Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 28: Người Vợ Lẽ Chết Giếng

Tư đến nhà bà lão mù họ Tạ thêm hai lần nữa mới nghe được trọn câu chuyện đời Gấm. Bà già tám mươi tuổi, trí nhớ lúc tỏ lúc mờ, kể chuyện phải kể từng…

Nội dung chương

Tư đến nhà bà lão mù họ Tạ thêm hai lần nữa mới nghe được trọn câu chuyện đời Gấm. Bà già tám mươi tuổi, trí nhớ lúc tỏ lúc mờ, kể chuyện phải kể từng đoạn ngắn, mệt lại nghỉ, có đoạn kể đi kể lại hai lần, có đoạn đang kể thì khóc, bảo thương cô Gấm quá mà khóc. Tư ngồi nghe, ghi chép vào một cuốn sổ riêng, ghi cả những chỗ bà kể trùng nhau và những chỗ bà ngập ngừng, vì ông biết đây là lời chứng của nhân chứng sống cuối cùng, một khi bà mất đi, sự thật này sẽ mất theo bà xuống mồ và không còn ai trên đời làm chứng được nữa. Thầy Mùi nghe Tư kể lại thì dặn ông phải ghi cho kỹ, ghi cả ngày tháng đến thăm, vì sau này nếu có lúc phải nói ra giữa họ, giữa làng, những ghi chép ấy chính là thứ làm người ta tin.

Theo lời bà Tạ, Đinh Thị Gấm sinh ra ở làng bên kia sông Đáy, nhà nghèo mà có chữ, cha từng làm thầy đồ vỡ lòng. Năm mười bảy tuổi, Gấm được cụ Ngô Đình Hoành hỏi về làm vợ lẽ. Cụ Hoành lúc ấy đã ngoài bốn mươi, vợ cả là bà Vũ Thị, người dữ dằn, lấy nhau nhiều năm không có con, trong nhà không khí ngột ngạt. Gấm về nhà tổ, biết thân phận vợ lẽ, sống rất biết điều: kính vợ cả như chị, hầu hạ chồng chu đáo, dạy chữ cho trẻ con người ở trong nhà, ai cũng quý. Cụ Hoành thương Gấm thật lòng, cho cô ở gian buồng riêng phía sau, cho cô đeo chiếc vòng bạc là của hồi môn ít ỏi nhà gái cho, lại tặng cô một chiếc lược sừng mà cô quý lắm, ngày nào cũng chải tóc bằng chiếc lược ấy. Được ít năm, Gấm mang thai. Đó là đứa con đầu tiên trong nhà tổ sau nhiều năm chờ đợi. Cả nhà mừng, cụ Hoành mừng nhất, đã tính chuyện nếu sinh con trai sẽ cho Gấm một vị thế khác trong nhà.

Nhưng niềm mừng ấy giết chết Gấm. Bà vợ cả, sau nhiều năm không con, bỗng sinh được một con trai trước Gấm ít tháng, là tổ tiên trực hệ của ông Cừ ngày nay. Địa vị trong nhà đảo ngược hoàn toàn. Bà cả có con, thành người nắm quyền thật sự sau cụ Hoành. Đứa con trong bụng Gấm, từ niềm hy vọng của nhà tổ, bỗng thành cái gai: nếu Gấm sinh con trai, nhà tổ sẽ có hai dòng tranh nhau, và cụ Hoành thương Gấm hơn thương vợ cả là điều cả làng đều thấy. Bà Tạ kể đến đây thì giọng run lên. Bà bảo những ngày cuối của Gấm là những ngày khổ nhất đời một người đàn bà: bị vu là tư thông với người ở, bị tịch thu đồ đạc, bị đánh bằng roi mây, đánh què một chân phải, đi lại khập khiễng từ dạo ấy, bị giam trong gian bếp cũ, ăn cơm thừa, uống nước lã. Cái thai trong bụng bị hành hạ theo mẹ, yếu dần. Rồi một đêm mưa năm 1884, người ta nghe tiếng kêu cứu rất khẽ từ phía giếng sau nhà tổ. Sáng ra, Gấm đã chết dưới giếng, người ướt sũng, chân phải gãy không còn đi được nữa, đứa con trong bụng cũng mất. Nhà tổ nói Gấm tự vẫn vì xấu hổ về tội tư thông. Nhưng bà Tạ, người thay quần áo cho Gấm lần cuối, bảo trên người Gấm có những vết roi cũ mới chồng chéo, cổ tay có vết bầm như bị người ta nắm chặt kéo đi trong đêm mưa ấy. Bà không dám nói ra lúc bấy giờ. Nói ra là chết theo cô chủ. Bà im lặng suốt từ đó đến nay, hơn năm mươi năm, im lặng đến mức chính bà cũng tưởng mình đã quên, cho đến khi nghe tin nhà thầy đồ Tư mất đến đứa con thứ ba cùng một cách, bà mới biết món nợ ấy chưa hề được quên đi ở cõi bên kia.

