Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 27: Cái Tên Gấm

Có thầy Mùi giữ phần trận, Tư dồn hết sức vào việc tìm người. Ông bắt đầu từ ông Từ đình, người đã hé chuyện đầu tiên. Một buổi tối giữa tháng tám, Tư…

Nội dung chương

Có thầy Mùi giữ phần trận, Tư dồn hết sức vào việc tìm người. Ông bắt đầu từ ông Từ đình, người đã hé chuyện đầu tiên. Một buổi tối giữa tháng tám, Tư mang sang đình một ít trầu cau và ngồi với ông Từ đến tận khuya ở gian giữa đình, trước ban thờ Thành hoàng. Ông Từ thắp thêm một nén hương, nhìn khói hương bay thẳng trong đêm không gió, rồi mới chậm rãi kể những gì ông biết, những gì ông nghe từ chính cha ông, người cũng từng giữ đình Hạ Trạch trước ông.

Cha ông Từ kể rằng đời cụ cố nội Ngô Đình Hoành, nhà tổ họ Ngô bề thế nhất làng. Cụ Hoành có vợ cả là người họ Vũ ở làng bên, dữ dằn, không sinh được con trong nhiều năm đầu. Sau cụ lấy thêm một người vợ lẽ trẻ, người làng bên kia sông, họ Đinh, tên là gì thì cha ông Từ không nhớ rõ, chỉ nhớ người làng gọi cô ấy là cô Hai, hát hay, chữ tốt, được cụ Hoành thương lắm. Cô Hai về nhà tổ ít năm thì vợ cả sinh được con trai, địa vị trong nhà đổi hẳn. Rồi một năm nào đó, cô Hai bỗng nhiên biến mất. Người nhà tổ nói cô bỏ trốn theo trai, người làng thì đồn cô chết đuối ở sông, cũng có người bảo cô chết giếng trong vườn sau nhà tổ vào một đêm mưa. Sau đó nhà tổ cấm tiệt không cho ai nhắc đến cô nữa. Ai nhắc là bị mắng, bị đuổi, lâu dần cả làng quên hẳn, chỉ còn những người già nhất như cha ông Từ còn giữ lại được mấy mẩu chuyện rời rạc, kể cho con cháu nghe vào những đêm dài như một thứ chuyện ma không đầu không cuối.

- Cha tôi trước khi mất còn dặn tôi, ông Từ nói, giọng hạ xuống rất thấp dù trong đình chỉ có hai người. Dặn rằng nếu sau này con cháu họ Ngô có bề gì liên quan đến trẻ con và giếng nước, thì đừng coi là chuyện thường. Tôi giữ đình ngần ấy năm, thấy nhà thầy mất ba đứa con cùng một cách, tôi biết lời dặn của cha tôi ứng nghiệm rồi. Nhưng tôi già rồi, tôi chỉ biết đến thế thôi. Muốn biết tên tuổi cô Hai cho rõ ràng, thầy phải tìm người từng ở trong nhà tổ, từng hầu hạ cô ấy khi cô ấy còn sống. Người ấy còn sống đấy, thầy ạ. Ở xóm cuối làng, gần bãi tha ma. Bà lão mù họ Tạ.

Cái tên bà lão mù họ Tạ, Tư đã nghe qua vài lần trong đời mà chưa từng để ý. Bà sống một mình trong một túp lều tranh ở cuối làng, mù cả hai mắt từ nhiều năm, sống nhờ con cháu họ xa và người làng thương tình cho ăn. Ít ai đến nhà bà vì bà già lẫn, nói năng lúc nhớ lúc quên, lại ở gần bãi tha ma âm khí nặng. Nhưng theo ông Từ, bà Tạ ngày trẻ từng là người ở trong nhà tổ họ Ngô, hầu hạ trực tiếp cô Hai vợ lẽ của cụ Hoành trong những năm cuối đời cô. Nếu còn ai trên đời này nhớ rõ mặt cô Hai, tên cô Hai và cách cô chết, thì chỉ có bà lão mù ấy.

