Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 18: Vết Bớt Chữ Oan

Ngày mồng chín tháng sáu năm ấy, trời Hạ Trạch nắng như đổ lửa từ sáng sớm. Mây trở dạ khi gà vừa gáy canh tư. Lần sinh thứ tư này không giống ba lần…

Nội dung chương

Ngày mồng chín tháng sáu năm ấy, trời Hạ Trạch nắng như đổ lửa từ sáng sớm. Mây trở dạ khi gà vừa gáy canh tư. Lần sinh thứ tư này không giống ba lần trước. Bà đau quặn từng cơn dài, mồ hôi vã ra như tắm, người gầy yếu đến mức mỗi cơn đau đi qua là một lần bà lịm đi, phải lay gọi mới tỉnh. Bà Sen ở bên cạnh không rời nửa bước, tay lúc nào cũng nắm chặt tay con gái. Bà đỡ Hai Lựu đến từ lúc trời chưa sáng, mang theo kéo, chỉ, vải trắng, một nồi nước lá thơm và cả một bó cành dâu tằm tươi đặt ngay đầu giường. Tư đứng ngoài buồng, đi đi lại lại trong gian nhà giữa, nghe tiếng vợ rên qua vách đất mà ruột gan như có người vặn. Ông đã chuẩn bị mọi thứ có thể chuẩn bị: Trận Cung Vôi vẽ mới ở ngưỡng cửa, tỏi treo thành chùm ở cửa sổ, đèn dầu thắp sáng cả ngày không tắt, và trên án thư là cuốn sổ mới ông mua sẵn, bìa giấy dó, để bắt đầu đếm ngày cho đứa con thứ tư ngay từ ngày đầu tiên.

Đến quá trưa, khi nắng đứng bóng trên sân gạch, tiếng khóc trẻ con mới cất lên trong buồng. Tiếng khóc to, khỏe, vang qua cả vách đất ra ngoài sân, làm Tư khựng lại giữa nhà, hai tay run lên bần bật. Ông nghe tiếng bà Lựu cười nói oang oang.

- Con trai! Lại con trai, ông đồ ơi! Mẹ tròn con vuông, thằng bé khỏe lắm!

Tư vịn vào cột nhà mới đứng vững. Ba lần trước ông cũng nghe câu ấy, mẹ tròn con vuông, thằng bé khỏe lắm. Rồi cả ba lần, đúng ngày thứ một trăm, ông lại phải tự tay khâm liệm con. Nỗi mừng lần này vì thế không trọn. Nó đi kèm một nỗi sợ lạnh buốt chạy dọc sống lưng, sợ đến mức ông phải hít một hơi thật sâu mới dám bước vào buồng.

Trong buồng, mùi nước lá thơm, mùi máu tanh và mùi mồ hôi quyện vào nhau nồng nặc. Mây nằm trên giường, mặt trắng bệch, tóc bết vào trán, nhưng mắt bà mở, nhìn về phía chiếc chậu thau đặt cạnh giường, nơi bà Lựu đang lau người cho đứa bé. Đứa trẻ đỏ hỏn, tay chân quờ quạng, khóc một hồi rồi nín, miệng chúm chím tìm bú. Bà Lựu bế nó trên tay, lấy khăn mềm thấm nước ấm lau từng lớp màng ối trắng đục trên mặt nó, lau từ tóc xuống trán, từ trán xuống mũi. Bà lau rất nhẹ, rất quen tay, miệng vẫn lẩm bẩm khen thằng bé mặt mũi khôi ngô, trán cao, tai dày, có phúc.

Rồi tay bà khựng lại.

Khăn đang lau dở trên trán đứa bé dừng hẳn. Tiếng khen tắt ngấm giữa chừng. Cả buồng bỗng im bặt một cách bất thường, chỉ còn tiếng thở hổn hển của Mây và tiếng nước nhỏ giọt trong chậu thau. Tư bước thêm một bước, nhìn vào mặt bà đỡ. Mặt bà Lựu tái mét, môi run run, đôi mắt già nua mở to nhìn chằm chằm vào trán đứa trẻ như nhìn thấy một thứ không nên tồn tại trên đời. Bà ôm đứa bé chặt hơn một chút, rồi từ từ quay nó về phía ánh đèn dầu để nhìn cho rõ.

