Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 15: Hai Năm Im Lặng

Cát được chôn dưới gốc ổi, bên cạnh hai anh nó, thành nấm mộ thứ ba trong một hàng ngang buồn thảm sau vườn nhà thầy đồ. Lần chôn cất này lặng lẽ nhất…

Nội dung chương

Cát được chôn dưới gốc ổi, bên cạnh hai anh nó, thành nấm mộ thứ ba trong một hàng ngang buồn thảm sau vườn nhà thầy đồ. Lần chôn cất này lặng lẽ nhất trong ba lần. Không còn nhiều hàng xóm đến giúp như lần đầu, không còn nhiều lời chia buồn ồn ào như lần thứ hai. Người làng đến thắp nén hương rồi về ngay, ai cũng tránh nhìn lâu vào ba nấm mộ nhỏ nằm cạnh nhau dưới tán lá xanh rì, và tránh nhìn lâu vào mặt vợ chồng thầy đồ, vì nhìn lâu thì không biết phải nói câu gì cho phải lẽ trước một nỗi đau đã lặp lại đến lần thứ ba với cùng một kịch bản tàn nhẫn. Tư tự tay đắp mộ cho con lần thứ ba. Đất vườn mùa hè khô và cứng hơn mùa trước, lưỡi cuốc bổ xuống tóe bụi. Ông đắp xong, cắm phiến gạch làm dấu, thắp hương, rồi đứng lặng rất lâu, nhìn ba nấm mộ của ba đứa con trai mà ông đã đặt tên bằng tất cả những điều tốt lành nhất trên đời, An, Bình, Cát, giờ nằm im lìm cạnh nhau, như ba dấu chấm hết cho một thời làm cha ngắn ngủi và đầy tang tóc của ông.

Chữ Oan bằng nhọ nồi trên trán Cát được giữ nguyên khi chôn cất, theo đúng ý của Tư. Bà Hai Lựu tắm rửa cho đứa bé lần cuối, cẩn thận tránh không lau vào giữa trán nó, để chữ ấy đi cùng đứa bé xuống lòng đất, nguyên vẹn như lúc người cha quẹt lên trong cơn đau tột cùng. Bà nói với Tư khi đặt đứa bé vào quan tài nhỏ.

- Tôi để nguyên dấu của ông cho cháu. Ông đã đánh dấu nó, thì nó mang dấu ấy đi. Sau này có chuyện gì, dấu ấy sẽ nói thay cho người sống.

Sau đám tang Cát, căn nhà thầy đồ nghèo chìm vào hai năm im lặng dài đằng đẵng và nặng nề. Đó không phải là sự im lặng bình yên của một gia đình ít nói. Đó là sự im lặng của những người đã cạn lời để nói về nỗi đau của mình, đã khóc đến cạn nước mắt, đã hỏi trời đất đến khản giọng mà không nhận được một lời đáp nào ngoài sự lặp lại lạnh lùng của số phận. Mây suy kiệt hẳn sau lần mất con thứ ba. Nàng nằm nhiều hơn ngồi, người gầy như một cái bóng, tóc bạc đi trông thấy dù mới ngoài ba mươi. Có những ngày nàng không nói một câu nào từ sáng đến tối, chỉ ngồi bên cửa sổ nhìn ra ba nấm mộ sau vườn, tay lần tràng hạt của mẹ cho, miệng mấp máy những lời khấn không thành tiếng. Tư mở lại lớp học sau mấy tháng, nhưng lớp thưa dần người. Phụ huynh trong làng, dù thương thầy, cũng bắt đầu ngần ngại cho con đến học ở một ngôi nhà có đến ba đứa trẻ chết yểu cùng một cách, sợ vía dữ lây sang con mình theo những lời đồn vô căn cứ mà thấm sâu. Thu nhập của nhà thầy đồ giảm hẳn. Căn nhà vốn đã nghèo nay càng thêm túng quẫn, mái dột không có tiền sửa, ruộng bán dần để lo thuốc thang cho Mây và lo những món nợ từ những lần chạy chữa trước.

