Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 35: Giếng Sôi Đêm Chín Mươi Lăm

Chỉ còn năm ngày nữa là đến đêm thứ một trăm. Từ sau buổi họp họ ở đình, thầy Mùi không còn phải trú lén trong gian kho sau đình nữa. Ông dọn hẳn vào ở…

Nội dung chương

Chỉ còn năm ngày nữa là đến đêm thứ một trăm. Từ sau buổi họp họ ở đình, thầy Mùi không còn phải trú lén trong gian kho sau đình nữa. Ông dọn hẳn vào ở nhà Tư, ở gian giữa, ngay cạnh buồng đẻ, tay nải và đồ nghề bày ngay ngắn trên án thư cũ của Tư. Việc thầy pháp công khai ở lại nhà thầy đồ là một tuyên bố không lời với cả làng: nhà này không lùi nữa, trận đêm trăm ngày sẽ diễn ra ở đây, có thầy, có kiếm, có lưới dâu, có trận đồ, và có cả một người cha đã dám đọc tên người chết giữa sân đình. Dân làng qua lại thấy khói hương nhà Tư thắp đều mỗi tối, thấy Tư và thầy Mùi ngày ngày kiểm tra cung vôi, phơi cành dâu, mài chu sa, thì người tin càng tin, người sợ càng sợ, nhưng không ai còn dám nói nhà thầy đồ bịa chuyện nữa.

Ông Cừ, sau buổi họp họ bị hoãn, không đến nhà Tư, cũng không cho người sang gây sự như trước. Nhưng ông ra một lệnh mới lạnh lùng hơn: cho người canh cổng làng và canh cả con đường từ làng lên nhà tổ, ngày đêm có trai đinh túc trực, nói là để giữ trật tự trong những ngày làng có chuyện, thực chất là cắt đứt mọi đường tiếp cận nhà tổ của Tư và thầy Mùi. Ai muốn lên nhà tổ phải qua mặt người canh, phải trình bày lý do, và nhà Tư thì đương nhiên không có lý do nào được chấp nhận. Giếng nhà tổ, nơi Tư tin là chỗ giấu hài cốt thật của Gấm sau khi mộ bãi tha ma bị đào trống, vì thế vẫn nằm ngoài tầm tay ông, sau một phiến đá mới và sau cả một vòng người canh gác của trưởng họ. Tư biết điều đó và ông ghi vào sổ một dòng đầy cay đắng: lớp việc thứ nhất đã sẵn sàng, lớp việc thứ hai còn thiếu bước cuối cùng quan trọng nhất, mà bước ấy lại nằm sau cánh cổng nhà tổ đóng kín và sau lưng ông trưởng họ chưa chịu khuất phục.

Năm ngày cuối cùng trôi qua trong một nhịp sống căng như dây đàn. Ban ngày, cả nhà chuẩn bị: bà Sen vẽ lại cung vôi ở cả ba ngưỡng cửa, vẽ đi vẽ lại đến khi nét nào cũng liền và sắc. Bà Lựu kết lại lưới cành dâu một lần cuối, thay những cành đã héo, buộc lại từng nút chỉ đỏ bằng tay mình. Mây, dù người còn yếu, vẫn tự tay giặt sạch bộ quần áo cho Khang mặc trong đêm hẹn, tự tay khâu lại đường chỉ ở cổ áo cho chắc, như một người mẹ chuẩn bị cho con ra trận mà vũ khí duy nhất của bà là tình thương và thân mình che chắn. Tư và thầy Mùi tập lại trận một lần cuối trong buồng đẻ thật, với giường thật, lưới thật, kiếm thật, tập cả trong bóng tối hoàn toàn khi đèn bị thổi tắt bất ngờ, tập cả khi Khang khóc thật giữa buổi tập làm cả nhà rối lên, để đêm hẹn thật sự đến, không một sự cố nào còn là bất ngờ hoàn toàn nữa.

