Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 33: Tôi Nhớ

Chuyện Tư đào bãi tha ma ban đêm không giấu được quá ba ngày. Một người đi soi ếch ban đêm ở cuối làng đã nhìn thấy ánh đèn dầu le lói ở gốc gạo già và…

Nội dung chương

Chuyện Tư đào bãi tha ma ban đêm không giấu được quá ba ngày. Một người đi soi ếch ban đêm ở cuối làng đã nhìn thấy ánh đèn dầu le lói ở gốc gạo già và bóng người đào đất, về làng kể lại, lời đồn đi qua mấy người đã thành chuyện thầy đồ Tư đào mồ đào mả tìm vàng của người chết. Đến tai ông Cừ, đó là cái cớ hoàn hảo mà ông chờ đợi bấy lâu để ra tay quyết định với người cháu cứng đầu này. Ông cho gọi họp họ ở đình làng vào một buổi sáng đầu tháng chín, gọi đủ các chi trong họ Ngô, mời cả lý trưởng và mấy cụ già có tiếng nói trong làng đến chứng kiến. Nội dung họp ghi rõ trong giấy mời gửi đến tận nhà Tư bằng người cháu họ trông nhà tổ: xét việc Ngô Văn Tư đào bới bãi tha ma, bôi nhọ dòng họ, rước thầy pháp ngoại lai gây mất trật tự làng xóm, đề nghị trục xuất khỏi họ và khỏi làng nếu không chịu nhận lỗi và chấm dứt mọi việc đang làm.

Tư đến đình với cuốn sổ ghi lời chứng, cuốn gia phả thiếu trang, mảnh chiếu rách và chiếc cúc áo đồng tìm được ở bãi tha ma gói trong khăn tay. Ông biết đây là một phiên họp đã định sẵn kết quả: họ sẽ dồn ông vào thế hoặc quỳ xuống nhận lỗi, từ bỏ việc tìm Gấm và đuổi thầy Mùi khỏi làng, hoặc bị trục xuất, mất nhà, mất đất, mất cả tư cách người họ Ngô để đứng ra lo cho con trong đất họ nữa. Mây ở nhà lo đến phát khóc, xin chồng đừng đi, bảo họ đông người, họ có quyền, một mình ông không cãi lại được đâu. Tư nắm tay vợ, bảo ông phải đi. Không đi là mặc nhận mọi tội họ gán cho. Đi, dù thua, ông cũng phải nói được tên Gấm ra giữa sân đình một lần, trước mặt cả họ và cả làng, để từ nay cái tên ấy không còn bị bịt kín trong nhà tổ nữa.

Sân đình hôm ấy đông chưa từng có trong một buổi họp họ thường. Người họ Ngô ngồi thành vòng ở gian giữa và hiên đình, dân làng đứng chật ngoài sân xem. Ông Cừ ngồi ghế cao nhất, mặc áo gấm, giọng sang sảng đọc từng tội của Tư: bán ruộng hương hỏa, rước thầy pháp, đồn chuyện ma quỷ, đào bãi tha ma ban đêm, làm cả làng hoang mang, làm họ Ngô mang tiếng với làng trên xóm dưới. Đọc xong, ông hỏi Tư có nhận lỗi không, có hứa từ nay chấm dứt, đuổi thầy pháp về làng Thượng, không nhắc chuyện người chết giếng nữa không. Cả sân đình im lặng nhìn về phía người thầy đồ gầy gò đứng giữa sân, áo the đã sờn, tay ôm một bọc khăn nhỏ, mặt hốc hác vì nhiều đêm mất ngủ.

