Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 32: Mảnh Chiếu Rách Ở Bãi Tha Ma

Có tên tuổi Gấm và lời chứng của bà Tạ, Tư vẫn cần một bằng chứng vật chất để đến lúc nói ra giữa họ không ai bảo ông dựng chuyện. Bằng chứng mạnh nhất…

Nội dung chương

Có tên tuổi Gấm và lời chứng của bà Tạ, Tư vẫn cần một bằng chứng vật chất để đến lúc nói ra giữa họ không ai bảo ông dựng chuyện. Bằng chứng mạnh nhất theo lời bà Tạ là ngôi mộ của Gấm ở bãi tha ma cuối làng, nơi chôn cô năm 1884 với chiếc vòng bạc trên cổ tay. Nếu tìm được mộ, đào được đúng vị trí, thấy được hài cốt và vòng bạc, thì mọi lời phủ nhận của ông Cừ sẽ sụp đổ ngay lập tức. Thầy Mùi nghe ý định của Tư thì không ngăn, chỉ dặn phải làm bí mật, làm ban đêm, làm một mình hoặc với người thật sự tin cẩn, và chỉ đào thử một góc nhỏ để xác định vị trí, tuyệt đối không đào bới tung tóe mồ mả người ta khi chưa được họ và làng cho phép, kẻo mang tội và làm hỏng cả việc lớn về sau.

Đêm cuối tháng tám, trời không trăng, Tư mang theo cuốc nhỏ, đèn dầu có chụp che gió và cuốn sổ ghi lời bà Tạ mô tả vị trí mộ: bãi tha ma cuối làng, phía gần gốc gạo già, cách bờ ruộng nhà họ Đinh cũ chừng hai mươi bước về phía sông, đất thấp hơn xung quanh một ít vì mộ không được đắp cao. Ông đi một mình qua con đường tắt sau làng, qua những nấm mộ vô danh cỏ mọc um tùm, tiếng dế và tiếng ếch kêu râm ran trong đêm ẩm. Bãi tha ma về đêm lạnh hơn hẳn trong làng, hơi đất bốc lên lành lạnh dù trời đang cuối hè nóng bức. Tư thắp một nén hương ở gốc gạo già, khấn khẽ xin phép người nằm dưới đất cho mình đào tìm một người đã mất dấu, khấn cả tên Đinh Thị Gấm, nói rõ mình là con cháu họ Ngô đến tìm cô để trả lại tên tuổi cho cô, không phải đến phá mồ phá mả. Khấn xong, ông bắt đầu đào ở vị trí bà Tạ mô tả, đào rất chậm, rất cẩn thận, từng lớp đất mỏng một, tay luôn sẵn sàng dừng lại khi cuốc chạm vào bất cứ thứ gì không phải đất đá thông thường.

Ông đào đến gần nửa đêm thì cuốc chạm vào một lớp đất khác màu, đen hơn, lẫn tro và những mảnh vụn đã mục. Đào sâu thêm một chút nữa, ông thấy một góc chiếu cói đã rách nát, mục đến mức chạm vào là vụn ra thành bụi, đúng loại chiếu dùng để liệm người chết nghèo ngày xưa. Tim Tư đập thình thịch. Ông gạt đất bằng tay, mở rộng hố đào sang hai bên, hy vọng tìm thấy hài cốt hoặc ít nhất là chiếc vòng bạc mà bà Tạ nói. Nhưng càng đào rộng, ông càng thấy rõ một sự thật lạnh người: dưới lớp đất này không có hài cốt nào cả. Không xương người, không vòng bạc, không vải liệm ngoài mảnh chiếu rách ấy. Lớp đất ở đây đã bị xáo trộn từ lâu, có dấu đào cũ, lấp lại vội vàng, như thể ngôi mộ này từng bị ai đó đào lên một lần nữa sau khi chôn. Thứ nằm trong mộ đã bị mang đi nơi khác từ rất lâu rồi, lâu đến mức đất đã liền lại thành một lớp gần như tự nhiên, chỉ còn mảnh chiếu rách sót lại ở đáy hố làm nhân chứng câm lặng cho một ngôi mộ từng tồn tại.