Trên đường từ đình về nhà đêm ấy, Tư đi rất chậm. Ông vừa đi vừa sắp xếp lại trong đầu những mảnh chuyện ông Từ vừa kể: vợ cả không con nhiều năm, vợ lẽ trẻ được thương, vợ lẽ biến mất, nhà tổ cấm nhắc. Những mảnh ấy khớp với trang gia phả bị xé và dòng chữ của cha ông một cách đáng sợ, khớp đến mức ông không còn tự an ủi mình rằng đây chỉ là lời đồn của người già được nữa. Ông về nhà, kể lại hết cho Mây nghe trong buồng tối. Mây nghe xong, ôm con chặt hơn và nói một câu mà Tư nhớ mãi: nếu người đàn bà ấy thật sự chết oan trong nhà tổ, thì ba đứa con nhà mình chết không phải vì chúng có tội, mà vì người lớn đời trước có tội mà không ai chịu nhận. Câu nói ấy của vợ làm Tư trằn trọc suốt đêm. Nó đổi hẳn cách ông nhìn món nợ này. Trước đây ông nghĩ nhà mình bị quỷ hại. Từ đêm ấy, ông bắt đầu nghĩ nhà mình đang phải trả thay cho người ta, và cách duy nhất để dừng lại không phải là đánh thắng con quỷ, mà là tìm ra người đàn bà ấy là ai và nhận lại món nợ của tổ tiên mình một cách đàng hoàng.

Sáng hôm sau, Tư còn ghé đình một lần nữa để hỏi ông Từ cho rõ địa chỉ và tình trạng của bà lão họ Tạ, phòng khi lời kể đêm qua trong lúc xúc động có chỗ nào ông nghe chưa kỹ. Ông Từ xác nhận lại từng điều, còn dặn thêm rằng bà Tạ tai đã lãng, mắt đã mù, đến nơi phải nói to, nói chậm, ngồi gần, và tuyệt đối không được nhắc đến ông Cừ trước mặt bà ngay từ đầu, vì bà sợ nhà tổ lắm, nhắc đến là bà im bặt không kể gì nữa. Tư ghi nhớ hết, mua thêm ít thuốc bổ cho người già ở hàng xén đầu làng, gói ghém cẩn thận rồi mới lên đường xuống xóm cuối làng vào một buổi sáng sớm. Con đường xuống cuối làng đi qua bãi tha ma, cỏ mọc cao quá đầu gối, những nấm mộ vô danh nằm rải rác không hàng lối. Tư đi qua bãi đất ấy mà cố ghi nhớ từng vị trí, vì ông có linh cảm sớm muộn gì mình cũng phải quay lại nơi này để tìm một ngôi mộ đã mất dấu từ hơn năm mươi năm trước.

Tư đến nhà bà Tạ vào một buổi sáng trời mưa nhỏ. Túp lều của bà thấp và tối, mái tranh đã mục nhiều chỗ, trong lều chỉ có một chiếc giường tre, một bếp đất lạnh tro và mấy chiếc bát sành xếp ngay ngắn trên chõng. Bà lão ngồi trên giường, lưng còng, tóc bạc trắng xõa xuống vai, đôi mắt đục mờ mở to mà không nhìn thấy gì. Nghe tiếng Tư chào ngoài cửa, bà nghiêng đầu lắng nghe rất lâu, rồi hỏi bằng giọng run run của người đã tám mươi tuổi.

- Ai đấy? Ai đến nhà bà già mù lòa này đấy, nói cho bà nghe với?

- Cháu là Tư, thầy đồ ở xóm trên, cháu họ Ngô, Tư đáp, đặt gói quà gồm ít gạo và mấy quả cau lên chõng. Cháu đến xin hỏi bà một chuyện cũ trong nhà tổ, chuyện từ đời cụ cố nội cháu.

