảy đồng tiền cổ và…
Nội dung chương
Sương sông sáng hôm ấy dày đến nỗi Vĩnh chỉ nhìn thấy mặt nước khi đò đã ra tới giữa dòng. Chú Bá ngồi mũi đò, tay ôm túi vải đựng bảy đồng tiền cổ và cây kim đồng, lưng còng trong chiếc áo bông dày. Người lái đò quen mặt, không hỏi gì. Ông ta chỉ gật đầu khi thấy hai chú cháu xuống bến lúc năm giờ sáng, lúc sương còn vướng đầy trên những ngọn tre ven sông.
Vĩnh ngồi phía sau, một tay giữ túi la kinh, tay kia bám vào mạn đò. Nước sông Hồng mùa khô chảy chậm, lạnh đến mức hơi thở anh đọng thành khói. Bên kia sông, những nóc nhà làng lấp ló sau màn sương. Gần một tháng trước anh từng qua đây, đặt la kinh lên bàn trà nhà bà cụ chủ huyệt 12, thấy kim quay nửa vòng rồi dừng lại. Anh nghĩ chuyện chỉ dừng ở đó. Bây giờ con đò lại chở anh qua sông, với túi đồ nghề và câu hỏi chưa có lời đáp: ai đã đào mộ kết của cụ Cố, và tại sao.
Đò cập bến. Chú Bá trả tiền cho người lái đò bằng mấy tờ tiền lẻ nhàu nát, rồi hai chú cháu leo lên bờ. Con đường đất từ bến đò vào làng còn ướt sương, dấu bánh xe bò hằn sâu thành những vệt lầy. Hai chiếc xe ôm đã đợi sẵn ở đầu dốc. Vĩnh và chú Bá leo lên, xe chạy dọc đường làng, qua những ngôi nhà mái ngói đỏ, qua cái chợ nhỏ đang họp buổi sáng với vài gánh rau và một hàng thịt lợn treo móc. Mùi thịt sống và mùi khói bếp lẫn vào nhau, quyện với mùi sương sớm.
Xe dừng trước cổng nhà bà cụ. Cổng vẫn sơn đỏ như lần trước Vĩnh đến, nhưng cánh cổng giờ chỉ khép hờ. Mùi thuốc bắc thoảng ra từ phía hiên nhà, thứ mùi quen thuộc của những căn nhà có người già đau ốm. Mấy con gà đứng túm tụm dưới gốc nhãn, lông xù lên vì lạnh. Dưới mái hiên, một chiếc võng dù mắc tạm giữa hai cây cột, chăn bông đắp lên một thân người nhỏ bé, gần như lọt thỏm trong lòng võng.
Vĩnh đẩy cổng bước vào. Chú Bá theo sau, tay vẫn ôm túi vải. Tiếng bước chân trên sân gạch làm người trong võng cựa mình. Bà cụ quay mặt ra. Đôi mắt bà đã mờ đục, da mặt nhăn nheo, nhưng vẫn sáng lên một tia nhận ra khi thấy Vĩnh.
- “Thằng cháu cụ Cố,” bà nói, giọng khàn đặc, pha lẫn tiếng thở khò khè. “Cháu về đây làm gì giờ này? Ông nội cháu bảo sang thăm bà à?” Bà vừa nói vừa ho khan, từng tiếng ho sâu và mệt, kéo dài. Bà với tay lấy cái khăn mặt vắt trên thành võng, lau miệng. Vĩnh kéo chiếc ghế đẩu gỗ lại gần, ngồi xuống cạnh võng.
- “Cháu sang thăm mộ ông nhà mình, bà ạ,” anh nói. “Bà Mùi gọi điện cho chú cháu hôm qua. Bà ấy bảo mộ ông có chuyện. ” Bà cụ im lặng một lát. Rồi bà đưa tay ra hiệu cho Vĩnh chờ, với lấy chiếc điện thoại cục gạch đặt trên bàn trà cạnh võng.
