Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 21: Có Kẻ Dùng Con Anh Để Đòi Nợ

Thầy Mùi sang Hạ Trạch vào một buổi sáng âm u, trời nhiều mây, gió sông thổi mạnh làm rặng tre sau nhà Tư kêu răng rắc. Ông đi đò ngang từ sớm, tay nải…

Nội dung chương

Thầy Mùi sang Hạ Trạch vào một buổi sáng âm u, trời nhiều mây, gió sông thổi mạnh làm rặng tre sau nhà Tư kêu răng rắc. Ông đi đò ngang từ sớm, tay nải vắt vai, thanh gỗ đào giắt sau lưng áo, con chó mực không đi theo. Tư đón thầy ở bến sông, hai người đi bộ về nhà qua con đường ven đê, không nói nhiều. Dân làng thấy thầy đồ đưa một người lạ mặt, dáng dấp không giống thầy lang cũng không giống khách buôn, về nhà mình thì tò mò nhìn theo, vài người thì thầm với nhau. Tư mặc kệ. Ông đã quyết rồi, lần này không giấu nữa, ai nhìn cứ nhìn, ai đồn cứ đồn.

Đến cổng, thầy Mùi không vào nhà ngay. Ông đứng ngoài sân rất lâu, đi một vòng quanh nhà theo chiều ngược kim đồng hồ, mắt nhìn nền đất, nhìn mái ngói, nhìn ra vườn sau, thỉnh thoảng lại cúi xuống bốc một nắm đất lên ngửi rồi thả xuống. Ông dừng lại lâu nhất ở gốc ổi sau vườn, nơi ba nấm mộ nhỏ nằm sát nhau dưới tán lá. Mộ không bia, chỉ là ba ụ đất thấp phủ cỏ, mỗi ụ cắm một cành dâu khô đã mục. Thầy Mùi quỳ xuống, đặt tay lên từng ụ đất một, nhắm mắt, miệng lẩm nhẩm rất khẽ. Rồi ông đứng dậy, phủi đất trên đầu gối, nói một câu làm Tư nổi da gà.

- Ba đứa nằm đây, mà hơi lạnh không nằm ở đây. Hơi lạnh nằm ở đằng kia.

Ông chỉ tay về hướng nhà tổ, về phía góc vườn có miệng giếng bị đậy đá mà từ nhà Tư không nhìn thấy được, chỉ thấy mái ngói nhà tổ nhô lên sau rặng tre làng. Tư chưa kịp hỏi, thầy đã đi tiếp vào trong nhà. Trong buồng đẻ, Mây đang bế Khang cho bú, thấy khách thì định ngồi dậy chào, thầy Mùi xua tay bảo cứ nằm yên, sản phụ không phải giữ lễ với thầy. Ông đứng ở cửa buồng một lúc, nhìn cung vôi ở ngưỡng cửa, nhìn chùm tỏi, bó cành dâu, rồi mới bước qua ngưỡng cửa, đến bên giường, cúi xuống nhìn đứa bé. Khang vừa bú xong, mắt lim dim, vết bớt trên trán hiện rõ trong ánh sáng ban ngày hắt qua cửa sổ. Thầy Mùi nhìn vết bớt rất lâu, không chạm vào, chỉ đưa tay lơ lửng trên trán nó như cảm hơi nóng hơi lạnh tỏa ra từ làn da non. Mặt ông dần nghiêm lại.

- Bà đỡ lau màng ối mới thấy, phải không? Ông hỏi.

- Vâng, Mây đáp khẽ. Bà Lựu lau đến trán nó thì khựng lại. Cả nhà tôi đều thấy, không ai nhìn lầm được.

- Không lầm được đâu, thầy Mùi gật đầu. Dấu quẹt bằng nhọ nồi bếp củi, quẹt lên trán người chết, mà người chết ấy lại chôn ngay trong đất nhà, cùng một người mẹ sinh ra. Nghiệp lộn nó theo đúng đường ấy mà về. Vết này không phải chàm bẩm sinh. Nó là dấu chủ nợ đóng lên món nợ, để đến hạn thì cứ dấu mà tìm đến, không lạc đi đâu được.

