Tứ Thập Bát Địa - Chương 5: Huyệt số 1
Sáng hôm sau, sương còn dày trên mặt đê. Vĩnh dậy từ năm giờ, rửa mặt bằng nước giếng lạnh ở sân sau. Chú Bá đã ra đồng từ lúc nào, trên phản chỉ còn cái…
Nội dung chương
Sáng hôm sau, sương còn dày trên mặt đê. Vĩnh dậy từ năm giờ, rửa mặt bằng nước giếng lạnh ở sân sau. Chú Bá đã ra đồng từ lúc nào, trên phản chỉ còn cái chăn mỏng xếp gọn một góc và cái gạt tàn thuốc lào đầy ắp. Vĩnh mặc áo khoác dù cũ, nhét cuốn sổ giấy dó vào túi trong, rồi vào hậu liêu lấy la kinh đồng bọc trong tấm lụa đỏ, đặt cẩn thận vào ba lô vải. Anh khóa cửa hậu liêu, vặn chìa hai lần cho chắc, rồi dắt chiếc xe đạp cũ của cụ Cố ra khỏi sân.
Sương sáng trắng đục trùm lên cánh đồng Đồng Cốc. Gió bấc thổi từ sông lên, mang theo mùi bùn ướt và mùi khói rơm rạ. Vĩnh đạp xe chậm trên con đường đất ngoằn ngoèo qua lũy tre. Anh đã thuộc con đường này từ nhỏ, nhưng hôm nay cuốn sổ trong túi áo cộm lên theo từng nhịp đạp, nhắc anh về bốn mươi bảy cái tên đang chờ phía trước.
Làng Đỗ nằm cách Đồng Cao chừng bốn cây số về phía đông bắc, nép sau một quả đồi thấp phủ đầy sim mua. Vĩnh tới đầu làng lúc mặt trời vừa xuyên qua màn sương. Khác với Đồng Cao còn giữ nhiều đường đất và nhà ngói ba gian, làng Đỗ đã có nhà tầng, đường bê tông, đèn cao áp. Vĩnh dừng xe trước một quán nước nhỏ đầu làng, hỏi thăm nhà ông Đỗ Văn Thìn.
Bà bán nước chỉ tay về phía một con ngõ hẹp khuất sau cây khế già. "Nhà ông Thìn ở cuối ngõ, cái nhà mái ngói đỏ có cây nhãn trước sân ấy. Nhưng sáng nay chắc ông ấy chưa ra quán đâu, hôm qua thấy mua rượu về." Vĩnh cảm ơn, dắt xe vào ngõ. Hai bên là tường gạch rêu phong và mùi lá khô mục dưới chân tường.
Nhà ông Thìn nằm khuất sau bức tường gạch thấp, cổng sắt han gỉ không khóa. Trong sân, cây nhãn già xòe tán rộng, mấy chiếc chum nước xếp dọc hiên. Một người đàn ông ngồi trên bậu cửa, lưng dựa vào cột gỗ xoan mối mọt, tay cầm chén rượu trắng. Ông mặc bộ quần áo nâu đã bạc, chân đi đất, mặt đỏ au vì rượu và nắng. Khi thấy Vĩnh dắt xe vào sân, ông ngước mắt lên nhìn, đôi mắt đục ngầu nhưng vẫn tỉnh.
- "Ông Đỗ Văn Thìn?" Vĩnh dựng xe bên gốc nhãn, bước lại gần.
Người đàn ông không đứng dậy, chỉ nghiêng đầu nhìn Vĩnh từ đầu tới chân. "Tôi đây. Cậu là ai?"
- "Cháu là Trần Vĩnh, cháu nội cụ Trần Cố bên Đồng Cao."
Ông Thìn đặt chén rượu xuống thềm, chậm rãi đứng dậy. Người ông cao và gầy, đôi vai xuôi, lưng hơi còng. Ông bước xuống sân, đôi chân trần dẫm lên gạch vỡ không chút phản ứng. Khuôn mặt đỏ ửng vì rượu bỗng trở nên đăm chiêu.
- "Thằng cháu nội cụ Cố." Ông nhắc lại, giọng khàn khàn. "Cụ Cố mất rồi. Tôi có nghe người làng nói."
