Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 31: Bày Trận Đêm Một Trăm

Sau đêm thứ bảy mươi, thầy Mùi bắt đầu dạy Tư bày trận một cách bài bản. Việc học diễn ra vào ban đêm, trong buồng đẻ và gian giữa nhà Tư, khi Mây và…

Nội dung chương

Sau đêm thứ bảy mươi, thầy Mùi bắt đầu dạy Tư bày trận một cách bài bản. Việc học diễn ra vào ban đêm, trong buồng đẻ và gian giữa nhà Tư, khi Mây và Khang đã ngủ, đèn dầu hạ nhỏ, cửa nẻo đóng kín. Thầy Mùi trải một tấm chiếu giữa nhà, lấy đó làm giường giả, rồi bày từng lớp trận quanh chiếu như bày một bàn cờ mà mỗi quân đều có vị trí không được sai một phân.

Lớp ngoài cùng là Cung Vôi. Thầy dạy Tư vẽ lại cung vôi hoàn chỉnh không chỉ ở ngưỡng cửa buồng đẻ, mà cả ở cổng ngõ và ngưỡng cửa chính, cung phải liền nét, tên phải chĩa thẳng ra ngoài, đầu tên không được cong, cán cung không được đứt đoạn. Vôi phải là vôi bột mới, trộn một ít tro bếp và muối, vẽ vào lúc trời còn sáng để kiểm tra được nét vẽ dưới ánh sáng thật, và mỗi sáng mỗi tối phải kiểm tra lại, mờ đâu dặm đấy ngay, tuyệt đối không để qua một đêm nào với một cung vôi đã mờ như đêm thứ bảy mươi vừa qua.

Lớp thứ hai là lưới cành dâu. Thầy dạy Tư chọn cành dâu tằm bánh tẻ, không già không non, chặt vào buổi sáng, kết thành lưới bằng chỉ đỏ đã trì chú, mắt lưới đều nhau, giăng quanh giường sản phụ cao đến ngang ngực người ngồi, chừa một cửa nhỏ phía đầu giường cho người mẹ ra vào, cửa ấy đến đêm hẹn sẽ được đóng lại bằng một nút thắt đặc biệt mà chỉ thầy và Tư biết cách tháo. Lưới dâu không phải để quỷ không vào được, thầy nói rõ như vậy để Tư khỏi ảo tưởng. Lưới chỉ làm chậm nó lại, làm nó phải mất thêm thời gian và sức lực khi thò tay qua, và chính khoảnh khắc chậm ấy là khoảnh khắc người cầm kiếm cần để ra đòn đúng lúc nó qua ngưỡng trận.

Lớp thứ ba là trận đồ bát quái vẽ bằng mực chu sa quanh giường, trên nền đất nện của buồng đẻ. Thầy Mùi tự tay pha chu sa mẫu một lần cho Tư xem: chu sa thật nghiền mịn, hòa với rượu trắng và một ít máu gà trống đen theo lệ nghề, mực đỏ sẫm, thơm hăng, vẽ đến đâu khô đến đó thành những nét đỏ nổi bật trên nền đất tối. Trận đồ có tâm là vị trí đứa bé nằm, tám quẻ hướng ra tám phía, ngưỡng trận là vòng tròn chu sa bao ngoài cùng, cũng là ranh giới quan trọng nhất của cả đêm hẹn: quỷ chưa qua vòng tròn ấy, kiếm chém cũng vô ích; quỷ đã thò qua vòng tròn ấy, kiếm mới chém trúng phần thân của nó được. Thầy bắt Tư học thuộc lòng điều này, nhắc đi nhắc lại đến khi Tư nhắm mắt cũng nói lại được không sai một chữ.