Tư trong hai năm ấy sống như một người giữ mộ. Mỗi sáng ông ra vườn quét lá rụng trên ba nấm mộ của con, thắp hương, ngồi một lúc rồi mới vào dạy học. Mỗi tối ông mở cuốn nhật ký đếm ngày của Cát ra đọc lại, đọc từ ngày đầu tiên đến ngày thứ một trăm, như người đọc lại một bản án đã thi hành mà vẫn chưa hiểu vì sao bản án ấy lại giáng xuống nhà mình. Ông vẫn âm thầm tìm hỏi chuyện đời xưa của họ Ngô qua những người già trong làng, nhưng sau cái chết thứ ba, người làng còn né tránh ông hơn trước, sợ bị hỏi, sợ bị liên lụy, sợ nói ra điều gì đó sẽ động đến nhà tổ và trưởng họ. Cừ trong hai năm ấy không đến nhà Tư một lần nào nữa. Nhà tổ và nhà thầy đồ, hai nhánh của cùng một họ, sống cách nhau một quãng đường làng ngắn ngủi mà như cách nhau một vực sâu im lặng, không qua lại, không hỏi han, chỉ có những nén hương ngày giỗ tổ là Tư vẫn đến thắp theo lệ rồi về ngay, không nán lại ăn cỗ, không ngồi lại nói chuyện với bất cứ ai trong họ.

Hai năm ấy cũng là hai năm Tư tự học cách sống chung với những âm thanh ban đêm mà trước đây ông từng sợ hãi. Tiếng chân khập khiễng trên mái không xuất hiện thường xuyên như những tháng có trẻ nhỏ trong nhà, nhưng thỉnh thoảng, vào những đêm trở gió, vào những ngày giỗ chạp của họ, ông vẫn nghe thấy nó đi qua rất khẽ, rất xa, như một lời nhắc rằng thứ kia chưa hề rời khỏi làng Hạ Trạch. Nó chỉ đang chờ, đang nghỉ, đang nếm dần sinh khí của căn nhà này trong lúc chờ một đứa trẻ mới để bắt đầu lại vòng đếm một trăm ngày tàn nhẫn của nó. Tư ghi cả những đêm nghe tiếng chân ấy vào một cuốn sổ mới, sổ của những năm không con, dòng chữ thưa thớt hơn sổ đếm ngày của Cát rất nhiều, nhưng mỗi dòng đều nặng như chì, vì nó cho thấy kẻ thù vô hình của nhà ông không bao giờ ngủ yên hoàn toàn, kể cả khi trong nhà không còn một đứa trẻ nào để nó lấy mạng.

Thời gian hai năm trôi qua chậm chạp và nặng nề như thế, đo bằng những mùa mưa làm xói mòn ba nấm mộ nhỏ mà Tư phải đắp lại, đo bằng những lần Mây ốm dậy rồi lại nằm xuống, đo bằng những đêm Tư mơ thấy người đàn bà dưới giếng nhà tổ khóc mà mỗi lần tỉnh dậy ông lại ra vườn đứng bên mộ con cho đến sáng. Có lúc ông tưởng đời mình sẽ cứ thế trôi đi trong im lặng và tang tóc, làm một thầy đồ không con, giữ ba nấm mộ sau vườn cho đến già, và mang theo câu hỏi về món nợ nhà này xuống mồ như cha ông đã từng mang theo, chỉ để lại một dòng chữ năm từ cho đời sau đoán mò.

Nhưng số phận, sau hai năm im lặng, lại gõ cửa nhà thầy đồ một lần nữa bằng cách lặng lẽ nhất. Vào đầu năm 1936, Mây lại có dấu hiệu mang thai. Lần này không ai trong nhà dám mừng. Bà Sen nghe tin, tay run đến mức đánh rơi cả bát cơm. Tư nghe vợ nói trong một đêm nàng ngồi dậy, nắm tay chồng, giọng thều thào như sợ nói to sẽ làm kinh động đến một thứ gì đó đang ngủ yên.