Tay bà run run ấn nút, lật tới lật lui mấy lần mới mở được một tấm ảnh. Bà chìa màn hình nhỏ xíu ra cho Vĩnh xem. Trong ảnh là một người đàn ông trung niên nằm trên giường bệnh, mặt sưng phù, hai mắt thâm quầng như vừa bị đấm.
Ông ta đeo ống thở oxy, môi khô nứt, da mặt bóng nhẫy vì sốt. Phía sau là tấm rèm trắng của bệnh viện, vạch ra một khoảng sáng nhợt nhạt của đèn neon.
- “Cháu nội bà đấy,” bà cụ nói. “Thằng Huy. Năm nay năm mươi lăm tuổi, Phó Chủ tịch huyện. Sáng qua nó còn ngồi họp. Tối qua đang ăn cơm thì ho sặc sụa, máu ra đầy khăn. Người nhà đưa vào bệnh viện huyện, bác sĩ bảo viêm phổi cấp.
Nhưng đến nửa đêm nó còn ho ra máu thêm một lần nữa, họ chuyển thẳng lên Hà Nội. ” Bà buông điện thoại xuống, thở hắt ra. “Bà biết nó chẳng phải bệnh phổi. Là mộ ông nó đấy. ” Vĩnh cầm điện thoại lên, nhìn kỹ tấm ảnh thêm một lần nữa.
Anh không biết ông Huy trông thế nào trước khi ngã bệnh, nhưng khuôn mặt trong ảnh chẳng giống bệnh nhân viêm phổi bình thường. Đôi môi thâm sạm, vành mắt tím tái, trên trán có một vệt gân xanh nổi rõ từ chân tóc xuống sống mũi.
Anh từng thấy vệt ấy trên mặt một người bị trúng gió độc ngoài đồng. Nhưng ông Huy nằm ở bệnh viện huyện, rồi chuyển lên Hà Nội, chẳng nhẽ gió độc theo được vào tận phòng cấp cứu? Bà cụ kể tiếp. Tối hôm qua, khoảng mười một giờ đêm, con chó nhà bà cứ sủa về phía vườn sau.
Bà sai thằng chắt út tên Cường cầm đèn pin ra xem. Nó chạy ngược vào, mặt trắng bệch, bảo mộ ông cố bị đào. Bà lần ra, thấy cỏ trên mộ bị xới tung, đất còn tươi nguyên, dấu giày bốt lớn in hằn trên mặt đất ẩm. Dấu chân đi vào từ bờ tre, rồi trở ra cùng một lối.
- “Bà có giữ nguyên hiện trường không?” Vĩnh hỏi.
- “Bà giữ nguyên. Bà không cho ai táy máy gì cả. Chỉ lấy ni lông che tạm chỗ đất bị xới, sợ sương xuống ướt hết. Cường nó đòi lấp lại, bà gạt đi.”
Chú Bá từ nãy vẫn đứng lặng ở mép hiên, tay ôm túi vải, mắt nhìn về phía cuối vườn. Chú cúi xuống cởi dép, xắn quần lên quá mắt cá, rồi bước qua sân gạch, men theo lối mòn dẫn ra vườn sau. Cỏ dọc lối đi còn ướt đẫm sương. Vĩnh đỡ bà cụ đứng dậy, dìu bà đi theo. Bà chống gậy tre, bước chậm, nhưng ánh mắt ráo hoảnh nhìn về phía cuối vườn, nơi có nấm mộ đắp đất đỏ.
Mộ nằm dưới bóng cây xoài già, hướng mặt ra con ngòi nhỏ chảy thông ra sông. Trên mộ, cỏ xanh đã được cắt tỉa gọn gàng, nhưng ngay trước bia đá, một mảng đất hình chữ nhật bị xới sâu chừng hai gang tay. Tấm ni lông bà cụ che tạm đã bị gió đêm thổi bung một góc, để lộ lớp đất bên trong sậm màu và có những vệt lõm như bị que sắt chọc xuống. Đất ở mép vết đào còn mới, màu nâu đỏ tươi khác hẳn với lớp đất chung quanh đã sạm lại theo thời gian.