Tư ngồi bên hố đào rất lâu, đèn dầu cháy leo lét trong chụp che gió. Ông đào thêm một góc thứ hai cách đó mấy bước, theo hướng bà Tạ nói có thể bà nhớ lệch vị trí vì đã hơn năm mươi năm. Góc thứ hai chỉ có đất ruộng bình thường và một chiếc cúc áo bằng đồng đã xanh rỉ, không biết của ai, nằm lẫn trong đất từ bao giờ. Ông lấp lại cả hai hố đào cẩn thận như cũ, giẫm đất cho phẳng, rải cỏ lên trên che dấu vết, rồi ngồi lại dưới gốc gạo già đến gần sáng mới về nhà, người ướt sương, tay chân bẩn đất, lòng nặng trĩu một nỗi thất vọng không nói thành lời.

Suốt dọc đường từ bãi tha ma về nhà trong sương sớm, Tư cứ nghĩ mãi về mảnh chiếu rách và chiếc cúc áo đồng. Mảnh chiếu chứng tỏ ở đó từng có một người chết được liệm qua loa và chôn xuống thật. Chiếc cúc áo đồng, theo kiểu dáng cũ mà Tư còn nhớ từ áo của người ở trong các nhà giàu ngày trước, có thể là cúc áo của chính người đã chôn Gấm, đánh rơi trong lúc lấp đất vội vàng giữa đêm không trăng, hoặc là cúc áo của người đã đào mộ Gấm lên sau này và mang hài cốt đi nơi khác. Dù là của ai, hai vật nhỏ bé ấy cộng với lời chứng của bà Tạ đã đủ để Tư tin chắc một điều: ngôi mộ ở bãi tha ma từng là mộ thật, và việc nó trống rỗng hiện nay là do bàn tay người sống gây ra, không phải do trí nhớ của một bà lão mù tám mươi tuổi nhớ sai sau hơn năm mươi năm. Người sống đã đào Gấm lên một lần. Người sống cũng có thể đã chôn cô lại ở một nơi khác kín đáo hơn, gần nhà tổ hơn, dễ canh giữ hơn, và nơi ấy, nghĩ đi nghĩ lại, Tư không tìm ra chỗ nào hợp lý hơn đáy giếng sau vườn nhà tổ, cái giếng bị đậy đá qua ba đời trưởng họ và vừa được thay đá mới ngay trước khi con ông chào đời.

Ông cũng tự hỏi vì sao người ta phải đào Gấm lên khỏi bãi tha ma và mang về giấu ở đáy giếng. Có thể vì bãi tha ma là đất công của làng, ai đi qua cũng thấy, mộ dù không bia vẫn có người để ý, nhất là khi những chuyện lạ bắt đầu xảy ra trong nhà tổ những năm sau đó. Mang hài cốt về giấu trong đất nhà mình, dưới một miệng giếng thờ cúng không ai dám động vào, là cách giấu kín nhất mà một dòng họ có quyền thế trong làng có thể nghĩ ra ở thời ấy. Giấu như thế, người chết vừa không được siêu thoát vì không có thờ cúng tử tế, vừa không được yên nghỉ vì hài cốt bị ngâm trong nước giếng lạnh quanh năm, oán khí vì thế mà tích lại đời này qua đời khác, cho đến đời Tư thì bùng lên thành những cái chết đúng ngày trăm ngày của ba đứa trẻ vô tội. Tư nghĩ đến đó mà rùng mình. Ông thương Gấm thêm một bậc nữa sau đêm đào mộ thất bại này: người đàn bà ấy chết đã khổ, chết rồi còn bị người ta đào lên, mang đi, giấu xuống đáy nước lạnh thêm mấy chục năm nữa, không một nén hương, không một cái tên, không một lời xin lỗi nào từ chính dòng họ đã gây ra cái chết của cô.

