Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 24: Bị Chặn Ở Đầu Làng

Tin Tư bán ruộng hương hỏa và thỉnh kiếm ở đền Kiếp Bạc không giấu được lâu. Giấy bán ruộng làm ở đình, người mua là phú hộ làng bên, thợ đền và người…

Nội dung chương

Tin Tư bán ruộng hương hỏa và thỉnh kiếm ở đền Kiếp Bạc không giấu được lâu. Giấy bán ruộng làm ở đình, người mua là phú hộ làng bên, thợ đền và người làng Thượng đều biết chuyện. Chỉ trong mấy ngày, cả Hạ Trạch đã xì xào: thầy đồ Tư bán cả ruộng tổ tiên để rước thầy pháp về trừ ma cho con, nhà thầy đồ có ma thật, đứa bé mới sinh mang dấu quỷ trên trán. Lời đồn đi đến đâu cũng méo thêm một ít. Đến tai ông Cừ, nó thành một câu chuyện hoàn toàn khác: Tư bôi nhọ dòng họ, bịa chuyện người chết giếng để che giấu việc nhà mình có nghiệp, rước người ngoài về làm loạn đất họ.

Ông Cừ hành động rất nhanh và rất có hệ thống, đúng như cách một trưởng họ nắm quyền mấy chục năm vẫn làm khi muốn bóp chết một kẻ chống đối. Trước hết, ông cho người đến từng nhà trong họ, nói rõ nhà thầy đồ Tư đang làm chuyện thất đức, phạm vào nhà tổ, ai còn qua lại giúp đỡ nhà ấy là tự rước họa vào thân. Sau đó, ông lên đình gặp lý trưởng, bóng gió rằng thầy pháp làng bên sang Hạ Trạch hành nghề không xin phép làng là trái lệ, có thể gây mất trật tự, đồn đãi mê tín, ảnh hưởng đến cả làng trong mắt quan trên. Cuối cùng, và đau nhất đối với Tư, ông cho gọi từng phụ huynh giàu có trong làng đang cho con theo học chữ của Tư ngày trước, dù lớp học đã đóng, và nói thẳng: nhà Tư có ma ám, trẻ con qua lại nhiều sẽ lây vận đen, tốt nhất cho chúng nghỉ hẳn, sang học thầy đồ mới ở xóm trên mà ông Cừ vừa cho người giới thiệu.

Lớp học của Tư vốn đã thưa, nay coi như tan hẳn. Mấy đứa trẻ con nhà nghèo còn học lỏm ngoài hiên cũng bị cha mẹ chúng gọi về, không cho đến nữa. Tư đứng ở cửa nhà mình, nhìn con đường làng vắng hoe trước cổng, nhìn án thư phủ chiếu trong buồng, hiểu rằng ông Cừ không chỉ muốn ngăn thầy pháp. Ông muốn cô lập cả nhà Tư, cắt hết mọi đường sống, mọi mối quan hệ, để nhà Tư hoặc phải quỳ xuống xin lỗi họ, từ bỏ chuyện đào bới quá khứ, hoặc sẽ chết dần trong sự xa lánh của cả làng. Đó là đòn đánh của người có quyền: không cần dao, không cần gậy, chỉ cần một lời của trưởng họ là đủ làm một gia đình thành người ngoài trong chính làng mình sinh ra.

Đòn nặng nhất đến vào cuối tháng bảy. Hôm ấy thầy Mùi từ làng Thượng sang, mang theo đồ nghề để chuẩn bị dần cho đêm hẹn và để xem lại mạch Khang sau hơn một tháng tuổi. Ông đi đò sang từ sớm, lên bến sông Hạ Trạch, đi bộ vào làng như mọi lần. Nhưng khi đến đầu làng, chỗ cây gạo lớn và quán nước của bà hàng xén, ông bị chặn lại. Chặn ông không phải quan quân, không phải lý trưởng, mà là một nhóm trai đinh trong họ Ngô do chính ông Cừ cử đến, cầm đầu là người cháu họ vẫn ở nhờ nhà tổ trông nhà. Chúng nói rất lễ phép mà cũng rất cứng: ông trưởng họ có lời, làng Hạ Trạch không mời thầy, nhà tổ họ Ngô không có việc gì cần thầy pháp làng bên, mời thầy quay về cho, kẻo vào làng lại sinh chuyện không hay cho cả thầy lẫn chủ nhà. Thầy Mùi đứng giữa đường làng, tay nải trên vai, nhìn nhóm trai đinh trẻ khỏe đứng chắn ngang, biết mình có cố vào cũng chỉ sinh ẩu đả vô ích, lại làm hại đến nhà Tư nhiều hơn. Ông không cãi, không chửi, chỉ gật đầu, quay lưng đi trở lại bến đò.

