VỆT MỰC TRÊN THƯỚC LỖ BAN - Chương 11: Bản Vẽ Giả
Trời chưa sáng hẳn, Nam đã ngồi chụm người ở hiên đình, cây đục nứt đặt trước mặt như một bằng chứng câm. Hai lòng bàn tay anh vẫn còn rát nhẹ vì mạt gỗ…
Nội dung chương
Trời chưa sáng hẳn, Nam đã ngồi chụm người ở hiên đình, cây đục nứt đặt trước mặt như một bằng chứng câm. Hai lòng bàn tay anh vẫn còn rát nhẹ vì mạt gỗ mắc sâu dưới da. Bà Tịnh ra mở cửa kho, nhìn anh một lượt rồi đặt ấm nước sôi xuống.
– Cậu mơ thấy nhịp ba.
Nam ngước lên.
– Sao bà biết.
– Mặt cậu hôm nay giống người vừa học được một thứ không muốn học.
Nam kể lại giấc mơ, giọng đều, tránh tô đậm phần rùng rợn. Đến đoạn ông già nói khóa bằng sợ hãi thì mở bằng tên gọi, bà Tịnh gật rất khẽ.
– Đó là lời của cụ Đoàn.
– Bà chắc.
– Tôi từng nghe câu đó một lần, khi còn con gái.
Nam ngồi yên. Nếu người trong mơ thật sự là cụ Đoàn, chuyện không còn chỉ là dấu vết vật lý. Nó là một chỉ dẫn có chủ ý.
– Nhưng vì sao từ đầu chỉ có hiện tượng dọa, giờ lại có người ngã.
Nam hỏi.
Bà Tịnh không trả lời ngay. Bà lấy than củi vạch lên nền đất một sơ đồ đơn giản gồm ba ô vuông nối nhau bằng nét chéo.
– Bùa ở nhà này vốn để trấn. Trấn nghĩa là khóa, giữ, cảnh báo. Muốn nó chuyển sang sát phải có hai điều.
– Điều gì.
– Thứ nhất, mở sai thứ tự mộng. Thứ hai, thay đúng vị trí theo bản giả.
Nam nhíu mày.
– Bản giả.
– Ừ.
– Bác Hưng đưa cháu hồ sơ sửa gồm sơ đồ cột và khung cửa.
– Mang tới đây.
Nam chạy về nhà cô Sương lấy tập hồ sơ đã nhàu mép. Tập này anh nhận ngày đầu về làng, có dấu đỏ photo từ ủy ban xã, kèm một bản vẽ tay đơn giản đánh số điểm cần xử lý. Anh trải lên bàn kho đình.
Bà Tịnh đeo kính, lần ngón tay theo các số thứ tự.
– Cậu thấy gì.
– Cột một thay trước, mộng cửa chính chỉnh sau.
– Đúng theo giấy. Nhưng sai theo kết cấu thật.
Bà lấy bút chì đảo ngược thứ tự trên giấy, viết lại một chuỗi mới.
Ba rồi một rồi hai.
– Đây mới là thứ tự an toàn để giữ khóa trấn.
Nam nhìn kỹ. Chuỗi bà viết trùng với các điểm anh đã chạm trong ba đêm đầu nhưng theo thứ tự ngược hoàn toàn với hồ sơ Hưng đưa.
– Nếu cháu làm theo giấy.
Anh nói chậm.
– Thì cậu đã gỡ chốt trấn trước khi neo lại mộng khóa.
– Nghĩa là tự mở cửa cho sát.
Bà Tịnh gật.
Nam nắm chặt mép bàn.
– Ai vẽ bản giả.
– Người cần cậu làm đúng.
Nam im vài giây rồi rút điện thoại, mở ảnh chụp trang đầu hồ sơ. Ở góc dưới có chữ ký xác nhận nội bộ. Nét móc đầu giống thói quen ký của Hưng, dù tên chỉ viết tắt.
– Bác ấy muốn cháu gỡ khóa.