- "Vâng, cụ mất tháng trước."
Ông Thìn đứng im một lúc, hai bàn tay xoa vào nhau. Rồi ông quay vào nhà, ngoái đầu lại: "Vào đây. Đứng ngoài sân gió lạnh."
Gian giữa nhà tối và ẩm, đồ đạc thưa thớt. Một bộ bàn ghế gỗ đã mất một chân, kê tạm bằng mấy viên gạch. Trên tường treo tấm ảnh đen trắng đã ố vàng của một cặp vợ chồng trung niên. Cạnh đó là ban thờ nhỏ bằng gỗ tạp, bát hương bằng sành, mấy cây nhang đã tàn từ lâu. Ông Thìn kéo ghế cho Vĩnh, rồi rót ra hai chén nước chè xanh.
- "Chè Thái nhà làm," ông nói, đẩy một chén về phía Vĩnh. "Uống đi. Cụ Cố ngày xưa cũng thích chè tôi pha, hồi còn sang đây."
Vĩnh cầm chén nước, hơi nóng bốc lên, mùi chè xanh ngai ngái. Anh ngồi đối diện ông Thìn, chờ đợi. Ông Thìn uống một ngụm rượu, rồi nhìn ra ngoài sân, nơi cây nhãn đang rụng những chiếc lá cuối cùng của mùa đông.
Ông Thìn hỏi cộc lốc: "Cậu tới đây vì cái gì?"
- "Cháu muốn hỏi về huyệt mộ của cụ thân sinh ông. Cụ đặt năm bảy mươi tư."
Ông Thìn gật đầu chậm rãi. Ông đặt chén rượu xuống, với tay móc túi áo lấy một bao thuốc lào và một cái điếu cày bằng tre đã lên nước bóng loáng. Ông nhồi thuốc, châm lửa, rít một hơi dài. Khói thuốc lào tỏa ra ngai ngái, quyện với mùi ẩm mốc của ngôi nhà cũ.
- "Cụ thân sinh nhà tôi mất năm bảy lăm," ông nói, giọng đều đều như thể đang kể một câu chuyện đã thuộc lòng. "Hồi đó tôi mười bốn tuổi. Nhà tôi nghèo, nhất làng này. Ba tôi làm tá điền cho địa chủ cũ, tới lúc hợp tác hóa thì vẫn là hộ nghèo. Ông cụ mất vì ung thư gan, để lại ba đứa con và bà mẹ mù lòa. Cả làng gom góp mỗi nhà một ít gạo, thế mà vẫn không đủ tiền mua áo quan tử tế."
Ông dừng lại, rít thêm một hơi thuốc. Vĩnh ngồi yên, tay cầm chén chè đã nguội.
- "Cụ Cố đi ngang qua làng tôi hồi đó để tìm đất cho một nhà khác. Cụ thấy đám tang ba tôi, vải trắng còn không đủ buộc. Cụ đứng ở đầu làng nhìn một lúc, rồi cụ nói: 'Mang cụ về nhà đi, để cụ nằm thêm một đêm. Mai ta tìm đất.'"
- "Nhà tôi không có tiền, không có gạo đãi khách, đến cái ghế mời cụ ngồi còn không ra hồn. Nhưng cụ không chê. Cụ ở lại nhà tôi ba hôm. Cụ ngủ trên phản gỗ, ăn cơm độn khoai với rau muống luộc. Sáng sớm cụ dậy từ lúc gà gáy, ra cánh đồng sau làng đi tới đi lui, tay cầm la kinh, miệng lẩm nhẩm. Tới chiều hôm thứ ba, cụ dừng lại ở gò Đụn, cắm cây kim đồng đầu tiên xuống đất rồi gọi mấy người đàn ông trong họ ra đào."
Ông Thìn ngước mắt lên nhìn Vĩnh. Đôi mắt đục ngầu có một tia sáng khác, thứ ánh sáng của ký ức còn tươi nguyên sau năm mươi năm.