Tư nghe tin chạy ra đầu làng thì thầy Mùi đã lên đò sang sông được một lúc. Ông đứng dưới gốc cây gạo, nhìn con đò nhỏ đã ra giữa dòng, bóng thầy pháp ngồi ở mũi đò khuất dần trong sương chiều, mà hai tay buông thõng, bất lực đến mức không thốt nên lời. Người cháu họ nhà tổ còn đứng lại, thấy Tư thì nói với theo một câu đầy vẻ đắc thắng.

- Ông trưởng họ bảo cháu nhắn lại với chú: chú muốn giữ con thì tự giữ lấy, đừng rước người ngoài về làm nhục họ nữa. Nhà tổ không mở cổng cho thầy pháp đâu.

Tư quay về nhà một mình, trắng tay đúng như nghĩa đen của hai chữ ấy. Không thầy, không kiếm bày trận thì kiếm vẫn nằm trong hòm gỗ ở gian giữa, không một học trò nào còn đến, không một người họ hàng nào dám sang giúp. Mây ngồi trong buồng ôm con, nghe chồng kể lại chuyện đầu làng thì im lặng rất lâu, rồi bà nói một câu làm Tư càng thêm đau.

- Họ không cần giết nhà mình đâu mình ạ. Họ chỉ cần đứng im nhìn nhà mình chết dần là đủ rồi.

Những ngày sau khi thầy Mùi bị chặn, sự cô lập hiện rõ trong từng việc nhỏ nhất của đời sống hàng ngày. Tư ra chợ mua muối cũng bị hàng xóm nhìn bằng ánh mắt khác, người bán hàng thì vẫn bán mà không hỏi han một câu như trước. Đi qua đình, mấy cụ già vẫn gật đầu chào ông mà không dừng lại trò chuyện. Sang nhà ngoại, bà Sen phải lén gói cho con rể ít thuốc bổ qua tay người ở, vì bà cũng nghe phong thanh họ nhà chồng đang giận lây sang cả nhà vợ. Bà Lựu là người duy nhất còn công khai qua lại nhà Tư, bà bảo bà già rồi, không sợ trưởng họ, nhà nào có sản phụ và trẻ con thì bà đến, trời bắt tội thì bà chịu. Ngoài bà Lựu, chỉ còn ông Từ đình thỉnh thoảng ghé vào lúc chập tối, ngồi uống bát nước rồi về, không ở lâu, như sợ người ta trông thấy. Tư ghi hết những điều ấy vào sổ, không phải để oán trách, mà để nhớ rõ trong những ngày đen tối nhất này, ai còn ở lại bên nhà mình, ai đã quay lưng, để sau này khi việc xong xuôi, ông biết phải cảm ơn ai và phải nhìn ai bằng ánh mắt nào.