Về đến nhà, ông kể lại cho thầy Mùi nghe ngay trong buổi sáng hôm sau ở gian kho sau đình. Thầy Mùi nghe xong không ngạc nhiên như Tư tưởng. Ông im lặng một lúc, rồi chậm rãi phân tích: mộ trống không có nghĩa là bà Tạ nói sai, cũng không có nghĩa là Gấm không từng được chôn ở đó. Nó có nghĩa là hài cốt của Gấm đã không còn nằm ở bãi tha ma nữa. Có ai đó, vào một thời điểm nào đó trong hơn năm mươi năm qua, đã đào mộ cô lên và mang hài cốt đi nơi khác. Mang đi đâu, thầy chưa biết. Nhưng thầy nhắc Tư nhớ lại một chi tiết mà cả nhà đã thấy tận mắt: miệng giếng sau nhà tổ bị đậy đá từ đời cụ Hoành, phiến đá cũ nứt lại được thay bằng phiến đá mới ngay khi có tin Khang sắp sinh. Nếu hài cốt không ở bãi tha ma, thì nơi khả nghi nhất còn lại trong đất nhà họ Ngô chính là đáy cái giếng bị bịt kín ấy. Thầy nói đến đó thì dừng lại, nhìn Tư rất lâu, không nói tiếp nữa, vì cả hai người đều hiểu bước tiếp theo nguy hiểm đến mức nào: muốn kiểm chứng đáy giếng, phải động vào đất nhà tổ, phải đối đầu trực diện với ông Cừ và cả họ, và lần đối đầu ấy sẽ không còn là lời nói qua lại trong gian giữa nữa.

Tư về nhà, ghi vào sổ trang ngày hôm ấy một dòng ngắn mà tay ông run khi viết, rồi ông ngồi nhìn ra vườn sau, nhìn ba nấm mộ con dưới gốc ổi, và nói khẽ với Mây một câu chỉ đủ cho hai vợ chồng nghe, một câu vừa là kết luận của đêm đào mộ thất bại, vừa là lời mở đầu cho trận chiến công khai sắp tới với cả dòng họ.

Mây nghe chồng kể xong thì ngồi lặng đi rất lâu, tay ôm con mà mắt nhìn ra cửa sổ buồng, nơi năm vết cào trên bậu cửa vẫn còn nguyên như một lời nhắc nhở hàng ngày. Bà hỏi Tư một câu mà ông phải nghĩ một lúc lâu mới trả lời được: nếu hài cốt cô Gấm thật sự nằm dưới đáy giếng nhà tổ, thì bấy lâu nay, mỗi lần họ nhà mình cúng giỗ ở nhà tổ, múc nước giếng ấy lên nấu cỗ, thắp hương khấn vái tổ tiên, có phải là họ đang cúng giỗ ngay trên đầu một người đàn bà chết oan mà họ cố tình quên đi hay không. Tư gật đầu, bảo đúng là như thế, và chính sự trớ trêu tàn nhẫn ấy là thứ làm món nợ này không thể hóa giải bằng cúng bái qua loa được. Phải mở giếng ra, phải đưa người ta lên khỏi mặt nước lạnh, phải gọi đúng tên người ta giữa ban ngày, thì mọi lễ cúng sau này của họ Ngô mới có ý nghĩa thật sự. Còn chừng nào giếng còn bị bịt đá, mọi mâm cỗ cúng giỗ ở nhà tổ đều là cỗ cúng đặt trên một nấm mồ bị giấu, và người sống ăn cỗ ấy không thể yên lòng được lâu dài.

- Mộ cô Gấm ở bãi tha ma trống không, mình ạ. Người ta đào cô lên mang đi từ lâu rồi. Chỉ còn lại một mảnh chiếu rách và một chiếc cúc áo đồng dưới lớp đất thôi.

Chương khác

Xem thêm