Lớp cuối cùng là kiếm gỗ đào Thánh Trần. Kiếm được treo ở đầu giường, mũi kiếm hướng về phía cửa sổ buồng đẻ, nơi quỷ đã cào năm vết lên bậu cửa. Đến đêm hẹn, kiếm sẽ do chính tay Tư cầm, vì lệ nghề quy định người cầm kiếm phải là người máu mủ ruột thịt với đứa trẻ, đứng giữa giường và cửa sổ, không lùi, không bỏ chạy, không chém bừa khi chưa nghe hiệu lệnh của thầy. Thầy Mùi sẽ đứng ở góc buồng phía chân giường, tay cầm cành dâu tằm tươi, miệng đọc chú, mắt quan sát ngưỡng trận, và chỉ khi nào móng vuốt của quỷ thò qua vòng chu sa, ông mới hô chém. Một tiếng hô ấy, Tư phải đợi bằng được, dù tay run, dù vợ khóc, dù con tím tái ngay trước mắt. Chém sớm là mất con. Chém muộn cũng mất con. Chỉ có đúng khoảnh khắc ấy mới giữ được cả con lẫn tay quỷ.

Tư học trận trong nhiều đêm liền, học đến thuộc từng vị trí đặt chân của mỗi người trong buồng vào đêm hẹn: Mây nằm giữa giường ôm con trong lưới dâu, bà Sen ngồi phía đầu giường cầm đèn và giữ khăn ấm, bà Lựu ngồi phía chân giường canh thóp và sắc mặt đứa bé, thầy Mùi ở góc buồng, còn Tư đứng chắn cửa sổ với kiếm trong tay. Ông thực hành cả việc chạy từ cửa chính vào buồng trong bóng tối không đèn, thực hành cầm kiếm bằng hai tay không run, thực hành nghe tiếng hô của thầy giữa tiếng trẻ khóc và tiếng gió giả mà thầy cố tình tạo ra để thử ông. Có lần ông chém sớm, thầy lắc đầu bảo nếu là đêm thật thì nhát ấy đã làm quỷ rút tay về và không thò vào nữa cho đến khi đứa bé kiệt sức hẳn. Có lần ông chém muộn, thầy bảo nếu là đêm thật thì móng vuốt đã chạm vào đứa bé rồi. Tư tập đi tập lại cho đến khi tay ông bớt run và tai ông phân biệt được tiếng hô thật giữa mọi thứ âm thanh hỗn loạn khác.

Trong những đêm học trận ấy, Mây dù đang ở cữ yếu vẫn xin được ngồi xem một buổi từ đầu đến cuối, vì bà nói bà là mẹ đứa bé, bà phải biết đêm ấy mình nằm ở đâu, làm gì, nghe hiệu lệnh nào thì ôm con chặt hơn, nghe tiếng gì cũng không được hoảng mà vùng dậy chạy ra ngoài phá trận. Thầy Mùi đồng ý, còn dạy riêng cho bà cách ôm con trong lưới dâu sao cho đầu con luôn hướng vào phía trong giường, cách lấy thân mình che phía cửa sổ mỗi khi gió mạnh bất thường, và quan trọng nhất là cách giữ bình tĩnh khi nghe tiếng gọi ngoài cửa giống hệt giọng chồng hay giọng mẹ ruột của mình. Bà Sen cũng học thuộc phần việc của mình: giữ đèn không tắt, khăn ấm luôn sẵn trên tay, và tuyệt đối không mở cửa buồng ra gian ngoài dù nghe bất cứ tiếng động gì, kể cả tiếng người kêu cứu. Bà Lựu thì được giao việc canh sắc mặt và thóp của Khang, hễ thấy dấu hiệu tím tái sớm trước giờ Tý là phải báo ngay cho thầy bằng ám hiệu gõ ba tiếng vào thành giường, không được la lên làm cả nhà rối loạn. Mỗi người một việc, việc nào cũng nhỏ mà việc nào cũng có thể quyết định sống chết của đứa bé trong đêm hẹn, và Tư ghi hết những phân công ấy thành một bảng rõ ràng dán ở vách buồng, để đến đêm thật, ai cũng chỉ cần nhìn bảng là nhớ việc của mình, không phải hỏi ai câu nào giữa lúc nguy cấp.

