Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 14: Chữ Oan Bằng Nhọ Nồi
Ngày thứ một trăm của Cát là ngày hai mươi chín tháng bảy năm 1934. Trời nắng gắt từ sáng sớm, nắng mùa hè Bắc Bộ đổ lửa xuống mái ngói và sân gạch, ve…
Nội dung chương
Ngày thứ một trăm của Cát là ngày hai mươi chín tháng bảy năm 1934. Trời nắng gắt từ sáng sớm, nắng mùa hè Bắc Bộ đổ lửa xuống mái ngói và sân gạch, ve kêu ran trên những tán cây quanh làng Hạ Trạch. Trong nhà thầy đồ Tư, không khí căng như dây đàn sắp đứt. Bốn người lớn đã thức trắng đêm chín mươi chín, mắt ai cũng thâm quầng, nhưng không ai chịu đi nằm. Họ ngồi quanh nôi Cát, nhìn đứa bé ngủ yên rồi thức dậy bú khỏe, chơi ngoan, cười với từng người một, như thể hôm nay chỉ là một ngày bình thường như mọi ngày khác trong một trăm ngày vừa qua, và ngày mai nó vẫn sẽ thức dậy, vẫn sẽ bú, vẫn sẽ cười như thế, mãi mãi.
Buổi sáng trôi qua yên ổn. Buổi trưa trôi qua yên ổn. Tư ghi vào nhật ký những dòng ngắn ngủn, tay ông run đến mức chữ xiêu vẹo không thành hàng. Trưa ngày một trăm, Cát vẫn khỏe. Đầu giờ chiều, Cát vẫn khỏe. Ông bắt đầu cho phép mình tin, tin thật sự, rằng lần này luật chết đã bị phá vỡ, rằng sự canh giữ ngày đêm, sự chuyển nhà sinh nở, những lễ cúng từ khi thai mới ba tháng, cuốn nhật ký đếm ngày và tình yêu thương không ngủ của bốn người lớn đã đủ để giữ một đứa trẻ ở lại với cha mẹ nó. Ông nhìn vợ, thấy nàng cũng đang nhìn ông bằng ánh mắt chứa chan hy vọng giống hệt mình. Bà Sen chắp tay khấn thầm không ngừng. Hai người canh buồng ngồi ở cửa, mặt ai cũng rạng lên vì sắp được chứng kiến một cái kết có hậu sau bao nhiêu tang tóc.
Và rồi, vào đúng khoảnh khắc cả nhà lơi lỏng nhất, vào lúc nắng chiều bắt đầu ngả bóng qua hiên và Tư vừa đứng dậy định đi pha ấm trà mới cho mọi người sau một ngày dài căng thẳng, Cát bỗng khóc thét lên một tiếng duy nhất, sắc và gọn. Rồi người nó nóng bừng lên ngay trong nôi, trước mắt bốn người lớn đang thức tỉnh táo hoàn toàn, không một ai ngủ gật, không một ai rời buồng, không một giây phút nào đứa bé nằm một mình.
Mây lao đến bế con, hét lên tên chồng. Tư lao đến sờ trán con. Cái nóng hầm hập quen thuộc. Cơn co giật quen thuộc. Sắc mặt tím tái quen thuộc. Tất cả quay lại, lần thứ ba, chính xác, tàn nhẫn, không sai một ly, ngay trước mắt những người đã chuẩn bị mọi thứ để ngăn nó quay lại. Không khí trong buồng vỡ tung thành hỗn loạn. Người sắc thuốc, người đắp khăn, người đốt lửa, người khấn vái. Tư bế con chạy khắp nhà như hai lần trước, đặt con trước bàn thờ, quỳ khấn đến khản giọng. Ông lang được mời đến chạy thở hổn hển, bắt mạch rồi lắc đầu với cùng một vẻ bất lực đã ám ảnh Tư suốt ba năm qua. Thầy cúng từng làm lễ cầu an từ khi thai ba tháng cũng được mời đến, làm phép ngay giữa sân, gõ mõ, rung chuông, rắc gạo muối, nhưng phép làm đến đâu, cơn co giật của đứa bé dữ dội đến đó, như thể mọi nỗ lực của người sống chỉ là những tiếng ồn vô nghĩa trước một bản án đã viết xong từ nửa thế kỷ trước.