Khang trong những ngày cuối này lớn trông thấy, đã nặng cân hơn hẳn, biết lẫy thành thạo, biết cười thành tiếng khi cha bế lên cao. Vết bớt trên trán nó vẫn đen sẫm, không nhạt đi một chút nào, như một con dấu đóng sẵn cho một cuộc hẹn mà cả nhà đang đếm ngược từng giờ để phá bỏ. Tư ghi sổ đến ngày thứ chín mươi tư thì dừng lại một lúc rất lâu trước khi viết con số chín mươi lăm. Ông viết chậm, nắn nót, như viết một cái mốc mà sau này, dù kết quả đêm hẹn ra sao, ông cũng sẽ quay lại đọc trang này nhiều lần. Còn năm ngày. Một trăm hai mươi giờ. Ít hơn một tuần trăng khuyết. Cả đời làm thầy đồ, ông chưa từng thấy năm ngày nào dài và ngắn cùng một lúc như năm ngày này: dài vì từng giờ chờ đợi đều nặng như một ngày, ngắn vì bao nhiêu việc phải làm mà nhìn lại vẫn thấy chưa đủ, chưa yên tâm ở bất cứ khâu nào.

Trong năm ngày cuối ấy, có một việc nhỏ mà Tư làm mỗi sáng sớm trước khi cả nhà thức dậy: ông ra vườn sau, đứng trước ba nấm mộ con dưới gốc ổi, thắp một nén hương và nói khẽ với ba đứa con đã mất rằng cha đang làm hết sức mình cho em của chúng. Nếu đêm thứ một trăm này em chúng ở lại được, cha sẽ xây lại mộ cho cả ba anh em tử tế, đặt một tấm bia chung, và mỗi rằm tháng bảy sẽ cúng cơm cho cả bốn anh em cùng một mâm như một nhà đông con thật sự. Ông nói những lời ấy không phải để cầu xin ma quỷ, mà để tự nhắc mình nhớ vì sao mình phải thắng, hoặc ít nhất phải chiến đấu đến cùng trong đêm hẹn sắp tới. Ba nấm mộ nhỏ nằm im dưới tán ổi đang ra quả non, hương khói bay là là trong sương sớm, và mỗi lần đứng ở đó quay vào nhà, nhìn ánh đèn dầu trong buồng vợ con còn cháy, Tư lại thấy bước chân mình vững thêm một chút. Dù trong lòng ông biết rõ đêm thứ một trăm có thể lấy đi của ông tất cả, kể cả đứa con cuối cùng này, nếu một khâu nào trong trận pháp sơ sẩy, hoặc nếu món nợ đời trước nặng hơn mọi sự chuẩn bị của người sống.

Mây trong những ngày cuối cũng thay đổi hẳn. Bà không còn khóc lén như những tuần trước. Bà ăn uống điều độ theo lời bà Lựu dặn để lấy sức cho đêm hẹn, ngày ngày tự tay chuẩn bị mọi thứ cho con, và buổi tối nào bà cũng ngồi bên giường kể chuyện thầm thì cho Khang nghe, kể về ba người anh của nó nằm dưới gốc ổi, kể về người bà ở giếng sau mà sau này lớn lên nó phải biết tên. Bà kể bằng giọng rất nhẹ, rất bình tĩnh, như thể bà đã đi qua hết mọi nỗi sợ và đến được một nơi trong lòng mà chỉ còn lại tình thương và quyết tâm mà thôi. Tư nghe vợ kể chuyện cho con vào những đêm cuối ấy mà nhiều lần phải ra hiên đứng một mình cho khuây, vì ông biết nếu đêm hẹn có chuyện gì xảy ra với Khang, những lời kể thầm thì này sẽ là thứ còn lại cuối cùng của một người mẹ dành cho đứa con thứ tư của mình, và ông không cho phép mình nghĩ tiếp đến khả năng ấy trong những ngày này nữa.