Bà lão nghe đến hai chữ nhà tổ thì tay run lên trông thấy. Bà lần mò nắm lấy tay Tư, sờ từ cổ tay lên đến khuỷu tay như người mù vẫn làm để nhận diện người quen, rồi bà thở dài một hơi rất dài.

- Họ Ngô. Bao nhiêu năm rồi không có người họ Ngô nào đến nhà này hỏi chuyện cũ. Các anh sợ, các anh quên hết rồi. Chỉ có bà già mù này là không quên được, vì bà có quên thì đêm đêm nó vẫn về nó gọi bà trong mơ.

Tư ngồi xuống bên giường, tim đập mạnh, lựa lời hỏi từng chút một. Hỏi cô Hai tên thật là gì. Bà lão im lặng một lúc lâu, môi mấp máy như đang cố nhớ một cái tên đã bị cấm nói suốt mấy chục năm, rồi bà nói, chậm và rõ, từng chữ một như sợ nói sai sẽ mang tội với người đã chết.

- Gấm. Đinh Thị Gấm. Người làng bên kia sông, về làm vợ lẽ cụ Hoành năm mười bảy tuổi, năm ấy nhà tổ làm cỗ to lắm. Đẹp người, đẹp nết, biết chữ, biết hát, ai trong nhà tổ cũng quý, trừ bà cả.

Rồi bà nắm chặt tay Tư hơn, hạ giọng xuống thành tiếng thì thầm, nói thêm một câu làm Tư lạnh cả sống lưng và biết rằng mình đã tìm đúng người, đúng mảnh ghép quan trọng nhất của toàn bộ câu chuyện.

Bà lão còn kể, bằng giọng đứt quãng vì mệt, rằng những năm đầu sau khi Gấm chết, cứ đến tháng bảy mưa ngâu là người ở trong nhà tổ lại nghe tiếng khóc rất khẽ ở vườn sau vào lúc nửa đêm, tiếng khóc của đàn bà trẻ, khóc không thành tiếng lớn mà nức nở như bị người ta bịt miệng. Người ở sợ, không ai dám ra vườn sau vào ban đêm nữa, bếp cũ gần giếng bỏ hoang từ dạo ấy, cả nhà tổ chuyển bếp lên phía trước. Bà bảo chính bà, trong một đêm mưa tháng bảy của nhiều năm sau, đã một mình ra vườn sau thắp cho cô chủ cũ một nén hương lén ở gốc cây vải gần giếng, khấn rằng cô có oan thì về báo mộng cho người có quyền trong nhà mà đòi, đừng dọa đám người ở vô tội. Đêm ấy bà mơ thấy Gấm đứng bên giếng, váy áo ướt sũng, chân phải kéo lê trên đất ướt, chỉ nhìn bà mà không nói gì, nhìn đến khi bà giật mình tỉnh dậy thì hương trên tay đã tắt từ lúc nào. Bà kể chuyện này không phải để dọa Tư, mà để ông hiểu rằng Gấm chờ đợi đã lâu lắm rồi, chờ từ khi tóc bà còn xanh đến nay tóc bà đã bạc trắng và mắt đã mù hẳn, mà trong nhà tổ vẫn không một ai chịu đứng ra gọi tên cô cho đàng hoàng.

- Cô Gấm có một chiếc vòng bạc đeo ở cổ tay, không bao giờ rời người. Ngày cô chết dưới giếng, người ta vớt cô lên, vòng vẫn còn trên tay cô. Họ chôn cô vội vàng ngoài bãi tha ma này, chôn cả chiếc vòng bạc theo người cô, không ai dám tháo ra. Bà là người thay quần áo cho cô lần cuối, bà nhớ rõ lắm, cháu ạ. Vòng bạc ấy mà còn, là còn bằng chứng cô Gấm thật sự đã nằm dưới cái giếng nhà tổ nhà cháu, bằng chứng bằng bạc thật, không ai chối cãi được nữa đâu cháu ạ.

Chương khác

Xem thêm