Cát yếu đi nhanh hơn cả hai anh nó, như thể lần này thứ kia không cần phải rình rập hay chờ đợi nữa, nó đến thẳng, lấy thẳng, trước mặt tất cả mọi người, để khẳng định rằng không một phòng bị nào của người sống có thể thay đổi được kết cục. Đứa bé hay cười nhất trong ba anh em, đứa bé đã qua yên ổn chín mươi chín ngày, đã cười khanh khách với cha chiều hôm qua, giờ nằm thoi thóp trong tay mẹ, mắt nhắm nghiền, hơi thở đứt quãng, môi tím ngắt, thỉnh thoảng lại co giật một cơn ngắn rồi lịm đi.
Mây ôm con vào lòng, không khóc thành tiếng nữa, chỉ lặp đi lặp lại một câu như người mất trí.
- Ở lại với mẹ đi con. Mẹ xin con, ở lại với mẹ đi con. Cát ơi, con cười với mẹ một cái nữa đi con.
Đứa bé không cười nữa. Vào lúc hoàng hôn buông xuống làng Hạ Trạch, nhuộm đỏ mặt sông Đáy và những mái ngói, Cát thở hắt ra hơi cuối cùng trong vòng tay mẹ, êm ái và lặng lẽ, như một ngọn nến tắt vì hết dầu chứ không phải vì gió thổi. Nó ra đi đúng ngày thứ một trăm, đúng triệu chứng sốt cao, co giật, tím tái, đúng như anh An, đúng như anh Bình, không sai một ngày, không khác một biểu hiện, bất chấp đất nhà ngoại, bất chấp lễ cúng từ ba tháng, bất chấp bốn người canh buồng, bất chấp cuốn nhật ký một trăm ngày. Bất chấp tất cả tình yêu và tiền bạc và nước mắt mà cha mẹ nó đã dốc ra trong ba năm trời.
Căn nhà chìm trong một sự im lặng nặng nề và kéo dài rất lâu sau khi đứa bé tắt thở, im lặng đến mức tiếng ve ngoài vườn và tiếng sông xa xa cũng nghe rõ mồn một như đang ở ngay bên tai mọi người. Không ai khóc ngay. Nỗi đau lần thứ ba không còn là nỗi đau của bất ngờ nữa. Nó là nỗi đau của sự xác nhận. Xác nhận rằng đây là một luật, một nợ, một lời nguyền có thật, vận hành chính xác như một cỗ máy, và mọi nỗ lực của con người từ trước đến nay đều chỉ là những cố gắng vô vọng đập vào một bức tường vô hình. Bà Sen ngồi sụp xuống nền nhà, không đứng dậy nổi. Hai người canh buồng lặng lẽ ra sân ngồi khóc thay cho chủ nhà. Mây ôm thi thể con, mặt áp vào mặt con đã lạnh dần, không chịu buông ra cho bất cứ ai, cho đến khi Tư phải quỳ xuống bên vợ, gỡ từng ngón tay của nàng ra khỏi thân hình nhỏ bé, nói bằng giọng khàn đặc không còn ra tiếng người.
- Buông con ra cho tôi lo cho con lần cuối, mình ạ. Để tôi làm cho con một việc này nữa thôi.