Thầy Mùi còn lưu ý một chuyện về thời tiết mà lúc đầu Tư không để tâm, sau mới thấy là việc hệ trọng. Ông bảo những đêm quỷ ra tay mạnh nhất thường là đêm có mưa, vì mưa làm mờ cung vôi ngoài trời, làm ẩm lưới dâu, làm đất nền buồng đẻ mềm ra khiến trận đồ chu sa dễ nhòe. Tháng chín ở Hạ Trạch là tháng mưa ngâu, mưa có thể đến bất cứ đêm nào không báo trước. Vì thế cả nhà phải chuẩn bị sẵn phương án mưa: mái hiên trên cửa sổ phải được che thêm một tấm cót, cung vôi ở cổng phải được vẽ dưới mái che và dặm lại ngay sau mỗi cơn mưa, nền buồng phải giữ khô bằng cách rải thêm tro bếp quanh trận đồ. Tư nghe mà ghi chép không sót một chữ, trong lòng càng thêm thấm thía rằng đêm thứ một trăm không chỉ là cuộc đấu với một vong hồn, mà còn là cuộc đấu với thời tiết, với sự mệt mỏi của người sống, với từng chi tiết nhỏ nhất của một ngôi nhà quê nghèo nàn đã cũ. Thắng được, là thắng bằng tổng hòa của tất cả những chuẩn bị tỉ mỉ ấy, chứ không phải bằng một thanh kiếm thần kỳ nào vung lên là xong chuyện.

Đêm học trận cuối cùng, khi mọi thứ đã bày xong mẫu trên chiếu, thầy Mùi thu dọn đồ nghề, ngồi uống với Tư một bát nước chè đã nguội, rồi dặn một điều cuối cùng, dặn bằng giọng rất chậm và rất nghiêm, nghiêm hơn mọi lời dặn về trận pháp trong những ngày qua, đến mức Tư biết đây mới là điều quan trọng nhất của cả đêm hẹn sắp tới.

Trước khi chia tay buổi học trận cuối cùng ấy, thầy Mùi còn bắt Tư nhắc lại toàn bộ thứ tự công việc của đêm hẹn theo đúng trình tự thời gian, từ lúc mặt trời lặn đến lúc gà gáy sáng, không được sai một bước. Đầu giờ Tuất, đóng cổng ngõ, vẽ lại cung vôi lần cuối ở cả ba ngưỡng cửa khi trời còn đủ sáng để nhìn rõ nét. Đầu giờ Hợi, giăng lưới dâu, đặt Khang vào tâm trận đồ, thắp đèn đủ dầu cháy đến sáng, kiểm tra kiếm và vị trí đứng của từng người. Từ giờ Tý đến giờ Dần là quãng nguy hiểm nhất, mọi người phải tỉnh táo tuyệt đối, không ai được ngủ gật dù chỉ một khắc. Sau giờ Dần, nếu đứa bé còn yên, coi như đã qua được phần khó nhất, nhưng vẫn không ai được mở cửa hay ra khỏi buồng cho đến khi mặt trời lên hẳn và thầy đích thân kiểm tra lại toàn bộ trận một lượt. Tư nhắc lại rành rọt từng bước, thầy nghe xong gật đầu hài lòng, bảo ông đã sẵn sàng về mặt bài vở, còn can đảm đến đêm thật sẽ rõ, và can đảm của một người cha trong đêm ấy không ai tập thay được, cũng không ai mượn được của người khác.

- Đêm ấy, dù nghe tiếng ai gọi ngoài cửa, cũng không được mở. Nó sẽ gọi bằng giọng mẹ anh, giọng vợ anh, giọng tôi, giọng bất cứ ai mà anh tin nhất. Nó gọi để anh mở cửa, phá cung vôi, rối trận của cả nhà trong đêm quan trọng nhất này. Anh mở cửa một lần là mất con ngay trong đêm ấy. Nhớ lấy cho kỹ. Không mở, không đáp, không ra ngoài, dù ngoài cửa có cháy nhà cũng không mở cho đến khi trời sáng hẳn và tôi tự tay kiểm tra lại trận xong xuôi rồi mới được mở.

Chương khác

Xem thêm