Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 20: Thầy Pháp Làng Bên

Từ hôm nghe tiếng thì thầm trên mái, Tư không ngủ trọn một đêm nào. Ban ngày ông đi hỏi khắp nơi, ban đêm ông thức canh con, mắt thâm quầng, người gầy…

Nội dung chương

Từ hôm nghe tiếng thì thầm trên mái, Tư không ngủ trọn một đêm nào. Ban ngày ông đi hỏi khắp nơi, ban đêm ông thức canh con, mắt thâm quầng, người gầy rộc đi trông thấy. Ông hỏi ông Từ đình trước. Ông Từ nghe chuyện vết bớt và câu thì thầm thì ngồi lặng rất lâu, rồi bảo chuyện này quá lệ làng, quá thầy cúng thường, phải tìm người thật sự có nghề, từng đối mặt với Mẹ Ranh và nghiệp Con Lộn chứ không phải thầy chỉ biết đọc văn khấn. Ông nhắc đến một cái tên ở làng bên kia sông: thầy Cấn Văn Mùi. Bà Lựu cũng nhắc đúng cái tên ấy, giọng quả quyết hiếm có. Bà bảo thầy Mùi năm nay năm mươi tám tuổi, nhà ở làng Thượng ven sông, cha truyền con nối nghề thầy pháp, lại từng lên đền Kiếp Bạc học nghề mấy năm, thỉnh được cả kiếm gỗ đào khắc bùa Thánh Trần. Người làng Hạ Trạch ít ai biết ông vì ông không quảng cáo, không nhận lễ bừa, nhà nào không có chuyện thật ông không đến. Nhưng hễ nhà nào có trẻ chết yểu liên tiếp, có sản phụ bị hành, người ta lại lặn lội sang sông tìm ông trong đêm.

Tư quyết đi ngay hôm sau, khi Khang mới được mười ngày tuổi. Đêm trước khi đi, ông còn cẩn thận kiểm tra lại một lượt khắp nhà: cung vôi ở ngưỡng cửa còn nguyên nét, chùm tỏi ở cửa sổ chưa khô, bó cành dâu đầu giường vẫn tươi, và cuốn sổ đếm ngày đã ghi đến ngày thứ mười, không thiếu một dòng. Ông làm những việc ấy chậm rãi như một người lính kiểm tra khí giới trước khi ra trận, dù trong lòng ông biết tỏi và cành dâu chưa từng cứu được đứa nào trong ba đứa trước. Ông đi tìm thầy lần này không phải vì tin rằng thêm một ông thầy là đủ, mà vì ông đã hiểu ra một điều sau ba lần thua: nhà ông thua không phải vì thiếu lễ, thiếu canh giữ, mà vì chưa ai nhìn ra được toàn bộ sự việc, chưa ai gọi đúng tên thứ đang lấy mạng con ông. Ông cần một người như thế, một người ngoài họ, ngoài làng, không sợ ông trưởng họ, không nợ nần gì nhà tổ, và đủ nghề để nhìn xuyên qua lớp sương mù ma quỷ mà thấy được con người thật và món nợ thật đằng sau. Ông dậy từ mờ sáng, gói theo cuốn sổ đếm ngày, một ít tiền lẻ và nắm xôi cho đường xa, dặn bà Sen và Mây giữ con trong buồng, không cho người lạ vào, Cung Vôi ở ngưỡng cửa phải giữ nguyên không ai được quét đi. Rồi ông ra bến sông, theo chuyến đò ngang đầu tiên sang làng Thượng. Sông Đáy buổi sớm mù sương, nước chảy lặng lờ, người lái đò già nhìn thầy đồ áo the đội khăn xếp mà hỏi đi đâu sớm thế. Tư chỉ nói đi tìm thầy thuốc cho con. Người lái đò không hỏi nữa, chống sào đẩy đò qua dòng nước đục ngầu phù sa.