Mây trong những ngày ấy gầy đi trông thấy. Bà vừa qua cữ chưa lâu, người chưa lại sức đã phải sống trong không khí ngột ngạt của sự xa lánh và nỗi lo đếm ngày. Có hôm bà ngồi cho con bú mà nước mắt cứ tự chảy xuống, bà bảo Tư, bà không sợ ma, bà sợ người. Ma thì hẹn đúng một đêm mới đến lấy mạng. Người thì ngày nào cũng có thể làm nhà mình khổ thêm một chút, bằng một lời đồn, một ánh mắt, một cánh cổng đóng sầm. Tư nghe vợ nói mà không biết an ủi sao cho phải. Ông chỉ biết làm những việc trong tầm tay: tự tay nấu cháo cho vợ, tự tay thay tã cho con, tự tay kiểm tra cung vôi và cành dâu mỗi tối, và mỗi đêm đều ghi sổ đầy đủ, dù ngày hôm ấy có tủi nhục đến đâu cũng không bỏ ghi một dòng. Cuốn sổ đếm ngày của ông vì thế không chỉ ghi sức khỏe của Khang. Nó ghi cả quá trình một gia đình bị chính dòng họ của mình đẩy ra ngoài rìa làng, từng bước một, lạnh lùng và có tính toán.

Có một buổi chiều, một người họ hàng xa mà Tư từng giúp dạy chữ cho con không công mấy năm trước lén đến nhà vào lúc trời nhá nhem, mang theo một gói quà nhỏ cho đứa bé rồi vội vã ra về, đi được mấy bước lại quay lại dặn Tư đừng nói với ai là anh ta có đến. Tư tiễn khách ra cổng, nhìn bóng người ấy khuất nhanh vào ngõ tối như sợ bị bắt gặp, mà lòng vừa cảm động vừa chua xót. Hóa ra lòng tốt trong làng này vẫn còn, chỉ là nó phải đi lén, phải đến lúc trời tối, phải dặn đừng nói với ai. Còn cái ác, cái uy quyền của trưởng họ, thì đi giữa ban ngày, đứng giữa đầu làng, nói to cho cả làng cùng nghe. Sự đối lập ấy làm Tư hiểu thêm một điều quan trọng cho những ngày sắp tới: muốn phá vòng cô lập này, ông không thể chỉ dựa vào thầy pháp và kiếm gỗ đào. Ông phải tìm được sự thật đủ rõ, đủ cứng, để những người tốt đang phải đi lén kia dám đứng ra giữa ban ngày mà nói. Sự thật ấy nằm ở nhà tổ, nằm trong miệng những người già còn nhớ chuyện người đàn bà chết giếng, và nằm sâu nhất là dưới phiến đá mới trên miệng giếng kia.

Đêm ấy, Tư ngồi một mình trước án thư đến tận canh ba. Ông mở hòm gỗ, lấy thanh kiếm gỗ đào bọc vải đỏ ra, đặt lên bàn, nhìn nó rất lâu. Kiếm vẫn ấm, bùa khắc vẫn đỏ sẫm, ấn tín vẫn nguyên. Nhưng kiếm nằm đây mà thầy thì ở bên kia sông, trận thì chưa ai bày, chủ nợ thì chưa tìm ra tên tuổi. Ông thua. Thua thật sự, thua ngay giữa hồi, thua không phải vì ma quỷ mạnh hơn, mà vì người sống trong chính dòng họ mình đã ra tay trước, nhanh hơn, độc hơn và có hệ thống hơn mọi thứ ma quỷ ông từng đối mặt. Tiếng chân khập khiễng đêm ấy vẫn đi trên mái như thường lệ, chậm rãi, thong thả, như kẻ đang đứng ngoài nhìn vào một ngôi nhà đã bị cả làng bỏ rơi, và biết rằng nó chỉ cần chờ thêm ít tuần nữa là đến hẹn. Tư nằm nghe tiếng chân ấy mà không ngủ được, trong đầu ông cứ hiện lên hình ảnh con đò chở thầy Mùi ra giữa dòng sông lúc chiều, nhỏ dần, xa dần, mang theo hy vọng duy nhất của nhà ông sang bờ bên kia. Ông biết mình phải tìm cách đưa thầy trở lại làng bằng một con đường khác, kín đáo hơn, và phải làm điều đó trước khi cơn sốt đầu tiên của Khang ập đến, vì ông có linh cảm ngày ấy không còn xa nữa, linh cảm của một người cha đã ba lần nhìn đồng hồ đếm ngược chạy hết mà không làm được gì.

Chương khác

Xem thêm