Vĩnh thả tay bà cụ ra, bước lại gần hơn. Anh quỳ một chân xuống cạnh vết đào, quan sát. Vết xới không sâu, chỉ chừng một gang tay rưỡi, nhưng rộng và đều. Đất được lấy lên rồi lấp trở lại, không nện chặt. Trên mặt đất còn in vân lòng bàn tay người đào, hoặc của một dụng cụ bọc vải. Cỏ quanh đó bị giẫm nát. Dấu giày bốt lớn đi từ bờ tre phía tây, vòng qua gốc xoài, dừng ngay trước bia mộ rồi trở ra. Những bước chân dứt khoát, như thể kẻ đào biết chính xác vị trí cần đào.
Chú Bá đứng trước mộ, quỳ một chân xuống. Chú không vội đặt tay xuống đất ngay. Chú ngồi yên một lúc, mắt nhắm lại, như lắng nghe thứ gì đó dưới lòng đất. Bà cụ đứng bên cạnh Vĩnh, tay run run chống gậy, miệng lẩm bẩm điều gì không rõ. Mấy con chim sẻ trong bụi tre kêu lên rồi im bặt. Gió sông thổi qua, làm rung rinh mấy ngọn cỏ quanh mộ.
Cuối cùng, chú Bá ấn bàn tay phải xuống mặt đất ngay đầu mộ, chỗ đất còn nguyên, không bị xới. Năm ngón tay chú xòe ra, lòng bàn tay áp sát mặt đất lạnh. Vĩnh thấy chú giữ nguyên tư thế ấy trong một khoảng thời gian đủ dài để anh đếm được hai mươi nhịp thở. Bàn tay chú nằm im trên đất, không run, không cử động. Nhưng Vĩnh thấy rõ đường gân trên mu bàn tay chú nổi lên, căng cứng.
Bà cụ thở mạnh, chống gậy lên thềm đất trước mộ. “Ông Bá này,” bà cất tiếng, giọng yếu ớt, “đất có sao không?”
Chú Bá rút tay ra, từ từ đứng dậy. Lòng bàn tay chú lấm lem đất đỏ. Chú nhìn xuống bàn tay mình một lúc, rồi nhìn lên bà cụ.
- “Đất bị đảo hướng,” chú nói. Bà cụ nhíu mày. “Đảo hướng là sao? ” Chú Bá phủi tay vào vạt áo bông, chỉ vào con ngòi phía trước mộ. “Mộ này nguyên tọa Tây Bắc, hướng Đông Nam, đón khí từ ngòi kia dẫn vào. Tay tôi vừa đặt xuống, không thấy luồng ấm từ hướng sông lên.
Đất lạnh bất thường ở hướng Bắc. Có kẻ đã đào trúng mạch khí, khiến khí đảo ngược lại. Nhà cụ phát quan trường là nhờ mộ này tọa đúng hướng. Nay hướng sai, cháu cụ hứng trọn. ” Bà cụ nghe đến đây, chân run lên, cây gậy trượt khỏi tay.
Bà khuỵu xuống, ngồi sụp trên thềm đất trước mộ. Hai tay bà bấu vào vạt cỏ, nước mắt chảy ra trên khuôn mặt nhăn nheo.
- “Cụ Cố mất chưa hết tang,” bà nói, giọng lạc hẳn đi. “Ai dám đào mộ chồng tôi? ” Vĩnh cúi xuống đỡ bà đứng dậy, nhưng bà không đứng nổi. Bà ngồi đó, ngước lên nhìn Vĩnh, rồi nhìn chú Bá, như thể đợi một lời giải thích. Vĩnh nhìn chú Bá.
Chú Bá cúi xuống nhặt cây gậy tre lên, dựng vào thành mộ. Chú đưa tay ra hiệu cho Vĩnh lùi lại vài bước, rồi hạ giọng chỉ đủ cho mình Vĩnh nghe: “Có kẻ khác đứng sau vụ này. Chẳng phải người trong họ Trần mình đâu. ” Chú quay lưng về phía con ngòi, mặt trời đã bắt đầu nhô lên sau rặng tre.