Nhà thầy Mùi nằm cuối làng Thượng, sau một rặng tre gai rậm rạp. Nhà không lớn, ba gian lợp rạ đã cũ, sân đất nện phẳng, góc sân có một cây đào già và một bàn thờ nhỏ lộ thiên khói hương quanh năm. Điều làm Tư chú ý ngay khi bước vào sân là sự yên tĩnh khác thường của ngôi nhà này. Gà không kêu quang quác, chó không sủa người lạ. Một con chó mực to nằm ngay trước thềm, thấy khách chỉ ngước mắt nhìn, đánh hơi một cái rồi lại nằm xuống, như đã quen với việc chủ nhà tiếp những người mang theo chuyện không sạch sẽ mà đến cầu cứu. Thầy Mùi đang ngồi trong nhà mài một thanh gỗ đào trên phiến đá, nghe tiếng chân thì ngẩng lên. Ông người tầm thước, vai rộng, mặt vuông, râu ngắn đã hoa râm, đôi mắt sáng và rất tỉnh, tỉnh đến mức Tư có cảm giác ông nhìn thấu cả những điều mình chưa kịp nói.

- Anh là thầy đồ làng Hạ Trạch, thầy Mùi nói, không phải câu hỏi mà là câu khẳng định. Người làng tôi sang đò kể mấy hôm nay rồi. Nhà anh sinh đứa thứ tư, trên trán có dấu, phải không?

Tư giật mình, rồi gật đầu. Ông ngồi xuống chiếc ghế dài, đặt cuốn sổ lên bàn, và kể. Ông kể từ đầu, không giấu một chi tiết nào. Kể về An chết ngày thứ một trăm với năm vết ngón tay trên cổ. Kể về Bình tắt thở trên tay cha trước cổng nhà tổ đóng kín. Kể về Cát, về nhọ nồi chữ Oan ông quẹt lên trán thi thể con trong cơn điên đau, về lời thề trước mộ. Kể về hai năm im lặng, về lần mang thai thứ tư, về phiến đá mới trên miệng giếng nhà tổ, về tiếng chân khập khiễng và câu thì thầm cả nhà cùng nghe trong đêm thứ ba sau khi Khang chào đời. Ông kể rất lâu, có lúc phải dừng lại uống ngụm nước chè xanh cho đỡ nghẹn. Thầy Mùi ngồi nghe từ đầu đến cuối, không ngắt lời một lần, tay vẫn mài thanh gỗ đào chậm rãi, đều đặn, tiếng gỗ cọ vào đá sột soạt như tiếng ai đang mài một lưỡi dao vô hình.

Khi Tư kể xong, gian nhà im lặng một hồi lâu. Thầy Mùi đặt thanh gỗ xuống, phủi mùn gỗ trên tay, rót thêm chè vào bát của khách, rồi mới chậm rãi nói.

- Ba đứa đi cùng một ngày, cùng một cách, đứa thứ tư mang dấu quay lại, nhà có giếng cũ bị bịt, họ trưởng giấu chuyện người chết. Anh kể từng ấy thứ, anh tưởng tôi cần nghe hết mới biết nhà anh có chuyện gì à? Tôi biết từ lúc anh bước vào sân. Con chó mực nhà tôi không sủa anh, mà nó tránh sang một bên. Nó ngửi thấy hơi lạnh bám trên người anh, hơi của kẻ đã đứng chờ sẵn ở đầu giường nhà anh rồi.

Tư nuốt khan, hỏi điều ông muốn hỏi nhất.

- Thưa thầy, con tôi có giữ được không? Thầy có cách nào giữ nó qua đêm thứ một trăm không?

Thầy Mùi không trả lời ngay câu ấy. Ông đứng dậy, đi ra thềm, nhìn về phía sông Đáy mờ sương, nhìn rất lâu về hướng làng Hạ Trạch bên kia sông, rồi quay lại, hỏi Tư một câu duy nhất, một câu không liên quan gì đến đứa trẻ, đến vết bớt hay đến ngày thứ một trăm, mà sau này Tư mới hiểu đó là câu hỏi trúng tim đen của cả câu chuyện.

- Nhà anh có giếng cũ không?

Tư sững người. Ông đáp rằng nhà mình dùng giếng đào ở góc sân, nước vẫn trong, vẫn ăn uống bình thường. Thầy Mùi lắc đầu, hỏi lại, giọng chậm và nhấn từng chữ.

- Tôi không hỏi giếng nhà anh đang ăn. Tôi hỏi trong đất nhà họ của anh, có cái giếng nào cũ, bỏ hoang, bị lấp, bị đậy, bị cấm không cho ai nhắc tới không?