Trước khi Tư kịp lên tiếng đáp lại những tội danh vừa đọc, người cháu họ trông nhà tổ đã đứng ra nói thêm một tràng dài về việc thầy đồ Tư làm mất mặt họ đến mức nào ở làng trên xóm dưới, rằng trẻ con trong họ đi học bị bạn bè trêu là nhà có ma. Con gái trong họ sắp đến tuổi gả chồng cũng bị nhà trai e ngại vì sợ dính vào dòng họ có nghiệp. Những lời ấy đánh vào đúng chỗ đau của nhiều người trong họ đang ngồi nghe, làm không khí sân đình càng thêm nặng nề và bất lợi cho Tư. Có người gật đầu theo, có người thở dài, có người nhìn Tư bằng ánh mắt trách móc thật sự chứ không còn là ác cảm do ông Cừ xúi giục nữa. Tư đứng nghe hết, không ngắt lời ai, vì ông hiểu những thiệt thòi ấy của họ hàng là có thật, và muốn họ đứng về phía mình, ông không thể phủ nhận nỗi khổ của họ, ông chỉ có thể chỉ ra cho họ thấy gốc rễ thật sự của mọi thiệt thòi ấy không nằm ở việc ông đào bới chuyện cũ, mà nằm ở chính món nợ cũ chưa ai chịu trả kia. Khi người cháu họ nói xong, sân đình im lặng trở lại, mọi ánh mắt đổ dồn về phía ông Cừ chờ ông kết luận, và cũng đổ dồn về phía Tư chờ xem người thầy đồ gầy gò ấy còn gì để nói trước khi bị trục xuất khỏi họ ngay giữa sân đình quê mình.

Tư không nhận lỗi. Ông bước lên một bước, đứng giữa sân đình, và làm một việc mà không một ai trong họ, kể cả ông Cừ, ngờ tới. Ông đọc to tên Đinh Thị Gấm. Ông đọc to từng chữ, rõ ràng, vang khắp sân đình trong buổi sáng im gió: Đinh Thị Gấm, vợ lẽ của cụ cố nội Ngô Đình Hoành, chết dưới giếng sau nhà tổ năm 1884, bị xóa tên khỏi gia phả, chôn vội ngoài bãi tha ma không bia không mộ. Rồi ông giơ cao cuốn gia phả thiếu trang, giơ mảnh chiếu rách và chiếc cúc áo đồng, và ông hỏi cả họ, hỏi to đến mức người đứng ngoài cổng đình cũng nghe rõ từng lời.

- Tôi hỏi cả họ, hỏi các cụ, các bác, các anh em họ Ngô có mặt ở đây hôm nay. Ai còn nhớ người đàn bà ấy? Ai còn nhớ cô Gấm bị đánh què một chân, chết giếng năm xưa? Nhớ thì nói một tiếng. Không nhớ thì tôi xin ghi vào sổ là cả họ này đã quên sạch một mạng người trong chính nhà mình rồi.

Sân đình lặng ngắt như tờ sau câu hỏi ấy. Không một ai đứng lên. Ông Cừ ngồi trên ghế cao, mặt sầm xuống, tay nắm chặt thành ghế. Giây phút ấy dài như một canh giờ đối với Tư. Ông đứng giữa sân, tay vẫn giơ cao cuốn gia phả, lòng chìm dần xuống khi sự im lặng kéo dài thêm từng khắc một. Ông đã thua, ông nghĩ. Thua thật rồi. Cả họ này, vì sợ, vì danh dự, vì lời thề của những người đã chết, sẽ im lặng nhìn ông bị trục xuất, im lặng nhìn đứa con thứ tư của ông đi vào đêm thứ một trăm một mình, như họ đã im lặng suốt năm mươi hai năm qua trước cái chết của một người đàn bà trẻ.

Đúng lúc ông Cừ ho khan, định lên tiếng kết thúc buổi họp, thì ở hàng ghế phía sau, giữa đám các cụ bà và họ hàng nhà ngoại đến chứng kiến, một người đàn bà già chống tay vào thành ghế, đứng dậy rất chậm vì chân yếu. Đó là bà Đặng Thị Sen, bà ngoại của Khang, mẹ của Mây, người đã vẽ Trận Cung Vôi cho cả bốn lần sinh nở của con gái mình. Bà đứng giữa sân đình đông nghịt người, nhìn thẳng về phía ông trưởng họ, và nói bằng giọng già nua mà rõ ràng, dứt khoát, vang khắp sân đình không thua gì giọng Tư vừa rồi.