- "Cụ Cố không lấy một đồng tiền nào. Cụ chỉ nhận một con gà sống và một cân chè. Mẹ tôi không còn gà, phải sang hàng xóm mượn. Cân chè thì là chè cổ thụ sau vườn nhà, mẹ tôi tự hái, tự vò, tự sấy. Cụ Cố cầm gói chè trên tay, ngửi một hồi rồi cười. Cụ bảo: 'Chè ngon. Bằng cả trăm cân chè Tàu.'"
Vĩnh lặng lẽ lấy cuốn sổ giấy dó trong túi áo ra, đặt lên đùi, mở tới trang ghi huyệt số 1. Dòng chữ của cụ Cố bằng mực đen đã nhòe đi ít nhiều, nhưng vẫn đọc được: 1974. Nhà họ Đỗ làng Đỗ. Mốc Gò Đụn. Một gà sống, một cân chè. Nét chữ thẳng và đều, không run tay, không vội vã. Vĩnh nhìn lại ông Thìn, người đàn ông hơn sáu mươi tuổi, da đỏ au vì rượu, sống một mình trong ngôi nhà cũ kỹ. Gia đình họ Đỗ hẳn đã phất lên sau huyệt mộ đó.
Ông Thìn như thể đọc được ý nghĩ của Vĩnh. Ông gật đầu, tay chỉ lên tấm ảnh trên tường.
- "Hai ông bà đấy, ba mẹ tôi. Hồi đó nhà tôi không có lấy một tấm ảnh. Cái ảnh này là chụp năm bảy lăm, trước khi ba tôi mất hai tháng. Một ông thợ ảnh dạo đi qua làng, đứng trước cửa chụp ké. Sau này anh cả tôi làm ăn khấm khá, đem ảnh đi phóng to, thờ tới giờ."
- "Anh cả của ông..."
- "Anh Kỳ. Anh ấy là đời con cả, phát từ mấy năm sau khi ba tôi mất. Đang làm công nhân cơ khí dưới Hải Phòng, tự nhiên được cử đi học kỹ sư bên Đức. Về nước mở xưởng, rồi thành doanh nghiệp lớn. Tôi là con thứ hai, cũng đỡ đần được một thời gian, nhưng rồi..." Ông Thìn nhìn xuống chén rượu trên thềm, cười nhạt. "Rồi thì tôi thành ra thế này. Cô em út cũng lấy chồng làm ăn xa, thỉnh thoảng gửi tiền về."
- "Còn đời cháu, đời chắt thì sao?"
Ông Thìn lắc đầu. "Anh Kỳ có ba đứa con. Đời cháu thì học hành tử tế, nhưng không ai làm to như anh Kỳ. Đứa thì kế toán, đứa thì giáo viên, đứa thì đi xuất khẩu lao động. Vẫn sống được, nhưng gọi là phát thì không. Còn đời chắt..." Ông ngừng một lát, rồi nói tiếp, giọng chậm hơn. "Đời chắt cũng có mấy đứa. Nhưng có một đứa chắt trai bị tai nạn giao thông năm ngoái. Nó mới hai mươi hai tuổi."
Vĩnh im lặng. Trong đầu anh vang lên câu cụ Cố viết trong sổ nhiều lần. "Phát tới đời cháu thôi." Ở đây, đời cháu đã qua từ lâu. Đời chắt bắt đầu, và mọi thứ đang trở về mức bình thường.
Ông Thìn rót thêm rượu ra chén, nhưng không uống ngay. Ông cầm chén rượu xoay xoay trong tay, nhìn ra ngoài sân, nơi nắng đã lên cao hơn, chiếu qua tán nhãn thành những vệt sáng lốm đốm trên mặt sân gạch.
- "Anh Kỳ mất năm ngoái rồi," ông nói, giọng đều đều. "Ung thư phổi. Trước khi mất, ảnh có dặn tôi một câu. Ảnh bảo: 'Chú nhớ giữ lời cụ Cố. Đừng ai động vào mộ ông. Khi nào chắt chết, cốt mới được đào.' Tôi hỏi tại sao, ảnh không nói. Ảnh chỉ nhắc lại: 'Đừng đụng vào mộ. Đó là lời cụ Cố.'"
Vĩnh ngồi thẳng dậy. "Cụ Cố dặn thế thật ạ?"
