VỆT MỰC TRÊN THƯỚC LỖ BAN - Chương 13: Cơn Sốt Gọi Tên

Nam rời kho đình lúc gần sáng, đầu óc quay như bánh xe mắc cát. Tên ông cố đã hiện rõ, phần trách nhiệm đã rõ, nhưng tên nạn nhân vẫn thiếu một chữ đệm.…

Nội dung chương

Nam rời kho đình lúc gần sáng, đầu óc quay như bánh xe mắc cát. Tên ông cố đã hiện rõ, phần trách nhiệm đã rõ, nhưng tên nạn nhân vẫn thiếu một chữ đệm. Cái thiếu đó giống một cái khóa cuối cùng chặn ngay trước tay.

Anh vừa tới sân nhà cô Sương thì nghe tiếng gọi dồn từ trong buồng.

– Nam, vào nhanh.

Nam lao vào. Trên giường tre, bé Vy, con gái bảy tuổi của chị họ vừa gửi qua ngủ nhờ, đang sốt đỏ bừng mặt. Trán bé nóng rực, môi khô trắng, hơi thở dốc từng nhịp ngắn.

Cô Sương luống cuống vắt khăn.

– Nửa đêm vẫn bình thường. Gần sáng tự dưng sốt.

Nam đặt tay lên trán bé, giật mình vì nhiệt độ.

– Mình đưa bé đi trạm.

Anh bế bé ra xe máy, cô Sương ôm phía sau giữ người. Đường ra trạm y tế vắng tanh, gió sớm tạt lạnh vào mặt nhưng thân bé trong tay Nam vẫn nóng như than.

Bác sĩ trực khám nhanh, cho hạ sốt, truyền dịch, kết luận sốt virus cấp và dặn theo dõi. Một giờ sau nhiệt có giảm chút ít, nhưng bé vẫn mê man, mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm liên tục.

Ban đầu Nam không để ý tiếng lẩm bẩm vì tưởng trẻ mê sốt nói lung tung. Đến khi anh ngồi sát nghe rõ từng âm, cả sống lưng anh cứng lại.

– An... đừng kéo... An...

Nam quay phắt sang cô Sương.

– Cô nghe gì không.

Cô gật, mắt đỏ hoe.

– Nó gọi tên ai đó.

Nam cúi sát tai bé.

– An nào hả con.

Bé không mở mắt. Môi bé run, phát âm đứt quãng.

– Nguyễn... Văn... An... lạnh quá...

Nam đứng bật dậy, tim đập dội lên cổ.

Nguyễn Văn An.

Tên đầy đủ rơi ra từ miệng một đứa bé bảy tuổi chưa từng nghe chuyện gian trái, chưa từng thấy sổ cháy, chưa từng nghe người lớn nhắc mốc 1972.

Anh bước ra hành lang trạm, gọi ngay cho bà Tịnh.

– Bà nghe đây. Bé Vy sốt mê, vừa gọi tên Nguyễn Văn An.

Bên kia im đúng hai giây, rồi bà nói rất rõ.

– Ghi lại ngay giờ, nhiệt, câu nó nói.

– Sao lại cần.

– Vì cậu cần chứng cứ để không tự nghi ngờ mình.

Nam móc sổ ghi nhanh:

6:12 sáng. Nhiệt 39.8. Bé Vy lẩm bẩm Nguyễn Văn An, lạnh quá.

Anh quay lại giường bệnh. Bé Vy vừa tỉnh nửa chừng, mắt mở he hé nhưng ánh nhìn không tập trung.

– Chú Nam.

bé thều thào.

– Ừ, chú đây.

– Dưới gầm bàn thờ... tối lắm.

Nam nắm tay bé.

– Con thấy gì.

– Có người ngồi... áo ướt... gọi tên con.

– Người đó tên gì.

Bé nhăn mặt, rồi thở dốc.

– An...

Y tá bước vào, đuổi khéo Nam ra để hạ nhiệt tiếp. Anh đứng ở cửa kính nhìn bé co người trong chăn, bàn tay nhỏ níu không khí như níu một thứ đang kéo đi.