- Tôi nhớ.

Hai chữ ấy rơi xuống sân đình như một hòn đá rơi xuống mặt giếng sâu. Cả sân xôn xao hẳn lên. Bà Sen nói tiếp, tay run mà giọng không run: bà nhớ năm bà còn là con gái mới về làng này làm dâu nhà ngoại, người làng đã cấm trẻ con ra vườn sau nhà tổ, đã dọa nhau về người đàn bà chết giếng đi khập khiễng trong đêm mưa. Bà nhớ mẹ bà dặn, nhà họ Ngô có một người vợ lẽ chết oan không được thờ, sau này con cháu nhà ấy có bề gì về trẻ con thì đừng lạ. Bà giữ những lời ấy trong bụng mấy chục năm, nay thấy chắt ngoại của bà sắp đến ngày hẹn, bà không giữ nữa. Bà nói, bà già rồi, chết cũng đến nơi, bà không sợ trục xuất, không sợ mang tiếng, bà chỉ sợ xuống dưới đất gặp người đàn bà ấy mà không dám nhìn mặt người ta.

Sau hai chữ tôi nhớ của bà Sen, sân đình không còn im lặng được nữa. Tiếng xì xào nổi lên như ong vỡ tổ. Một cụ già trong họ, ngồi ở hàng ghế thứ hai, chống gậy đứng lên nói tiếp rằng cụ cũng lờ mờ nhớ chuyện năm xưa, nhớ tiếng khóc ở vườn sau nhà tổ trong những đêm mưa tháng bảy, nhớ lệnh cấm trẻ con bén mảng ra giếng sau mà người lớn không bao giờ giải thích lý do. Một người đàn bà trung niên trong họ bật khóc, bảo bà từng nghe mẹ mình kể về cô Gấm hát hay ở sân đình, bà cứ tưởng đó là chuyện cổ tích mẹ bịa ra cho con ngủ, hóa ra là người thật việc thật trong chính họ nhà mình. Ông Cừ ngồi trên ghế cao, mặt lúc đỏ lúc tái, mấy lần định giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng mà tay giơ lên rồi lại hạ xuống. Ông nhận ra một điều mà cả đời làm trưởng họ ông chưa từng đối mặt: khi sự thật đã có người đầu tiên dám nói ra giữa chỗ đông người, thì uy quyền của một cá nhân, dù là trưởng họ, cũng không còn đủ sức bịt miệng tất cả mọi người cùng một lúc nữa. Bức tường im lặng ông gìn giữ mấy chục năm đã nứt một đường dài ngay giữa sân đình, trước mặt lý trưởng, trước mặt dân làng, và đường nứt ấy sẽ không bao giờ liền lại được như cũ.

Tư đứng giữa sân, tay vẫn cầm cuốn gia phả thiếu trang, mà nước mắt đã chảy dài xuống má từ lúc nào ông không hay. Ông không khóc vì mừng thắng một buổi họp họ. Ông khóc vì cuối cùng, sau năm mươi hai năm, cái tên Đinh Thị Gấm đã được nhắc lại giữa làng bằng giọng của những người sống, và có người dám đứng lên nhận là mình còn nhớ. Đối với người chết, được nhớ lại đúng tên tuổi của mình có lẽ là bước đầu tiên của mọi sự siêu thoát. Đối với người sống như ông, đó là bằng chứng rằng mình không đơn độc, không điên, không bịa chuyện, và con đường ông đang đi, dù còn phải qua một đêm thứ một trăm khủng khiếp nữa, là con đường đúng, con đường duy nhất có thể cứu được con ông và cứu được cả danh dự thật sự của dòng họ này về lâu dài.

Ông Cừ ngồi chết lặng trên ghế cao. Buổi họp họ để trục xuất Tư, trong khoảnh khắc ấy, đã đổi chiều hoàn toàn mà không ai kịp ngăn lại.

Chương khác

Xem thêm