– Có thể bác ấy muốn sửa nhanh. Có thể bác ấy muốn mở thứ bác ấy không tự mở được.
– Vì bác ấy không đủ huyết thống.
Bà Tịnh nhìn anh, lần này không phủ nhận.
Nam thấy cổ họng khô lại. Anh nhớ câu trong gia phả phụ: ai thay khóa mộng mà không đủ huyết thống thì sát khí hồi. Nếu Hưng biết điều đó, dùng Nam làm tay mở khóa là nước đi hợp lý và tàn nhẫn.
Đầu giờ chiều, Nam vòng lên ủy ban xã xin xem bản lưu trùng tu từ đường. Cán bộ văn thư già quen mặt cha anh nên cho xem nhanh. Bản lưu gốc chỉ có sơ đồ vị trí nứt và mục kinh phí, không hề có thứ tự thay mộng như tập giấy Hưng đưa.
Nam chụp lại, cảm giác lạnh chạy dọc sống lưng.
Bản vẽ thứ tự là giấy thêm, không nằm trong hồ sơ công.
Nam không dừng ở đó. Anh lấy bút chì đồ lại nét tay trong bản giả, đối chiếu độ ấn bút, thói quen gạch chân số và cách khoanh tròn điểm nứt. Nét số ba trong bản giả có móc dưới kéo dài, trùng kiểu ghi chú Hưng vẫn viết trên bảng phân việc mỗi mùa giỗ. Anh từng thấy bác ấy viết đúng kiểu đó hàng chục lần. Càng đối chiếu, khả năng ngẫu nhiên càng nhỏ tới mức bằng không.
Anh chụp cận từng góc chữ, lưu thêm một bản vào thẻ nhớ rời. Đây không còn chỉ là phỏng đoán ai đó dẫn sai tay sửa. Nó có dấu viết, có chuỗi kỹ thuật, có hệ quả thương tích đã xảy ra. Với người làm nghề, ba thứ đó đủ thành một bản luận tội.
Anh quay về đình, đặt hai bản cạnh nhau cho bà Tịnh.
– Bản thứ tự là giả.
Bà nhìn một lúc lâu rồi gập hai tờ giấy.
– Vậy cậu có câu trả lời đầu tiên.
– Câu nào.
– Vì sao bùa chuyển.
Nam dựa lưng vào cột.
– Bùa chuyển vì cháu bị dẫn đi đúng đường sai.
Bà Tịnh đổ thêm trà.
– Từ trấn sang sát.
Buổi tối, Nam không sang nhà cô Sương. Anh xin ngủ lại đình để tiện trao đổi. Bà Tịnh đồng ý, nhưng dặn không rời khỏi sân đình sau nửa đêm.
Mười hai giờ mười, gió tắt hẳn. Đêm lặng đến mức nghe rõ tiếng giọt nước rơi trong chum.
Một giờ, chó đầu ngõ tru ngắn rồi im.
Hai giờ hơn, Nam ngồi dựa cột, trước mặt trải bản vẽ thật và bản giả. Anh dùng bút đỏ khoanh các điểm đã can thiệp. Đường khoanh đỏ tạo thành một mũi tên hướng thẳng vào gian trái.
Hai giờ bốn mươi sáu.
Không tiếng bào.
Thay vào đó, từ phía từ đường vang sang một tiếng rắc khô như gỗ nứt trong lửa. Tiếp theo là tiếng kim loại va nhau lách cách, ba nhịp ngắt quãng.
Nam bật dậy, cầm đèn pin chạy ra cổng đình. Từ đây nhìn nghiêng qua hàng tre thấy mái từ đường tối om, không đèn, không người.
Anh chiếu đèn lên thân tre, ánh sáng bật lại màu vàng bẩn vì bụi.
Rắc.
Âm thanh lần nữa. Lần này gần hơn, như phát từ bức tường ngoài của chính đình. Nam quay phắt lại. Bức tường sau lưng hiện một đường rạn mảnh dài chừng hai gang tay. Đường rạn mới, mép vữa còn trắng.