Giữa trán đứa trẻ, đúng ngay vị trí trung tâm, nơi hai năm trước Tư đã run tay quẹt nhọ nồi lên trán thi thể Cát, có một vết bớt đen sẫm. Vết bớt không tròn, không loang lổ như những vết chàm thường thấy ở trẻ sơ sinh. Nó có nét, có góc, các đường đen mảnh giao nhau thành một hình thù mà bất cứ ai biết chữ cũng nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên. Đó là hình chữ Oan. Chữ Oan bằng nhọ nồi năm xưa, nay hiện lại bằng da thịt sống, đen nhánh trên nền da đỏ hỏn của đứa trẻ vừa chào đời, rõ đến mức không ai có thể tự lừa mình rằng đó là sự trùng hợp.

- Ông đồ, bà Lựu khẽ nói, giọng lạc đi. Ông lại đây mà xem. Tôi đỡ đẻ mấy chục năm, lau mặt cho không biết bao nhiêu đứa trẻ. Vết này, tôi không nhìn lầm được đâu.

Tư bước tới, quỳ xuống bên chậu thau. Ông nhìn vết bớt rất lâu. Tay ông đưa lên, định chạm vào trán con mà không dám, ngón tay dừng lại cách làn da non một khoảng mỏng, run rẩy. Ông nhớ lại đêm chôn Cát, nhớ cảm giác nhọ nồi lạnh và nhám dưới đầu ngón tay mình, nhớ lời thề ông đã khấn trước mộ con trong cơn đau đến phát điên, nếu mày quay lại, cha sẽ nhận ra mày. Giờ đây đứa bé nằm trước mặt ông, mang đúng dấu ấy trên trán, và lời thề năm xưa quay lại gõ cửa, không cho ông trốn tránh nữa. Đây không còn là nghi ngờ, không còn là mê tín mà người làng vẫn xì xào. Đây là bằng chứng sống, thở được, khóc được, nằm ngay trong vòng tay bà đỡ.

- Nó quay lại rồi, Tư thì thầm. Cát của tôi quay lại rồi.

Bà Sen nghe thấy, chắp tay lên ngực, miệng niệm Phật liên hồi. Mây nằm trên giường cố gượng dậy, chống khuỷu tay, giọng yếu ớt mà gấp gáp.

- Sao thế? Có chuyện gì? Cho tôi xem con với.

Bà Lựu nhìn Tư, Tư nhìn bà Sen, không ai muốn là người nói ra câu ấy với một sản phụ vừa vượt cạn, người còn chưa lại sức. Nhưng Mây là mẹ. Bà đã mất ba đứa con, bà có quyền biết đứa thứ tư của mình mang dấu gì trên trán trước bất cứ ai. Tư bế đứa bé từ tay bà Lựu, ôm nó rất cẩn thận, bước đến bên giường, quỳ xuống, đưa trán con về phía mẹ nó, và nói bằng giọng mà ông cố giữ cho bình tĩnh nhất.

- Mây à, em nhìn trán con đi. Đúng chỗ năm xưa tôi quẹt nhọ nồi cho thằng Cát. Có một vết đen hình chữ Oan. Bà Lựu vừa lau màng ối mới thấy rõ.

Mây nhìn. Bà nhìn một lúc rất lâu, mắt mở to, môi mấp máy không thành tiếng. Rồi bà đưa bàn tay gầy guộc lên, chạm nhẹ vào vết bớt trên trán con, chạm như chạm vào một vết thương cũ của chính mình. Nước mắt bà trào ra, không thành tiếng khóc, chỉ chảy dài xuống thái dương, thấm vào tóc bết mồ hôi. Bà thì thào một câu đứt quãng, câu mà sau này cả nhà còn nhắc lại nhiều lần trong những ngày đếm ngược.

- Nó quay lại rồi. Nó quay lại thật rồi.