Đến lúc ấy, Tư mới kể kỹ về cái giếng sau vườn nhà tổ, về giấc mơ người đàn bà đứng dưới giếng khóc từ năm An mất, về phiến đá mới vôi chưa khô mà ông vừa nhìn thấy qua khe tường tháng trước. Nghe đến phiến đá, tay thầy Mùi đang cầm bát chè khựng lại giữa chừng. Ông đặt bát xuống bàn đánh cạch một tiếng khô khốc, đứng dậy, vào buồng trong lấy ra một chiếc tay nải vải đã sờn, bắt đầu xếp vào đó mấy thứ đồ nghề: một cuộn chỉ đỏ, một nắm gạo nếp, mấy thẻ hương, một chiếc la bàn cũ và thanh gỗ đào vừa mài dở.

Trước khi Tư đứng dậy cáo từ, thầy Mùi còn hỏi thêm mấy điều rất tỉ mỉ mà không thầy cúng nào trong làng từng hỏi ông. Thầy hỏi ba đứa trẻ chôn ở đâu, chôn trong đất nhà hay ngoài nghĩa trang họ, chôn cách nhau bao xa, có cùng một hướng mộ không. Tư đáp cả ba đều chôn dưới gốc ổi sau vườn nhà mình, trong đất nhà, vì trẻ chết yểu theo lệ không được vào nghĩa trang họ, cũng vì vợ chồng ông muốn chúng gần nhà. Thầy Mùi nghe đến đó thì gật đầu chậm rãi, như một mảnh ghép vừa rơi đúng chỗ trong đầu ông. Thầy lại hỏi đứa thứ tư hiện ngủ ở buồng nào, buồng ấy có phải buồng ba đứa trước từng nằm không, ngưỡng cửa còn giữ cung vôi của bà ngoại vẽ không. Tư đáp buồng vẫn là buồng cũ, cung vôi vẫn còn, bà Sen vừa vẽ lại hôm sinh. Thầy dặn Tư về nhà tuyệt đối không quét bỏ cung vôi, không dời giường, không cho đứa bé ra khỏi đất nhà trong những ngày thầy chưa sang xem, và ban đêm phải có người thức canh, nghe tiếng gì lạ trên mái cũng không được ra mở cửa, không được đáp lời. Tư ghi nhớ từng lời, chép cả vào cuối cuốn sổ đếm ngày ngay tại bàn thầy Mùi, nét chữ vội vàng mà rõ ràng.

Trên đường về, Tư ghé qua chợ làng Thượng mua thêm ít cành dâu tằm tươi và một bó hương, theo lời thầy dặn để thay cho bó cũ trong buồng. Người bán hàng hỏi nhà có việc gì mà mua cành dâu, Tư chỉ cười nhạt bảo nhà có sản phụ, treo cho lành. Đò ngang buổi trưa đông người, có cả mấy người làng Hạ Trạch sang buôn bán. Tư ngồi nép ở mũi đò, tay nải ôm chặt vào ngực, lòng vừa có một tia hy vọng mỏng manh lần đầu tiên sau nhiều năm, vừa nặng trĩu vì câu nói cuối cùng của thầy Mùi cứ văng vẳng bên tai. Đằng sau nghiệp con lộn của nhà anh, e rằng còn có một người chết đang đứng giật dây. Người chết ấy là ai, Tư gần như đã đoán được. Đó là người đàn bà chết giếng ở nhà tổ, người bị xé tên khỏi gia phả, người mà ông Cừ thà bịt giếng bằng phiến đá mới chứ không chịu cho ai nhắc tới. Và nếu thầy Mùi nói đúng, thì giữ con qua đêm thứ một trăm mới chỉ là một nửa việc. Nửa còn lại, khó hơn gấp bội, là phải đối mặt với người chết ấy và với cả người sống đang ra sức giấu giếm thay cho cái chết ấy suốt nửa thế kỷ.

- Mai tôi sang nhà anh, thầy Mùi nói, giọng quả quyết không cho phép từ chối. Tôi phải tự mắt xem nhà, xem đất, xem ba nấm mộ dưới gốc ổi và xem trán đứa bé. Chuyện nhà anh không phải chuyện một đứa trẻ con lộn thường tình đâu, thầy đồ ạ. Có giếng bị bịt, có người chết bị giấu, có họ trưởng thà mang tiếng ác chứ không cho đào lên. Đằng sau nghiệp con lộn của nhà anh, e rằng còn có một người chết đang đứng giật dây.

Chương khác

Xem thêm