- Mình ạ. Hình như tôi lại có rồi.

Tư ngồi lặng rất lâu trong bóng tối sau câu nói ấy. Ông nhìn ra vườn, nơi ba nấm mộ của con ông nằm im dưới ánh trăng non đầu năm. Ông nhìn vợ mình, người đàn bà đã mất ba đứa con, đã suy kiệt đến mức tưởng không còn sức để sinh nở thêm lần nào nữa, vậy mà trời lại cho nàng mang thai lần thứ tư. Ông không biết đó là phúc hay là họa, là cơ hội cuối cùng để phá vỡ luật chết, hay là lần thứ tư của cùng một bản án đã tuyên. Ông chỉ biết nắm chặt tay vợ, nói một câu mà ông đã chuẩn bị trong lòng suốt hai năm im lặng, dù khi nói ra giọng ông vẫn run lên vì sợ hãi và quyết tâm lẫn lộn.

- Lần này, dù nó là phúc hay họa, tôi cũng không ngồi chờ như trước nữa. Tôi sẽ tìm cho ra sự thật trước khi nó chào đời. Và nếu nó mang theo dấu gì từ các anh nó, thì dấu ấy sẽ là đầu mối, không phải là điềm gở. Mình cứ tin tôi lần này.

Ít ngày sau, bà đỡ Hai Lựu được mời đến thăm mạch cho Mây để xác nhận tin thai. Bà bắt mạch, gật đầu xác nhận Mây đã mang thai lần thứ tư, rồi bà ngồi lại rất lâu bên giường người mẹ đã mất ba con ấy, nắm bàn tay gầy guộc của nàng trong hai bàn tay già nua đầy chai sần của mình. Bà nhìn thẳng vào mắt nàng và nói một câu chậm rãi, rõ ràng, như một lời hẹn ước cho những ngày sắp tới đầy giông bão mà cả nhà sắp phải đi qua cùng nhau.

- Lần này, nếu nó có dấu, đừng giấu tôi. Có dấu gì trên người nó, dù nhỏ đến đâu, dù ở đâu, cô phải nói ngay cho tôi biết từ lúc tôi lau người cho nó. Đừng giấu, đừng sợ, đừng nghe ai dặn mà giấu đi. Dấu ấy mà có thật, thì đó là trời cho nhà mình một con đường để lần ra sự thật đấy, cô Mây ạ.

Mây gật đầu trong nước mắt, nắm chặt tay bà đỡ như nắm lấy một lời hứa. Bà Sen đứng bên cạnh cũng gật đầu theo con gái, tay chắp trước ngực khấn thầm, cầu cho lần mang thai thứ tư này sẽ là lần cuối cùng nhà mình phải đi qua một trăm ngày trong sợ hãi, dù là theo cách nào, dù kết cục có ra sao. Sự thật cũng phải được phơi bày ra ánh sáng một lần cho xong, để những đứa trẻ đã mất được yên nghỉ và đứa trẻ sắp đến không phải mang theo món nợ của người xưa thêm một đời nữa.

Ngoài vườn, cây ổi già trên ba nấm mộ nhỏ bắt đầu trổ những chồi non đầu tiên của mùa xuân mới, xanh mơn mởn trong nắng sớm, như một lời nhắc lặng lẽ rằng dù đã qua ba mùa tang tóc và hai năm im lặng, sự sống vẫn tìm cách quay lại căn nhà này. Và lần quay lại này, nó sẽ mang theo trên trán một dấu vết mà không một ai trong nhà thầy đồ được phép ngoảnh mặt làm ngơ thêm một lần nào nữa.

Chương khác

Xem thêm