Bà Sen và bà Lựu đều có mặt trong buồng hôm ấy, theo lời hẹn trước. Bà Lựu kể lại cặn kẽ cả ba lần đỡ đẻ, cả chuyện cổ An hằn năm vết ngón tay, chuyện Bình và Cát cùng một triệu chứng sốt cao co giật tím tái trong ngày thứ một trăm, không thuốc nào hạ được. Thầy Mùi nghe, thỉnh thoảng gật đầu, rồi ông lấy trong tay nải ra cuộn chỉ đỏ và nắm gạo nếp, rải gạo quanh giường, cầm la bàn đi một vòng trong buồng, kim la bàn rung lên rất nhẹ khi ông đi qua phía cửa sổ hướng về nhà tổ. Ông thu đồ lại, ngồi xuống ghế, nhìn thẳng vào Tư và Mây, nói chậm rãi từng điều, như người tuyên một bản án đã rõ mười mươi.

- Tôi nói thật, hai anh chị đừng sợ mà ngất đi. Đây không phải con lộn thường. Con lộn thường là vong đứa trẻ chết yểu, thương cha thương mẹ, lộn về bụng mẹ để được sinh lại, sống lại. Những vong ấy không hại ai, chúng chỉ muốn sống. Đứa nhà anh chị cũng muốn sống, tôi nhìn mắt nó là biết, nó bám mẹ nó chặt lắm. Nhưng nó về được, không phải tự nó về. Có kẻ mở đường cho nó về, giữ dấu cho nó, và hẹn đúng ngày thứ một trăm thì đến lấy nó đi, lấy ngay trước mắt cha mẹ nó, để cha mẹ nó đau đến tận cùng. Kẻ ấy không phải đứa trẻ. Kẻ ấy là một vong người lớn, chết oan, chết tức, chết mà tên tuổi bị xóa, mồ mả bị giấu. Trong làng anh chị, người ta gọi thứ ấy là Mẹ Ranh. Nó nương vào nghiệp con lộn mà đi, dùng đứa trẻ làm đường, dùng ngày thứ một trăm làm hẹn, dùng đất nhà họ làm sân của nó.

Mây ôm con chặt hơn, mặt tái đi mà giọng vẫn vững.

- Thưa thầy, vậy con tôi nó có tội gì? Nó chỉ muốn sống thôi mà.

Thầy Mùi nhìn bà, ánh mắt dịu xuống một chút, rồi ông nói câu nói mà về sau Tư còn chép lại vào cuốn sổ đếm ngày, chép ngay ngắn ở trang ngày thứ mười bảy, như một lời phán quyết mở ra toàn bộ con đường phải đi trong những ngày còn lại.

- Con anh không đòi nợ. Có kẻ dùng con anh để đòi nợ.

Cả buồng im phăng phắc. Ngoài vườn, gió vẫn thổi qua tán ổi, lá khô rơi lả tả xuống ba nấm mộ nhỏ. Tư ngồi lặng, tay nắm chặt mép ghế đến trắng cả khớp ngón tay. Suốt năm năm qua, ông đã nghĩ đủ mọi khả năng: bệnh tật, trùng tang, đất dữ, số mệnh. Nhưng ông chưa từng nghĩ đến khả năng này, rằng ba đứa con của ông, và nay là đứa thứ tư, không phải là chủ nợ, không phải là kẻ về đòi mạng. Chúng chỉ là con đường, là cái cớ, là món đồ bị kẻ khác mượn để đòi một món nợ hoàn toàn khác, món nợ của người lớn với người lớn, của đời trước với đời trước, mà cha ông đã viết lại vỏn vẹn năm chữ, nợ nhà này chưa trả. Nỗi đau của ông bỗng đổi màu. Nó không còn là nỗi đau mù quáng nữa. Nó thành một câu hỏi rõ ràng, lạnh buốt: chủ nợ là ai, nợ là nợ gì, và vì sao kẻ đòi nợ lại chọn đúng con của ông, hết đứa này đến đứa khác, để làm con đường đi đòi món nợ ấy.