Bà Tịnh từ trong bước ra, tay cầm đèn dầu.
– Nghe rồi.
– Tiếng gì.
– Khóa trấn gãy thêm.
Nam sững sờ.
– Ở từ đường mà nứt sang cả đình.
– Vì hai nhà chung mạch thờ.
Bà đi thẳng đến bàn thờ nhỏ ở sân đình, nơi đặt bát nước cúng. Bà nâng bát lên. Nước trong bát vốn trong, giờ đục xám như hòa tro. Bà đưa cho Nam ngửi.
Mùi kim loại tanh nhẹ, lẫn mùi khói.
– Sát khí.
Bà nói.
Nam đặt bát xuống, tay run.
– Nếu để thêm, nó sẽ cắn vào đâu.
– Người yếu trước. Trẻ con, người bệnh, người giữ chìa.
Nam nhớ ngay Tuấn, nhớ ông Từ đang bệnh, nhớ cô Sương một mình ở nhà sát từ đường.
– Cháu phải vào nhà thờ đêm nay.
– Không.
– Bà còn chờ gì.
– Chờ cậu biết tên đầy đủ.
– Tên nạn nhân.
– Ừ.
– Không có tên thì sao.
– Mở khóa bằng nhịp có thể làm được. Đóng sát lại phải có tên gọi đủ.
Nam đấm nhẹ vào cột, đau bật lên tận khuỷu tay.
– Nghĩa là giờ cháu chỉ có thể mở thêm, chưa thể đóng.
– Đúng.
Nam quay đi, nhìn về phía từ đường tối đen.
– Ai giữ cuốn sổ cháy thì người đó giữ tên.
– Có thể.
– Và người đó là Hưng.
Bà Tịnh thở dài.
– Đừng để giận dẫn tay. Cậu bị dẫn một lần rồi.
Nam ngồi xuống hiên, đầu óc quay vòng. Bản giả, khóa gãy, sát khí hồi, tên nạn nhân thiếu chữ đệm. Mọi mảnh ghép đã rõ hướng nhưng thiếu chìa cuối.
Gần sáng, khi trời chỉ còn một lớp xanh mỏng, điện thoại Nam rung. Là cô Sương.
Giọng cô run.
– Bên nhà thờ có khói.
Nam bật dậy.
– Khói ở đâu.
– Không thấy lửa. Chỉ thấy khói xám luồn dưới cửa chính.
Nam nhìn bà Tịnh. Bà gật một cái ngắn.
– Đi.
Hai người chạy tới từ đường. Khói đúng là đang lùa ra từ khe cửa chính dù bên trong tối om. Nam cúi sát nền, soi đèn qua khe.
Không có ngọn lửa nào.
Chỉ có một vệt sáng đỏ mảnh bò dọc chân cửa, giống một nét mực phát quang.
Vệt đỏ dừng đúng vị trí đầu mộng anh từng rút nêm.
Nam ngẩng lên, giọng khàn.
– Nó đang đánh dấu điểm giết.
Bà Tịnh đứng bên cạnh, mặt cứng như đá.
– Bùa đã chuyển hẳn sang sát.
Gió sáng đầu ngày thổi qua sân, khói xám bị xé mỏng rồi tan nhanh. Nhưng vệt đỏ dưới chân cửa vẫn còn đó, lặng và sắc, như một lưỡi dao đặt ngang ngưỡng nhà.
Nam chạm đầu thước xuống đúng mép vệt đỏ, đo thử khoảng cách tới mộng chính. Con số rơi đúng điểm anh từng can thiệp đêm đầu, không lệch một ly. Anh rút thước lại, gập sổ, viết thêm một dòng vào góc trang:
Sát đánh theo dấu tay sửa.
Dòng chữ ngắn mà nặng như chì. Từ giây phút này anh hiểu rõ hơn bất cứ lúc nào trước đó, mỗi thao tác tiếp theo của mình không chỉ quyết định kết cấu gỗ, mà quyết định thẳng ai sẽ bị gọi tên trong đêm.