Ánh nắng rọi vào vết đào, làm mấy hạt đất đỏ lấp lánh. Vĩnh nhìn xuống vết đào, nhìn lên chú Bá, rồi nhìn ra con đường đất dẫn từ vườn ra bờ sông. Dấu giày bốt vẫn còn in rõ, một hàng dấu chân đơn độc, dứt khoát. Bà cụ được Vĩnh đỡ về lại hiên nhà.
Bà ngồi lên võng, người run lên trong chăn bông, nhưng mắt vẫn ráo hoảnh nhìn ra phía vườn sau. Vĩnh rót cho bà một bát nước chè xanh từ ấm tích đặt trên bàn trà, đưa vào tay bà. Bà cụ uống một ngụm, rồi đặt bát xuống, tay vẫn run.
- “Cụ Cố ngày xưa đặt mộ này trong mưa,” bà cụ nói, giọng như tự kể cho chính mình nghe. “Mưa to lắm. Nước ngập cánh đồng trắng xóa. Ông ấy vẫn lội xuống, nước tới ngang thắt lưng, tay cầm cây kim đồng cắm xuống bùn. Ông ấy bảo mộ này phát ba đời.
Đời con phát ruộng, đời cháu phát quan, đời chắt phát chữ nghĩa. Nay mới hai đời, cháu nội bà chưa kịp về hưu. Chắt bà còn đang học cấp ba. Sao có kẻ ác thế? ” Vĩnh không trả lời. Anh nhìn tấm ảnh ông Huy trên màn hình điện thoại, gương mặt sưng phù vì bệnh, đôi mắt thâm quầng không do thức khuya làm việc.
Anh nhớ lại cảm giác lần trước khi đặt la kinh ở huyệt 31, kim chỉ thẳng vào ngực mình. Và anh nhớ cuộc điện thoại lúc sáng sớm ngày rời Đồng Cao: “Đừng nhận. Mày sẽ chết như cha mày. ” Chú Bá từ ngoài vườn bước vào, tay đã nhồi xong điếu thuốc lào.
Chú rít một hơi dài, nhả khói, rồi ngồi xuống ghế đẩu cạnh Vĩnh.
- “Tối nay mình ở lại đây,” chú nói. “Mai mốt gì thì tính. Nhưng trước mắt phải đo khí phản. Đo xem kẻ đào đứng ở đâu khi thực hiện. ” Vĩnh gật đầu. Anh biết chú Bá định nói gì tiếp theo. La kinh trong túi vải bên hông anh như nặng hơn, như thể chính nó cũng đang chờ đợi được đặt xuống đất quanh ngôi mộ này, để chỉ ra hướng của kẻ đã đến trong đêm.
Bà cụ ngồi trên võng, đôi mắt mờ đục vẫn nhìn ra phía vườn sau. Ngoài kia, ánh nắng đã lên cao hơn, rọi xuống vết đào như một vết sẹo mới trên nền đất đỏ. Gà đã ra khỏi gốc nhãn, lục tục bới giun trong sân. Mọi thứ trông bình thường, như thể chưa có gì xảy ra.
Chỉ có ngôi mộ là khác. Vĩnh mở túi lấy cuốn sổ tay, ghi thêm vài dòng dưới đoạn ghi tối qua: “Huyệt 12: đất bị đảo hướng. Ông Huy ho ra máu. Kẻ đào đi giày bốt, cỡ chân lớn, lội qua bờ tre. Chưa rõ danh tính. ” Anh gấp sổ lại, nhét vào túi áo.
Chú Bá đứng dậy, ra hiên đứng nhìn ra đường làng. Bóng chú đổ dài trên nền gạch, lẫn vào bóng cây xoài.
- “Cháu với chú ăn sáng chưa?” bà cụ hỏi, giọng đã bình tĩnh hơn.