Chính trong khoảnh khắc đau đớn tột cùng và bất lực tột cùng ấy, một ý nghĩ kỳ lạ và mãnh liệt bỗng bật lên trong đầu Tư, rõ ràng như một tia chớp giữa trời quang. Ông nhớ đến lời bà đỡ Hai Lựu về tục đánh dấu trẻ chết yểu mà bà từng kể trong những lần đến thăm, rằng người xưa khi chôn trẻ yểu thường quẹt nhọ nồi, mực tàu hoặc son đỏ lên một vị trí trên thi thể đứa bé, để nếu đứa bé ấy có lộn lại vào bụng mẹ ở lần sinh sau, thì vết bớt đúng vị trí ấy sẽ là dấu hiệu nhận ra nó. Ông nhớ đến những câu chuyện Con Lộn mà người làng vẫn kể bên bếp lửa, về những vong trẻ cố tình đầu thai lại vào cùng một nhà để làm cha mẹ đau đớn. Ông không biết con mình có phải là Con Lộn hay không, không biết thứ đang giết con mình là gì, nhưng ông biết một điều chắc chắn trong cơn điên dại vì đau đớn của một người cha vừa mất con lần thứ ba. Ông sẽ không để lần sau, nếu có lần sau, mình lại phải ngồi trong bóng tối mà đoán mò nữa. Ông sẽ để lại một dấu. Một dấu không thể nhầm lẫn. Một dấu sẽ nói thay cho ông tất cả những oan khuất của ba đứa con đã mất.
Tư đứng dậy, đi thẳng xuống bếp, đến bên chiếc nồi gang đen kịt vẫn còn ấm tro từ bữa cơm chiều chưa ai động đến. Ông thò tay vào đáy nồi, cào một nắm nhọ nồi đen đặc, thứ nhọ của bếp củi tích tụ bao nhiêu năm tháng nấu nướng của nhà nghèo, đen và mịn và bám chặt vào da tay ông như mực không phai. Ông quay lại gian giữa, quỳ xuống bên thi thể con trai nằm trên giường, trước ánh mắt sững sờ của vợ, của mẹ vợ, của bà đỡ vừa đến nơi, và bằng ngón tay trỏ nhúng đầy nhọ nồi, ông chậm rãi, cẩn thận, quẹt lên giữa trán đứa bé một chữ duy nhất.
Chữ Oan.
Ông quẹt nét đầu tiên, tay run đến mức nét chữ xiêu đi, ông quẹt lại cho rõ. Ông quẹt nét thứ hai, thứ ba, cho đến khi trên cái trán trắng trẻo, mát lạnh của Cát hiện lên rõ ràng một chữ Oan bằng nhọ nồi đen kịt, nổi bật và ám ảnh, như một con dấu đóng lên một tờ đơn kiện gửi đến trời đất, gửi đến tổ tiên, gửi đến bất cứ thế lực nào đang đứng sau những cái chết này. Cả nhà nhìn chữ ấy mà không ai dám thở mạnh. Mây nhìn chữ Oan trên trán con, nước mắt lã chã rơi xuống, nàng không ngăn chồng, vì nàng hiểu, bằng trực giác của người mẹ, rằng chồng mình vừa làm một việc mà không một người cha bình thường nào nghĩ đến trong đám tang con, một việc sinh ra từ tận cùng của đau đớn và tận cùng của quyết tâm không chịu thua.
Tư nhìn chữ Oan rất lâu, rồi ông cúi xuống, áp trán mình vào trán con lần cuối, và thề trước thi thể con, trước hai nấm mộ của hai anh nó ngoài vườn, trước bàn thờ gia tiên và trước tất cả những người đang có mặt trong căn nhà tang tóc ấy, bằng một giọng trầm và rõ, không run, không khóc, như người đọc một lời thề trước đình làng.
- Nếu mày quay lại, cha sẽ nhận ra mày. Dù mày quay lại bằng hình hài nào, dù bao nhiêu năm nữa, cha cũng sẽ nhận ra mày bằng dấu này. Và cha thề, cha sẽ tìm cho ra kẻ đã bắt các con cha phải đi như thế này, cha sẽ bắt nó phải trả nợ cho xong, trước khi nó kịp bắt thêm một đứa nào nữa trong nhà này phải đi thay cho nó.