Ông Thìn gật đầu. "Cụ dặn anh Kỳ hồi ảnh còn trẻ. Cụ bảo: Đời ông phát tới đời cháu thôi. Sang đời chắt thì thôi, đừng cải táng, để mộ đó. Mộ này là đất vay, không phải đất của dòng họ. Đời chắt có chuyện, thì mặc nó. Đừng đụng vào. Cụ không giải thích gì thêm. Anh Kỳ tin cụ, nên dặn lại tôi. Tôi cũng tin cụ. Dù sao thì nhà tôi có được như hôm nay cũng là nhờ cụ."
Ông Thìn đứng dậy, bước ra ngoài hiên, đứng dưới tán cây nhãn. Vĩnh đi theo, đứng bên cạnh ông. Gió bấc thổi qua sân, làm những chiếc lá nhãn khô xào xạc trên mặt đất. Ông Thìn chỉ tay về phía xa, nơi một gò đất thấp nhô lên sau những rặng tre.
- "Tên gò là Gò Đụn. Mộ ba tôi nằm trên đó. Từ hồi đó tới giờ, chưa ai động vào. Cỏ mọc đầy, nhưng mộ vẫn nguyên. Mỗi năm tới ngày giỗ, tôi ra thắp hương, dọn cỏ, rồi về. Có mấy thầy địa lý khác tới hỏi thăm, tôi đều đuổi. Tôi với anh Kỳ giữ lời cụ Cố suốt năm mươi năm qua."
Ông quay lại nhìn Vĩnh, ánh mắt đột nhiên sắc lại, tỉnh táo hơn nhiều so với vẻ ngoài của một người say rượu suốt ngày.
- "Cậu tới đây không phải chỉ để hỏi chuyện cũ, đúng không?"
Vĩnh không trả lời ngay. Anh mở ba lô, lấy chiếc la kinh đồng bọc trong tấm lụa đỏ ra. Ông Thìn nhìn thấy la kinh, mắt ông lóe lên một tia nhận ra. Ông lùi lại nửa bước, tay buông thõng xuống.
- "Cái này... là la kinh của cụ Cố?"
- "La kinh đời thứ nhất dòng Trần," Vĩnh nói. Anh đặt chiếc la kinh lên mặt bàn gỗ ngoài hiên, cẩn thận mở tấm lụa ra. Mặt đồng đen sáng lên dưới nắng, những vòng đồng tâm lấp lánh. Kim la kinh nằm im trên trục giữa.
Vĩnh lùi lại một bước, hai tay buông xuôi. Ông Thìn cũng lùi ra xa, như thể sợ hơi thở của mình sẽ làm nhiễu loạn cây kim.
Vài giây trôi qua trong im lặng. Rồi cây kim bắt đầu chuyển động.
Nó quay chầm chậm, vẽ một vòng tròn hoàn chỉnh trên mặt đồng, chính xác ba trăm sáu mươi độ. Vĩnh nhìn kim quay, lòng anh không còn ngạc nhiên như lần đầu ở hậu liêu nữa. Chuyển động lần này đều đặn, ổn định, không run, không ngập ngừng. Nó quay đúng một vòng, rồi dừng lại. Kim chỉ về một hướng duy nhất.
Hướng Đông Bắc.
Hướng đó trùng khớp với vị trí gò Đụn mà ông Thìn vừa chỉ tay.
Ông Thìn đứng im như tượng, đôi mắt đục ngầu của ông dán chặt vào cây kim đã dừng. Ông không nói gì, nhưng hai bàn tay ông run lên, những ngón tay xương xẩu bấu chặt vào vạt áo nâu. Môi ông mấp máy, nhưng không thành tiếng.
Vĩnh lấy cuốn sổ tay cá nhân trong túi áo ra, một cuốn sổ mới anh mua ở Hà Nội trước khi về làng, bìa đen, giấy kẻ ô vuông. Anh mở trang đầu tiên, rút bút bi trong túi ngực ra, và ghi:
Ngày 11 tháng Một âm lịch.
Huyệt số 1, nhà họ Đỗ làng Đỗ. Đặt năm 1974 tại gò Đụn.
Kim la kinh quay một vòng đủ, dừng im. Chỉ hướng Đông Bắc.