- “Cháu với chú ăn rồi ạ,” Vĩnh đáp. Nhưng bà cụ vẫn gọi con cháu trong nhà bưng ra đĩa xôi đỗ và mấy miếng chả. Vĩnh nhìn đĩa xôi, không ăn. Anh nhìn chú Bá. Chú Bá đã rời ánh mắt khỏi con đường, quay vào nhà. Chú nhìn Vĩnh, rồi nhìn lên bàn thờ chồng bà cụ đặt ở gian giữa, nơi di ảnh một người đàn ông mặc quân phục đã ố vàng theo thời gian.
- “Mộ ông ấy mà còn bị động, thì mộ nào trong sổ của cụ Cố cũng có thể bị động,” chú nói. “Mình phải đi trước khi chúng nó đào đến huyệt tiếp theo.”
Vĩnh biết chú đang nghĩ tới huyệt 31. Anh cũng vậy. Nhưng giờ chưa đến lúc nói ra. Giờ phải tập trung vào huyệt 12 trước đã. Vết đào còn mới. Kẻ đào chưa đi xa. Và la kinh sẽ nói cho anh biết nó đã đứng ở đâu.
Ngoài vườn, con chó bắt đầu sủa. Tiếng sủa không giống ngày thường. Nó sủa về phía bờ tre, nơi dấu chân giày bốt dẫn vào. Chú Bá và Vĩnh cùng quay ra. Con chó đứng chồm lên, lông dựng ngược ở gáy, mõm gầm gừ như vừa đánh hơi thấy mùi lạ. Nó sủa từng hồi dài, rồi đột ngột im bặt, cụp tai, lùi về phía hiên nhà.
Chú Bá nhìn Vĩnh. Vĩnh nhìn lại chú. Không ai nói gì, nhưng cả hai đều hiểu. Kẻ đào đêm qua có thể đã quay lại. Hoặc nó chưa từng rời đi.
Vĩnh đứng dậy, tay đặt lên túi la kinh. Anh bước ra thềm, mắt dán vào bụi tre phía cuối vườn. Lá tre lay động trong gió, nhưng có một khoảng lá lệch nhịp, như vừa có người buông cành tre ra rồi lùi vào bóng râm. Vĩnh nheo mắt nhìn. Anh không thấy gì ngoài màu xanh của tre và những vệt nắng lốm đốm.
Sau lưng anh, chú Bá đặt điếu cày xuống bàn, đứng dậy. Tiếng dép của chú chậm rãi bước ra hiên.
- “Lấy la kinh ra đi,” chú nói, giọng trầm hẳn xuống. “Đo luôn bây giờ.”
Vĩnh mở túi vải, đặt la kinh lên lòng bàn tay. Mặt đồng lạnh ngắt trong buổi sáng mùa đông. Anh nhìn xuống kim. Kim la kinh đang chỉ về hướng Đông Nam, hướng mộ nguyên thủy. Nhưng rồi nó bắt đầu rung nhẹ, như thể có một bàn tay vô hình vừa chạm vào mặt đồng.
Anh bước xuống sân, về phía khu vườn sau. Chú Bá theo anh, tay cầm cây kim đồng. Con chó đã lùi hẳn vào gầm chạn, không sủa nữa, chỉ thở hổn hển. Gió sông thổi qua, mang theo mùi bùn và mùi tanh nhàn nhạt của xác cá chết từ đâu đó ngoài bờ ngòi.
Kim la kinh trong tay Vĩnh vẫn rung. Nhưng cái rung đó không còn là cái rung của phản ứng thông thường. Nó giống như kim đang bị một lực nào đó kéo đi, chậm và đều, về phía bờ tre. Về phía nơi con chó vừa đứng sủa.
Vĩnh dừng lại trước mộ, quay lưng về phía bia đá. Anh giơ la kinh lên ngang tầm mắt, nhìn vào kim.
Kim quay chầm chậm về hướng Tây Nam.
Và dừng lại.
Nó không dừng ở một hướng cố định. Nó dừng rồi lại rung, rồi lại quay thêm một độ nữa. Như thể con người mà nó chỉ tới đang di chuyển.
Chú Bá đặt tay lên vai Vĩnh. “Nó còn ở đây.”