Đêm ngày thứ chín mươi lăm, mười một tháng chín, trời không mưa mà nóng bức lạ thường, gió sông cũng ngừng thổi từ chập tối. Cả nhà Tư vừa ăn xong bữa cơm đạm bạc thì ông Từ đình hớt hải chạy sang, áo còn chưa cài hết cúc, tay cầm đèn bão, mặt tái mét, nói không kịp thở. Ông bảo người làng ở xóm trên vừa chạy xuống đình báo một chuyện lạ chưa từng có trong mấy chục năm ông giữ đình ở làng này, một chuyện xảy ra ở nhà tổ họ Ngô, ngay giữa vườn sau, nơi không một người ngoài nào được bén mảng tới từ khi ông Cừ ra lệnh canh cổng.

- Giếng sau nhà tổ sôi nước, ông Từ nói, giọng run lên vì sợ và vì chạy vội. Trời không mưa, không động đất, không ai động vào phiến đá. Nước trong giếng tự nhiên sôi lên ùng ục, hơi nóng bốc qua khe đá, người canh cổng nghe tiếng nước sôi từ ngoài vườn, chạy vào xem thì thấy phiến đá rung lên nhè nhẹ như nắp vung trên nồi nước đang sôi mạnh. Ông Cừ đã ra tận nơi, mặt cắt không còn giọt máu, đuổi hết người canh về, đóng cổng nhà tổ lại, một mình ở trong ấy với cái giếng đang sôi.

Tư và thầy Mùi nhìn nhau trong gian nhà im phăng phắc. Thầy Mùi đặt bát nước xuống bàn rất khẽ, đứng dậy, đi ra hiên, nhìn về hướng nhà tổ trong bóng đêm đen đặc không trăng không sao. Một lúc lâu sau, ông mới quay vào, nói bằng giọng trầm và chắc, giọng của người thầy pháp đã biết trận cuối thật sự bắt đầu từ khoảnh khắc này chứ không phải từ đêm thứ một trăm như cả nhà vẫn tính.

Tin giếng sôi lan ra khắp làng Hạ Trạch ngay trong đêm ấy, dù ông Cừ đã đuổi hết người canh về và đóng cổng nhà tổ. Người làng kể cho nhau nghe bằng giọng thì thầm đầy sợ hãi ở các ngõ tối, rằng nước giếng nhà tổ sôi suốt gần một canh giờ mới lặng dần, rằng sáng hôm sau phiến đá trên miệng giếng vẫn còn ấm tay khi người ở trong nhà tổ lén sờ thử, rằng ông trưởng họ cả đêm không ngủ, ngồi một mình ở gian giữa nhà tổ nhìn về phía vườn sau cho đến tận khi gà gáy. Tư nghe những lời kể ấy qua ông Từ đình vào sáng hôm sau, lòng ông vừa lo vừa có một cảm giác lạ lùng gần như là thương xót cho chính người bác đang đối đầu với mình. Ông Cừ, trong đêm giếng sôi ấy, đã phải một mình đối diện với thứ mà ông chôn giấu suốt mấy chục năm, không thầy pháp bên cạnh, không con cháu dám đến gần, chỉ có một mình ông và tiếng nước sôi ùng ục dưới phiến đá trong vườn sau đen tối. Tư tự hỏi không biết sau đêm ấy, bức tường cứng rắn trong lòng ông trưởng họ có nứt thêm được một đường nào nữa không, và liệu đến lúc việc không còn đường lùi, ông Cừ có chịu mở cánh cổng nhà tổ ra như cách duy nhất để cứu lấy danh dự thật sự của dòng họ này hay không.

- Nó động rồi. Giếng sôi là điềm người nằm dưới nước không yên nữa. Tên nó đã được gọi ra giữa đình, vật của nó đã về tay người sống, cả làng đã có người dám nhớ đến nó. Nó biết chỉ còn năm ngày nữa là đến hẹn, và nó cũng biết nhà anh đã sẵn sàng hơn mọi lần trước. Nó sôi nước lên là để báo cho cả nhà tổ biết, cho cả ông trưởng họ đang ngồi một mình trong ấy biết, rằng món nợ năm mươi hai năm này, đến lúc phải mở nắp ra rồi, không bịt thêm được nữa đâu.

Chương khác

Xem thêm