Rồi bà ngất lịm đi, đầu ngả xuống gối, tay vẫn hướng về phía đứa con như muốn ôm nó vào lòng mà không còn sức. Bà Sen hốt hoảng gọi tên con gái, bà Lựu vội đặt khăn ướt lên trán Mây, xoa tay chân cho bà, sai Tư chạy đi sắc thêm nước gừng. Đứa bé được đặt nằm cạnh mẹ, khóc ré lên một tiếng dài rồi lại nín, như cảm được sự hỗn loạn quanh mình. Tư vừa chạy ra bếp vừa quay đầu lại nhìn. Trong ánh đèn dầu chập chờn, vết bớt đen trên trán đứa trẻ nổi bật đến nhức mắt. Ông biết, kể từ giây phút này, nhà ông không còn đếm ngày theo cách của người thường nữa. Nhà ông sẽ đếm ngược. Một trăm ngày. Bắt đầu từ hôm nay, mồng chín tháng sáu. Và ở đầu kia của một trăm ngày ấy, có một thứ đang đứng chờ, một thứ đã lấy đi ba đứa con của ông đúng hẹn, chưa từng sai một ngày.

Tin Khang chào đời lan ra xóm dưới rất nhanh, nhưng tin về vết bớt còn lan nhanh hơn. Chưa đầy một buổi chiều, đã có vài người họ hàng gần và mấy bà hàng xóm kéo đến, người mang chục trứng, người mang nắm lá xông, miệng chúc mừng mà mắt cứ liếc về phía trán đứa bé đang ngủ trong buồng. Tư đứng ở cửa buồng, không cho ai vào đông, chỉ bế con ra cho mọi người nhìn qua một lượt rồi lại bế vào ngay. Ông làm thế không phải vì kiêu, mà vì ông sợ. Ông sợ những lời xì xào vô tình sẽ thành điềm gở, sợ cả cái cách người làng nhìn con ông như nhìn một vật lạ, một đứa trẻ đã được đánh dấu sẵn cho một cái hạn chưa tới. Bà Sen hiểu ý con rể, ra sân tiếp khách thay, nói khéo rằng mẹ yếu con non, xin để ít hôm nữa hẵng thăm nom dài. Khách ra về, người thương thì thở dài, người sợ thì đi rất nhanh qua gốc ổi, không dám nhìn lâu vào ba nấm mộ nhỏ.

Chiều xuống, Mây tỉnh lại. Cơn ngất ngắn không làm bà quên được điều đã thấy. Bà đòi bế con ngay, ôm nó vào lòng bằng đôi tay còn run, áp má mình vào trán con, chạm môi lên đúng vết bớt đen. Bà khóc lần nữa, lần này khóc thành tiếng, khóc cho cả ba đứa con đã mất và đứa con vừa về lại trong một hình hài khác. Tư ngồi bên giường, một tay đỡ lưng vợ, một tay đặt lên tấm lưng nhỏ xíu của con, nghe tiếng thở phập phồng đều đặn của nó mà lòng vừa mừng vừa thắt. Bà Lựu thu dọn đồ nghề, trước khi về còn dặn dò tỉ mỉ việc kiêng cữ, việc cho bú, việc giữ ấm, rồi bà đứng lại ở cửa buồng, nhìn hai vợ chồng và đứa bé rất lâu, hạ giọng nói một câu chỉ đủ cho ba người trong buồng nghe.

- Tôi nói điều này, ông bà đừng giận. Dấu đã hiện rõ thế này thì không giấu được trời đất đâu. Giấu người làng thì được một thời, giấu cái hạn thì không được. Từ nay ông bà phải tính trước đi, đừng để đến lúc nước tới chân mới nhảy như ba lần trước nữa.

Tư gật đầu, tiễn bà ra tận cổng. Ông biết bà nói đúng từng chữ.

Tư đặt tên cho đứa bé ngay trong chiều hôm ấy, trước khi họ hàng kịp đến chúc mừng và kịp xì xào. Ông mở cuốn sổ mới, chấm bút lông, viết trang đầu tiên bằng nét chữ ngay ngắn nhất mà một người cha đang run tay có thể viết: Ngô Văn Khang, sinh ngày mồng chín tháng sáu, ngày thứ nhất. Khang là khỏe mạnh, là an khang. Ông đặt cái tên ấy như một lời thách, cũng như một lời cầu xin. Viết xong, ông gác bút, nhìn sang vợ đang thiếp ngủ và đứa con nằm thiêm thiếp bên cạnh, trán mang chữ Oan đen sẫm, rồi tự nhủ một điều mà ông sẽ còn phải tự nhủ mỗi ngày trong suốt chín mươi chín ngày sắp tới: lần này, dù phải trả bất cứ món nợ nào, dù chủ nợ là người hay là quỷ, ông cũng không để con mình đi nữa.

Chương khác

Xem thêm