Đến trưa, cơn sốt bé giảm về 38.2, bé ngủ sâu. Cô Sương ở lại trông. Nam quay về đình báo bà Tịnh.

Bà ngồi ngay ngắn trên ghế thấp, như đã chờ sẵn.

– Nó gọi đủ ba chữ à.

– Ừ. Nguyễn Văn An.

Bà gật.

– Vậy tên khóa đã đủ.

– Nhưng vì sao đứa bé biết.

– Vì sát khí tìm đường dễ nhất. Trẻ con mở miệng nhanh hơn người lớn.

Nam siết tay thành nắm đấm.

– Không thể để nó bám vào trẻ nữa.

– Thì cậu phải mở yểm đúng cách.

– Cách đó ở đâu.

– Trong nghi điển khóa mộng. Tôi đang lần.

Bà kéo từ ngăn bàn ra một tập giấy mỏng viết tay, nhiều trang rách mép.

– Tôi tìm được ở đáy rương lễ. Chưa đủ.

Nam ngồi xuống, cùng bà đọc từng dòng chữ cũ.

Trang đầu ghi cách bày đèn.

Trang hai ghi thứ tự dựng bài vị tạm.

Trang ba bị rách mất nửa.

Dòng còn lại ở trang ba:

Khi sát hồi, người trực hệ đọc tên đủ ba lần trước cửa trái.

Nam chỉ vào dòng đó.

– Đây rồi.

– Chưa đủ.

bà nói.

– Còn cách đóng lại.

– Nếu chỉ mở mà không đóng.

– Sát đi ra luôn.

Nam dựa ra sau ghế, thở dài.

– Lại thiếu.

– Ừ. Nhưng không còn thiếu tên.

Chiều, Nam về trạm y tế đón cô Sương đổi ca. Bé Vy đã tỉnh, uống được nước, nhưng ánh mắt còn mệt. Thấy Nam, bé kéo tay áo anh.

– Chú đừng để người ướt vào nhà.

Nam cúi xuống ngang tầm mắt bé.

– Người ướt nào.

– Người ngồi dưới bàn thờ. Mặt toàn bùn.

– Con thấy lúc nào.

– Lúc ngủ. Người đó cứ gọi tên Văn An.

Cô Sương rùng mình, kéo chăn cho bé.

– Đừng hỏi nữa.

Nam im, xoa nhẹ tóc bé rồi ra ngoài hành lang.

Cô Sương theo ra, giọng thấp.

– Chuyện này dừng được không.

– Nếu dừng, nó còn gọi tên trong nhà mình.

– Anh Hưng sẽ không để cậu làm.

– Em bé vừa sốt gần 40. Bác ấy không còn quyền quyết một mình.

Cô Sương nhìn Nam hồi lâu.

– Tối nay cậu ngủ ở đâu.

– Đình.

– Đừng về từ đường.

– Ừ.

Đêm đó Nam không ngủ. Anh ngồi ở hiên đình, trước mặt là ba thứ đặt thành hàng: thước Lỗ Ban, đục nứt móc câu, bản chép tên Nguyễn Văn An. Mỗi thứ như một phần của cái bẫy đã siết chặt cả họ suốt mấy chục năm.

Một giờ hơn, gió đổi hướng, mùi bùn ướt kéo qua sân dù trời không mưa.

Hai giờ mười lăm, Nam gọi cho chị họ hỏi tình hình bé Vy. Chị nói bé ngủ yên.

Hai giờ bốn mươi, đèn trong đình chập chờn.

Hai giờ bốn mươi sáu, tiếng chuông xe đạp ngoài ngõ reo lạch cạch rồi im. Không có tiếng bào, không tiếng đục. Chỉ có cảm giác áp lực đè lên tai như đứng dưới nước sâu.

Điện thoại Nam rung. Tin nhắn từ cô Sương:

Nó lại sốt. Nó gọi tên đó nữa.