Bà Tạ còn kể thêm một chuyện về những ngày ngay sau cái chết của Gấm mà Tư nghe xong phải ghi riêng ra một trang, khoanh tròn lại hai lần. Bà bảo trong vòng một tháng sau khi chôn Gấm, nhà tổ liên tiếp gặp chuyện lạ: chó nuôi trong nhà tru suốt đêm về phía giếng sau, bà vợ cả ốm một trận suýt chết, đứa con trai của bà cả đêm nào cũng khóc thét đúng giờ Tý không dỗ được. Cụ Hoành từ dạo ấy người sút hẳn đi, ít nói, thỉnh thoảng lại ra đứng một mình bên miệng giếng rất lâu vào lúc chiều tối. Có người ở trong nhà kể là cụ đã định cho làm lễ gọi hồn và cho Gấm một bài vị nhỏ trong nhà, nhưng bà vợ cả khóc lóc ngăn cản, nói nhận vợ lẽ chết oan vào thờ là rước họa cho con trai mình. Cụ Hoành nghe vợ, lại thôi. Từ đó nhà tổ mới thật sự khóa chặt chuyện này: phiến đá đầu tiên được đậy lên miệng giếng chính là từ dạo ấy, gia phả được chép lại một bản mới bỏ hẳn tên Gấm, và lệnh cấm nhắc tên cô được truyền từ đời cụ Hoành xuống đời cha ông Cừ, rồi xuống chính ông Cừ ngày nay. Tư nghe mà hiểu ra phiến đá mới ông thấy hồi tháng tư không phải là phiến đá đầu tiên. Nó là phiến đá thay cho phiến đá cũ đã nứt, một sự bịt miệng được duy trì liên tục suốt hơn năm mươi năm, qua ba đời trưởng họ, không một đời nào dám mở ra.

Ông cũng hỏi bà Tạ về chiếc lược sừng mà thầy Mùi từng nhắc là vật chứng thứ hai của đời Gấm, ngoài chiếc vòng bạc. Bà lão nghe hỏi thì lần tay vào chiếc túi vải cũ treo ở đầu giường, lần mò một lúc rồi lắc đầu bảo lược không ở chỗ bà. Chiếc lược ấy, sau khi Gấm chết, được mẹ của một người ở khác trong nhà tổ giữ lại, người ấy thương Gấm, giữ lược như giữ một kỷ vật của người đã khuất, đến nay gia đình người ấy vẫn còn ở trong làng, con cháu họ có thể vẫn giữ chiếc lược nếu chưa làm mất. Bà dặn Tư cứ tìm theo họ của người ở ấy mà hỏi khéo, đừng hỏi dồn, người làng giữ kỷ vật của người chết oan thường sợ liên lụy, phải thật lòng họ mới trao lại cho. Tư ghi cả manh mối này vào sổ, coi đó là việc phải làm trong những ngày tới, song song với việc đối chất ông Cừ lần thứ hai bằng những gì ông đã biết chắc chắn.

Xác Gấm không được nhập họ. Tên cô bị xé khỏi gia phả ngay trong tuần ấy. Xác được khâm liệm qua loa, chôn vội ở bãi tha ma cuối làng trong một đêm không trăng, không kèn trống, không người làng đưa tiễn, chỉ có mấy người ở trong nhà tổ và một chiếc vòng bạc vẫn đeo trên cổ tay người chết vì không ai dám tháo ra, sợ xui xẻo. Ngôi mộ không bia, đất đắp thấp, mấy năm sau đã san phẳng không còn dấu tích, người làng đi qua bãi tha ma không ai biết dưới lớp đất ấy có một người vợ lẽ họ Ngô từng được chôn.