- Thầy nói kẻ ấy là người đàn bà chết giếng nhà tổ, phải không? Tư hỏi, giọng khàn đi.

Thầy Mùi không gật cũng không lắc. Ông đứng dậy, ra cửa buồng, nhìn về hướng nhà tổ một lần nữa, rồi quay lại nói.

Trước khi ra về buổi chiều hôm ấy, thầy Mùi còn làm một việc nhỏ mà cả nhà nhớ mãi. Ông xin Tư một bát nước giếng trong, đặt giữa sân, thả vào đó ba hạt gạo nếp và một đồng xu cũ, rồi để bát nước yên dưới bóng gốc ổi trong một tuần nhang. Khi ông bưng bát lên, nước trong bát đã vẩn đục một vệt mờ hình xoáy dù không ai động vào, và ba hạt gạo chìm hẳn xuống đáy trong khi đồng xu nổi vệt xanh lạ. Ông không giải thích dài, chỉ bảo vệt đục ấy hướng về phía nhà tổ, gạo chìm là điềm người chết nằm sâu dưới nước lâu năm chưa được vớt lên, và nhà này muốn yên thì sớm muộn cũng phải đối diện với một nơi có nước tù, có người nằm dưới ấy mà chưa từng được gọi tên tử tế. Tư nghe mà cổ họng khô khốc. Ông nhớ lại mỗi lần đi qua vườn sau nhà tổ hồi còn nhỏ, người lớn đều dặn không được nghịch nước giếng sau, không được soi mặt xuống giếng, trẻ con đứa nào nghịch sẽ bị bà già dưới giếng kéo xuống. Lời dọa trẻ con năm xưa, hóa ra không hẳn là dọa suông. Có những lời người lớn nói với trẻ con bằng giọng đùa, mà đằng sau là cả một sự thật họ không dám nói bằng giọng thật.

Mây nghe thầy giảng xong thì lặng lẽ vào buồng, lấy ra chiếc khăn tay cũ gói ghém kỹ, mở ra cho thầy xem. Trong khăn là ba chiếc áo sơ sinh nhỏ xíu, đã giặt trắng, gấp ngay ngắn: áo của An, của Bình, của Cát. Ba đứa con mất đã lâu mà bà vẫn giữ áo của chúng, thỉnh thoảng lại mang ra phơi nắng cho khỏi mốc. Bà bảo thầy, bà không giữ áo để luyến tiếc, bà giữ để nhớ rằng mình đã làm mẹ của ba đứa trẻ thật sự, dù chúng chỉ ở với bà đúng một trăm ngày mỗi đứa. Nay đứa thứ tư về lại, bà không biết nên mừng hay nên sợ. Thầy Mùi nhìn ba chiếc áo rất lâu, rồi bảo bà cứ giữ, đến ngày cần lập đàn hay cần gọi tên các con, những vật còn hơi người thân này sẽ có chỗ dùng, và quan trọng hơn, chúng nhắc cả nhà nhớ rằng việc phải làm không chỉ vì đứa đang sống, mà còn vì ba đứa đã mất oan trong cùng một món nợ chưa ai chịu trả.

- Tôi chưa dám kết luận tên tuổi người ta khi chưa đủ chứng. Nghề của tôi, nói sai tên người chết là mang tội. Nhưng tôi dám chắc một điều: kẻ ấy chết trong đất nhà họ anh, chết khi còn trẻ, chết không nhắm mắt, và bị người sống cố tình quên đi. Muốn biết nó là ai, anh phải tự đi tìm trong họ nhà anh, trong miệng người già làng anh, chứ thầy pháp không tìm thay được quá khứ cho ai. Việc của tôi là giữ đứa bé và chỉ cho anh luật của nó. Việc tìm chủ nợ là việc của anh, của người cha, của người họ Ngô. Hai việc ấy phải làm cùng lúc, thiếu một việc là mất con, thiếu việc nào thì đứa bé và cả dòng họ này cũng không yên được lâu dài về sau nữa.

Chương khác

Xem thêm