Nam đứng bật dậy chạy thẳng qua nhà cô. Bé Vy nằm co quắp, mồ hôi ướt tóc, miệng lặp lại một câu đều đều như cái máy hỏng.

– Nguyễn Văn An trả lại cửa... Nguyễn Văn An trả lại cửa...

Nam đứng chết lặng bên giường.

Trả lại cửa.

Câu này không còn là mê sảng ngẫu nhiên. Nó là một thông điệp có ngữ nghĩa, liên quan trực tiếp khóa mộng và gian trái.

Anh cúi sát, hỏi từng chữ.

– Cửa nào.

Bé không mở mắt, chỉ nói một câu khác.

– Cửa không có then.

Nam thấy da đầu tê dại.

Bà Tịnh vừa tới, đứng ở ngưỡng cửa, nghe hết câu cuối. Bà bước vào, đặt tay lên trán bé, rồi quay sang Nam.

– Nó đang đọc lại ký ức của người chết.

– Người chết là Văn An.

– Ừ.

– Vậy người đó không chết ngoài đồng. Người đó chết trong nhà thờ.

Bà Tịnh không gật, cũng không lắc. Nhưng ánh mắt bà cho Nam câu trả lời rõ hơn lời nói.

Nam rút sổ, ghi thêm:

2:46 sáng. Bé Vy tái sốt. Lặp câu Nguyễn Văn An trả lại cửa. Cửa không có then.

Anh gấp sổ, nhìn bà Tịnh.

– Ngày mai phải tìm đủ nghi thức.

– Không phải ngày mai.

bà nói, giọng cứng.

– Ngay sáng nay.

Bên ngoài, trời còn tối nhưng đã có tiếng gà đầu xóm gáy. Trong buồng, bé Vy dịu dần sau thuốc hạ sốt. Tuy vậy, câu cuối cùng bé thều thào trước khi ngủ lại vẫn ghim vào tai Nam như một chiếc đinh:

– Đừng để ông Đoàn khóa nữa.

Nam đứng bất động cạnh giường, rồi chậm rãi kéo ghế ngồi xuống ngay cạnh đầu giường bé. Anh lấy trong túi thước Lỗ Ban, đặt ngang trên mép giường như một thanh chắn tượng trưng. Bà Tịnh không cản. Bà chỉ châm thêm một ngọn đèn dầu nhỏ để ở góc buồng theo đúng nguyên tắc đèn không tắt.

Nam mở sổ, vẽ sơ đồ căn buồng, đánh dấu vị trí cửa sổ, cửa chính, giường, bàn thờ con ở vách trong. Anh ghi thêm một mục mới:

Vùng yếu bị xâm nhập qua giấc ngủ.

Tín hiệu vào bằng sốt cao và lặp tên.

Phản ứng tạm thời bằng đèn dầu và người canh tỉnh.

Lần đầu tiên, anh ghi chép hiện tượng như một hồ sơ bảo vệ người sống, không chỉ điều tra người chết. Cảm giác trong ngực chuyển từ sợ sang cứng lại, như gỗ tươi gặp lửa rồi thành than.

Nam ngẩng lên nhìn bà Tịnh.

– Từ giờ đêm nào cũng phải có người canh ở nhà có trẻ nhỏ.

Bà gật.

– Tôi sẽ báo các nhà quanh từ đường.

Nam đứng dậy, kéo chăn cho bé Vy rồi ra hiên gọi điện cho hai nhà gần nhất, dặn rõ giờ nguy hiểm cuối canh tư, dặn không để trẻ ngủ một mình và giữ đèn dầu sáng tới sáng. Người bên kia nghe nửa tin nửa sợ, nhưng đều nhận lời khi nghe tên bé Vy.

Anh tắt máy, quay vào buồng lần nữa. Bé Vy đã thở đều hơn, trán bớt nóng. Nam đặt tay lên thành giường, biết chắc từ giờ chuyện này không còn là điều tra quá khứ đơn thuần. Sát khí đã bước vào nhà anh bằng cơn sốt của một đứa trẻ, và cái giá của chậm trễ đang tính bằng người thân.

Chương khác

Xem thêm