Tư nghe xong toàn bộ câu chuyện, ngồi lặng trong túp lều tranh rất lâu. Mưa ngoài trời đã tạnh, nắng chiều hắt qua mái tranh mục thành những vệt sáng đầy bụi. Ông nhìn bà lão mù đang ngồi co ro trên giường tre, và bỗng nhận ra một sự trùng khớp lạnh người mà ông phải nói thành lời để tự mình nghe cho rõ.

- Bà vừa kể cô Gấm bị đánh què chân phải. Đi khập khiễng. Bà có chắc là chân phải không?

- Chắc, bà Tạ gật đầu quả quyết. Chân phải. Bà thay quần áo cho cô ấy, chân phải sưng vù, bầm tím, sau này cô ấy đi cứ bước một bước nặng một bước nhẹ kéo theo. Ai trong nhà tổ ngày ấy cũng biết cô Gấm đi khập khiễng. Sao cháu hỏi kỹ thế?

Tư không đáp ngay. Ông nghĩ đến tiếng chân trên mái nhà mình suốt năm năm qua: một bước nặng, một bước nhẹ kéo theo, khập khiễng, chậm rãi, đi vòng quanh buồng đẻ rồi dừng lại đúng trên đầu giường vợ con ông. Ông nghĩ đến giấc mơ người đàn bà đứng dưới giếng khóc. Ông nghĩ đến câu thì thầm trả nợ chưa xong. Tất cả, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm mơ hồ, đã có một cái tên, một khuôn mặt, một câu chuyện đời cụ thể gắn vào. Quỷ không còn là quỷ vô danh nữa. Nó là Đinh Thị Gấm, mười chín tuổi, vợ lẽ của cụ cố nội, bị đánh què chân phải, sảy thai, chết dưới giếng năm 1884, bị xóa tên và chôn vội ngoài bãi tha ma. Và món nợ mà cha ông viết lại, chính là mạng người này, tên người này, nấm mồ không bia này.

Trước khi ra về, Tư còn hỏi bà Tạ một điều cuối cùng, điều ông đã muốn hỏi từ lúc nghe tên Gấm mà chưa dám hỏi vì sợ câu trả lời. Ông hỏi bà, theo bà, Gấm chết dưới giếng là tự vẫn thật hay bị người ta hại. Bà lão mù im lặng rất lâu sau câu hỏi ấy, lâu đến mức Tư tưởng bà đã ngủ gật. Rồi bà đưa bàn tay khô quắt lên, lần mò nắm lấy cổ tay Tư, ghé sát mặt vào gần ông và nói bằng một giọng thì thầm chỉ đủ cho hai người nghe, dù trong túp lều tranh cuối làng hôm ấy không có người thứ ba nào cả. Bà bảo cô Gấm không tự vẫn. Một người đàn bà mang thai, bị đánh què một chân, bị giam trong bếp cũ, nửa đêm mưa gió làm sao tự trèo qua thành giếng cao đến ngực mà gieo mình xuống được. Sáng hôm vớt cô lên, trên thành giếng có vết bùn kéo dài như có người lôi một vật nặng qua đó, và trong bếp cũ, chiếc lược sừng của cô vẫn còn chải dở trên mái tóc rối để trên chõng, như cô bị gọi ra khỏi buồng giữa lúc đang chải đầu đi ngủ. Bà nói đến đó thì không nói nữa, chỉ lắc đầu, bảo bà già mù này chỉ dám nói đến thế, phần còn lại, trời biết, đất biết, người chết biết, người sống nào làm thì tự người ấy biết. Tư ghi câu nói ấy vào sổ bằng nét chữ rất nhỏ ở cuối trang, không ghi tên người nói bên cạnh, vì ông sợ cuốn sổ này nếu rơi vào tay nhà tổ sẽ làm hại đến bà lão đã tám mươi tuổi và không còn nơi nào để trốn nữa.

- Cháu chắc rồi, bà ạ, Tư nói khẽ, giọng ông nghẹn lại. Tiếng chân khập khiễng trên mái nhà cháu bao nhiêu năm nay, chính là tiếng chân của cô Gấm. Cô ấy về đòi nợ nhà cháu thật rồi.

Chương khác

Xem thêm