Anh dừng bút, nhìn dòng chữ mình vừa viết. Một vòng đủ, dừng im. Đó là trạng thái mà chú Bá chưa nói tới, nhưng anh đã thấy tối qua: huyệt ổn định, khí còn, dòng phát đã hết. Đất vẫn sống, nhưng năng lượng đã trả hết cho đời con cháu. Như một cái đồng hồ đã chạy hết dây cót, kim vẫn chỉ giờ, nhưng không còn tích tắc nữa.
Đời chắt đã gặp chuyện.
Cụ Cố đã tính trước việc này.
Vĩnh gấp cuốn sổ lại, cất vào túi áo. Anh cúi xuống, nhẹ nhàng bọc la kinh vào tấm lụa đỏ, rồi đặt trở lại ba lô. Ông Thìn vẫn đứng im, mắt nhìn ra phía gò Đụn xa xa. Gió từ sông thổi lên làm mái tóc hoa râm của ông bay lất phất.
Ông hỏi nhỏ hơn lúc trước, gần như thì thầm: "Cậu định làm gì tiếp theo?"
- "Cháu phải đi thêm hai nơi nữa," Vĩnh đáp. "Rồi sau đó cháu lên gò Quẫy."
- "Gò Quẫy..." Ông Thìn nhắc lại, rồi gật đầu, như thể cái tên đó khớp với một lời ông từng nghe. "Cụ Cố có nhắc tới chỗ đó một lần. Hồi cụ còn sống, cụ bảo gò Quẫy là chỗ cuối cùng. Tôi không hiểu. Nhưng giờ thì có lẽ tôi hiểu."
Ông quay người, bước vào trong nhà. Một lát sau ông trở ra, tay cầm một gói chè nhỏ bọc trong giấy báo cũ.
- "Gửi cụ Cố," ông nói, đưa gói chè cho Vĩnh. "Tôi biết cụ không uống được nữa. Nhưng cậu đặt lên bàn thờ cụ cho tôi. Coi như tôi trả thêm một cân chè nữa, cho cái huyệt năm xưa."
Vĩnh cầm gói chè, nhét vào túi áo khoác. Anh cúi đầu chào ông Thìn, rồi dắt xe đạp ra khỏi sân. Khi anh bước qua cổng, ông Thìn gọi với theo.
- "Cậu Vĩnh."
Vĩnh quay lại. Ông Thìn đang đứng dưới tán nhãn, tay vẫn cầm cái điếu cày, nhưng mắt ông không còn đục ngầu như lúc mới gặp nữa. Có một thứ ánh sáng lặng lẽ trong đôi mắt ấy, ánh sáng của một người đã giữ một lời hứa trong năm mươi năm và vừa thấy người tiếp theo đến nhận lại giao ước.
- "Cảm ơn cụ Cố," ông nói. "Và cảm ơn cậu. Dù cậu có làm gì tiếp theo, thì cũng nhớ một điều. Cụ Cố chưa bao giờ đặt nhầm một cây kim."
Vĩnh gật đầu, không nói gì thêm. Anh đạp xe ra khỏi ngõ, băng qua con đường bê tông, ra tới đầu làng. Nắng đã lên cao, sương đã tan hết, cánh đồng Đồng Cốc trải dài trước mặt, vàng úa dưới ánh mặt trời mùa đông. Xa xa, dòng sông Hồng lấp lánh như một dải thép nung chảy.
Vĩnh dừng xe bên đường, lấy cuốn sổ tay ra, giở lại trang đầu tiên. Dưới dòng ghi chép về huyệt số 1, anh viết thêm một dòng:
Đã xác nhận. Đời chắt: chết trẻ. Lời cụ Cố đúng. Tiếp tục huyệt 12.
Anh gấp sổ lại, đút vào túi áo, rồi tiếp tục đạp xe về hướng bến đò. Con đường đất men theo đê sông Hồng trải dài về phía tây, nơi một bà cụ gần chín mươi tuổi đang sống bên kia sông, trong một ngôi nhà nhỏ cạnh một ngôi mộ đã được đặt cách đây hơn bốn mươi năm. Và một bài học thứ hai đang chờ anh ở đó, dưới một cây kim đồng từng được vớt lên từ bùn trong một chiều mưa năm tám mươi tư.